Nguyễn Thị Diệp Chi
Giới thiệu về bản thân
Câu 1:
Sự khác biệt là điều vốn có của cuộc sống, không có hai người nào hoàn toàn giống hệt nhau về tư duy, lối sống hay quan điểm giá trị. Tôn trọng sự khác biệt không chỉ là nét lịch sự, mà còn là nền tảng để xây dựng mối quan hệ xã hội lành mạnh, giúp mỗi người giữ được sự tự do cá nhân.Nhiều người có thói quen dùng tiêu chuẩn cá nhân để phán xét, đánh giá người khác, khiến bản thân rơi vào tình trạng giam cầm trong tấm lưới định kiến. Khi chúng ta học cách tôn trọng sự khác biệt, chúng ta sẽ bỏ qua những sự không hoàn hảo nhỏ, thay vào đó mở rộng tầm nhìn, học hỏi những điều tốt đẹp từ những người có cách nhìn khác. Tôn trọng sự khác biệt cũng giúp chúng ta giảm bớt xung đột, xây dựng sự đồng cảm, hiểu biết sâu sắc hơn về thế giới xung quanh.Cuộc sống sẽ trở nên phong phú, đa sắc hơn khi chúng ta chấp nhận và trân trọng những khác biệt, thay vì cố gắng biến mọi người theo đúng chuẩn mực của bản thân. Đây chính là cách chúng ta thể hiện sự tử tế, tôn trọng con người khác, đồng thời bảo vệ quyền tự do của chính mình.
Câu 2:
Lưu Trọng Lư là một trong những gương mặt tiêu biểu của phong trào Thơ Mới, với phong cách trữ tình đượm buồn, lãng mạn và đậm chất hoài niệm. Bài thơ “Nắng mới” là một thi phẩm xuất sắc, là tiếng lòng day dứt của một người con khi hồi tưởng về hình bóng người mẹ đã khuất, được khơi gợi từ những chi tiết rất đỗi bình dị của cuộc sống.
Bài thơ mở đầu bằng những cảm nhận tinh tế về ngoại cảnh, vốn là tín hiệu đánh thức nỗi nhớ sâu thẳm trong lòng nhà thơ. Bốn câu đầu tiên vẽ nên một bức tranh mùa hè yên ả nhưng chất chứa nỗi niềm u hoài:
Mỗi lần nắng mới hắt bên song,
Xao xác, gà trưa gáy não nùng,
Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng,
Chập chờn sống lại những ngày không.
“Nắng mới” là hình ảnh quen thuộc, là khởi nguồn cho cảm xúc. Ánh nắng “hắt bên song” không mang lại sự tươi vui mà lại gợi lên sự “xao xác” của âm thanh “gà trưa gáy não nùng”. Sự kết hợp giữa cái nhìn (nắng hắt) và âm thanh (gà gáy) tạo nên một không gian tĩnh lặng, nặng trĩu, khiến “lòng rượi buồn” dâng lên, cuốn nhà thơ theo “thời dĩ vãng”—quá khứ đã xa. Những kỷ niệm hiện về thật mong manh, “chập chờn”, như những bóng ma của “những ngày không” (những ngày không có mẹ).
Cảm xúc trữ tình chuyển hướng trực tiếp sang đối tượng thương nhớ. Kỷ niệm gắn liền với hình ảnh người mẹ khi người còn tại thế, mà cụ thể là khi nhà thơ còn là một cậu bé:
Tôi nhớ mẹ tôi, thuở thiếu thời
Lúc người còn sống, tôi lên mười;
Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội,
Áo đỏ người đưa trước giậu phơi.
Thời điểm “lên mười” là độ tuổi đẹp đẽ nhất của tuổi thơ, cũng là lúc ký ức về mẹ còn rõ nét. “Nắng mới” giờ đây không còn là tín hiệu buồn mà là một lời gọi, “reo ngoài nội”, gắn liền với hình ảnh người mẹ tần tảo. Chi tiết “Áo đỏ người đưa trước giậu phơi” là một bức tranh sinh hoạt tuyệt mỹ, giàu màu sắc và sức sống. Màu đỏ của chiếc áo nổi bật trên nền không gian quê hương, là biểu tượng cho sự ấm áp, sự hiện diện đầy yêu thương của người mẹ.
Tuy nhiên, ký ức ấy chỉ là sự đối lập với thực tại, nên sự hồi tưởng càng làm nỗi đau thêm day dứt. Hai câu cuối là đỉnh điểm của sự tiếc nuối và nỗi nhớ khắc khoải:
Hình dáng mẹ tôi chửa xoá mờ
Hãy còn mường tượng lúc vào ra:
Nét cười đen nhánh sau tay áo
Trong ánh trưa hè trước giậu thưa.
Hình ảnh người mẹ vẫn “chưa xoá mờ” trong tâm trí con, hiện hữu trong từng cử chỉ, hành động “vào ra”. Chi tiết đắt giá nhất là “Nét cười đen nhánh sau tay áo”. Đó là nụ cười chân chất, mộc mạc, ẩn hiện sau một hành động đời thường, thể hiện tình yêu thương không lời. Việc sử dụng từ “đen nhánh” cho thấy vẻ đẹp giản dị, không tô vẽ, rất chân thực của người phụ nữ nông thôn. Cả một khung cảnh sống động, tươi vui của quá khứ được gói trọn trong cái nhìn đầy hoài niệm dưới “ánh trưa hè trước giậu thưa”.
“Nắng mới” là một bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Lưu Trọng Lư: ngôn ngữ giản dị, hình ảnh gợi cảm và giai điệu buồn man mác. Bài thơ thành công trong việc sử dụng kỹ thuật gợi tả thay vì miêu tả trực tiếp. Nhà thơ không nói về nỗi đau mất mẹ mà để nỗi đau tự hiển hiện qua sự đối lập giữa cái nắng hiện tại và hình bóng quá khứ tươi đẹp. Đây là một khúc ca về tình mẫu tử thiêng liêng, một bài thơ thấm đẫm tình yêu thương và nỗi tiếc nhớ khôn nguôi, chạm đến những rung động sâu kín nhất trong tâm hồn người đọc.
Qua từng câu thơ thấm đẫm tình cảm, Lưu Trọng Lư đã vẽ nên một bức tranh sống động về tình mẫu tử, một thứ tình cảm thiêng liêng và cao quý bậc nhất. “Nắng mới” không chỉ là nỗi nhớ về một người mẹ đã khuất, mà còn là sự suy ngẫm về dòng chảy thời gian, về những gì đã qua và những gì còn lại trong ký ức. Bài thơ đã chạm đến trái tim người đọc bằng sự chân thành, giản dị và vẻ đẹp lãng mạn, để lại dư âm sâu lắng, nhắc nhở chúng ta về giá trị của tình thân và sự trân trọng những khoảnh khắc quý giá bên cạnh những người mình yêu thương.
Câu 1:PTBĐ chính trong văn bản là: nghị luận
Câu 2:Cặp từ, cặp cụm từ đối lập trong đoạn (1) là:”phung phí”-“keo kiệt”;”thích ở nhà”-“ưa bay nhảy”
Câu 3:Tác giả nói “đừng bao giờ phán xét người khác một cách dễ dàng” vì:
+Những lời phán xét một chiều, mang định kiến về người khác, mà không hiểu bối cảnh, hoàn cảnh thực sự của họ không phải là một điều tốt đẹp gì
+Việc phán xét người khác chỉ làm chúng ta mệt mỏi, cạn kiệt năng lượng và dần dần từ đó thành một thói quen xấu và độc hại
+Và hơn hết mỗi người đều có lối sống, quan điểm riêng không ai giống nhau vậy nên việc áp đặt tiêu chuẩn và ý kiến cá nhân của bản thân lên người khác là không công bằng và sai lầm
Câu 4:Ý nghĩa câu nói “Điều tồi tệ nhất là chúng ta chấp nhận buông mình vào tấm lưới định kiến đó” là:
+Việc không chấp nhận sự khác biệt, phán xét người khác theo định kiến sẵn chưa phải là điều xấu nhất. Nhưng nếu chúng ta tự do buông mình vào những định kiến ấy, chúng sẽ dần chi phối suy nghĩ, hành động của bản thân thì đó thật sự mới là thứ huỷ hoại đi cuộc sống của chính chúng ta
+Khi cuộc sống của chính mình bị chi phối bởi những định kiến ấy chúng ta sẽ mất đi sự tự chủ, và rồi sẽ sống theo những quan điểm, ý kiến cá nhân của người khác thay vì theo ý muốn, cảm xúc, suy nghĩ của chính mình và phớt lờ đi lời thầm thì của trái tim
Câu 5: Từ văn bản, em rút ra được thông điệp cho bản thân là:
+Không nên tuỳ tiện áp đặt quan điểm, ý kiến cá nhân của mình mà phán xét, đánh giá người khác một cách dễ dàng
+Không để định kiến của người khác chi phối, hãy tự tin để theo đuổi lối sống và quan điểm cá nhân của mình thay vì sống theo tiêu chuẩn của người khác
Câu1:
Văn bản thuộc thể loại thần thoại
Câu2:
Các từ ngữ và hình ảnh miêu tả con ác thú ở Nê-mê trong văn bản bao gồm:
-To lớn hung dữ gấp mười lần sư tử ở Xi-tê-rông
-Bố là đại khổng lồ Ty-phông, đã có lần quật ngã Dớt
-Mẹ nó là Ê-chít-na, một con quỷ cái nửa người nửa rắn
-Không cung tên, gươm dao nào đâm thủng da nó
-Sống trong hang có hai lối, ngày ngày bắt gia súc, pha hoại mùa màng
Câu 3:
-Trong đoạn văn: “Các vị thần luôn luôn theo dõi giúp đỡ người anh hùng. Thần A-pô-lông cho chàng một cây cung và một ống tên. Thần Héc-mét cho chàng một thanh gươm dài và cong. Thần Hê-phai-tôx rèn cho chàng một bộ áo giáp vàng. Còn nữ thần A-then-na ban cho chàng một bộ quần áo do tự tay nàng dệt lấy vải may thành áo, thành quần rất đẹp,” biện pháp tu từ được sử dụng là liệt kê
-Biện pháp tu từ liệt kệ được sử dụng trong văn bản có tác dụng:
+Nhấn mạnh sự giúp đỡ, ủng hộ của các vị thần đối với Hê-ra-clet
+Tạo nhịp điệu, tăng tính hình tượng, làm nổi bật sức mạnh và phẩm chất của người anh hùng
+Thể hiện quan niệm về sự hoà hợp giữa con người và thần linh trong thần thoại Hy Lạp.
Câu 4:
Một phẩm chất nổi bật của Hê-ra-clet trong văn bản là sức mạnh phi thường và lòng dũng cảm. Dù đối mặt với con ác thú hung dữ và bất khả xâm phạm, Hê-ra-clet không hề sợ hãi. Chàng dũng cảm chiến đấu, sử dụng trí thông minh và sức mạnh để vượt qua mọi khó khăn.
Câu 5:
Mối tương quan giữa con ác thú và Hê-ra-clet là mối quan hệ đối kháng:
-Con ác thú tượng trưng cho những thế lực đen tối, những khó khăn, thử thách mà con người phải đối mặt.
-Hê-ra-clet đại diện cho sức mạnh, trí tuệ và lòng dũng cảm của con người, sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ cộng đồng và khẳng định bản thân.
-Chiến thắng của Hê-ra-clet trước con ác thú thể hiện niềm tin vào khả năng của con người trong việc vượt qua mọi thử thách và chinh phục tự nhiên.
Câu 1:
“Thuật hoài” của Phạm Ngũ Lão là một tuyệt tác thể hiện hào khí Đông A thời Trần. Bài thơ khắc họa hình ảnh người tráng sĩ hiên ngang, dũng mãnh, mang trong mình khát vọng lập công, xả thân vì nước.Bài thơ ca ngợi vẻ đẹp của con người thời Trần, không chỉ mạnh mẽ về thể chất mà còn có ý chí kiên cường, lòng yêu nước sâu sắc. Hình ảnh “Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu” cho thấy tư thế chủ động, hiên ngang bảo vệ non sông. Bên cạnh đó, bài thơ còn thể hiện nỗi trăn trở về trách nhiệm của bản thân đối với đất nước, “Nam nhi vị liễu công danh trái, Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu” cho thấy sự khiêm nhường, ý chí vươn lên, cống hiến hết mình.Bài thơ sử dụng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt hàm súc, cô đọng. Ngôn ngữ thơ trang trọng, giàu sức gợi. Các biện pháp tu từ như so sánh, ẩn dụ (“Tam quân tì hổ khí thôn ngưu”) được sử dụng hiệu quả, làm nổi bật khí thế hào hùng của quân đội nhà Trần. Giọng thơ vừa hào sảng, vừa trầm hùng, thể hiện được cả vẻ đẹp bên ngoài lẫn nội tâm của người tráng sĩ. “Thuật hoài” là một bài thơ đặc sắc về cả nội dung và nghệ thuật, thể hiện tinh thần yêu nước, ý chí quật cường của dân tộc ta trong thời kỳ lịch sử hào hùng.
Câu 2:
Thế hệ trẻ là tương lai của đất nước, là lực lượng nòng cốt để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong bối cảnh thế giới đang thay đổi nhanh chóng, trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với đất nước càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
Đầu tiên chúng ta cần hiểu trách nhiệm của thế hệ trẻ với đất nước là gì?“Trách nhiệm của thế hệ trẻ hiện nay với đất nước” là một khái niệm đa chiều, bao gồm cả nhận thức lẫn hành động, có cả nghĩa vụ pháp lý và trách nhiệm đạo đức, hướng tới mục tiêu chung là làm cho đất nước ngày càng vững mạnh, phồn vinh và giữ vững chủ quyền. Nó đòi hỏi thế hệ trẻ phải hiểu rõ vai trò của mình, tích cực học tập, rèn luyện, sáng tạo và dấn thân, cống hiến cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước trong bối cảnh mới.
Trách nhiệm của thế hệ trẻ được thể hiện toàn diện qua hành động và thái độ, tập trung vào ba trụ cột chính. Thứ nhất, trong học tập và phát triển bản thân là nỗ lực không ngừng trau dồi tri thức, làm chủ công nghệ và rèn luyện đạo đức để có “tài” và “đức”, đồng thời tích cực bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Thứ hai, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thể hiện qua việc gương mẫu tuân thủ pháp luật, đấu tranh chống lại thông tin xuyên tạc, và sẵn sàng cống hiến sức trẻ trong công cuộc phát triển đất nước. Thứ ba, trong đóng góp cho Cộng đồng là tinh thần xung kích, sáng tạo, dám nghĩ dám làm, tích cực tham gia hoạt động xã hội và lan tỏa sự đoàn kết, chia sẻ. Nhìn chung, trách nhiệm là sự chủ động dấn thân để xây dựng Việt Nam hùng cường, văn minh trong bối cảnh hội nhập.
Một số ý kiến cho rằng, trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu khốc liệt, thế hệ trẻ cần ưu tiên tối đa cho việc phát triển bản thân, làm giàu cho gia đình trước, trách nhiệm với đất nước là điều thứ yếu hoặc chỉ là lý thuyết suông.Ý kiến trên hoàn toàn sai lầm,sự phát triển cá nhân chỉ thực sự bền vững khi được đặt trong một môi trường xã hội và quốc gia ổn định, phát triển. Sự cống hiến (dù là học tập xuất sắc) chính là cách đóng góp thiết thực nhất cho đất nước, như lời Bác Hồ dạy: “Học tập tốt, lao động tốt” chính là yêu nước.
Để thế hệ trẻ có trách nhiệm với đất nước, cần sự kết hợp đồng bộ.Thế hệ trẻ phải chủ động học tập, rèn luyện đạo đức, tìm hiểu văn hóa và biến sáng tạo thành hành động yêu nước. Gia đình cần làm gương, định hướng và tạo môi trường ấm áp. Nhà trường phải đổi mới giáo dục bằng các hoạt động trải nghiệm thực tế và rèn luyện kỹ năng. Xã hội cần xây dựng cơ chế hỗ trợ, tạo điều kiện và tôn vinh những đóng góp tích cực. Trách nhiệm chỉ được phát huy mạnh mẽ khi có sự đồng bộ giữa nhận thức cá nhân và sự hỗ trợ toàn diện từ môi trường xung quanh.
Trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với đất nước là vô cùng lớn lao. Bằng tri thức, nhiệt huyết và tinh thần sáng tạo, thế hệ trẻ sẽ góp phần xây dựng một Việt Nam hùng cường, sánh vai với các cường quốc năm châu.
Câu 1:
-Thể thơ của bài thơ là thất ngôn tứ tuyệt