Nguyễn Bảo Châu
Giới thiệu về bản thân
Câu 1.
Đoạn trích trên tái hiện lại sự việc: Quận công Trịnh Duy Sản ra sức khuyên vua Lê Tương Dực tỉnh ngộ, rời xa sắc dục và dừng việc xây dựng Cửu Trùng Đài.
Câu 2.
Lời độc thoại được thể hiện qua lời thoại của vua Lê Tương Dực: Lão gàn quái! hoặc Có việc gì khẩn cấp?.
Câu 3.
- HS chỉ ra những chỉ dẫn sân khấu của vua Lê Tương Dực: cau mặt, nghĩ một lúc, nhìn Trịnh Duy Sản một cách giận dữ, rút kiếm.
- HS nhận xét, đánh giá những chỉ dẫn sân khấu của vua Lê Tương Dực:
+ Có tác dụng mô tả chân thực, cụ thể rõ nét hơn về nhân vật Lê Tương Dực.
+ Thể hiện rõ diễn biến tâm lí của vua Lê Tương Dực trước những lời can gián của Trịnh Duy Sản (đi từ không ưa đến tức giận đến mức như muốn giết chết Trịnh Duy Sản).
Câu 4.
- HS xác định được biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn văn: Liệt kê: Kinh Bắc thì có Thôn Duy Nhạc, Ngô Văn Tổng. Đất Sơn Tây thì có Trần Tuân; Tam Đảo thì có Phùng Chương. Chúng dấy binh làm loạn, giết cả quan lại triều đình, hãm hiếp dân đen, đốt phá làng mạc. Dân gian không được an cư lạc nghiệp, ruộng nương bỏ hoang, cửi canh xao nhãng, cực khổ không biết thế nào mà kể cho hết. Tiếng oán thán nổi lên đầy trời.
- HS phân tích được tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong đoạn văn: Khắc họa chân thực, cụ thể bối cảnh loạn lạc của đất nước ta lúc bấy giờ: Những cuộc khởi nghĩa xảy ra khắp nơi, nhân dân đói kém, loạn lạc, lầm than, bị hãm hiếp,...
Câu 5.
- HS khái quát được bối cảnh xã hội lúc bấy giờ: Đất nước loạn lạc, nhân dân điêu đứng lầm than không chỉ vì giặc cỏ làm loạn khắp nơi, mà còn vì vua quan bỏ bê dân chúng, chấp mê bất ngộ, chỉ biết vơ vét, bắt ép dân chúng, ham mê sắc dục. (HS có thể trích dẫn đan xen những chi tiết trong tác phẩm để làm sâu sắc hơn câu trả lời của mình.)
- HS nhận xét được về vua Lê Tương Dực: Vua Lê Tương Dực là một vị hôn quân, nhu nhược và ích kỉ.
câu 1:
bài làm
Đạm Tiên là một nhân vật tuy chỉ xuất hiện thoáng qua trong Truyện Kiều nhưng lại để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc. Nàng vốn là một ca kỹ tài sắc vẹn toàn, nổi tiếng khắp nơi, nhưng cuộc đời lại bạc mệnh, sớm lìa trần khi tuổi xuân còn dang dở. Trong đoạn trích, hình ảnh Đạm Tiên hiện lên qua lời kể và qua nấm mồ hoang lạnh bên đường, gợi nên nỗi xót xa cho kiếp hồng nhan bạc phận. Số phận của nàng như một lời dự báo đầy ám ảnh về con đường mà Thúy Kiều sẽ phải trải qua: tài hoa nhưng truân chuyên, lận đận tình duyên. Đạm Tiên không chỉ là nhân vật mang tính chất dự báo, mà còn là biểu tượng cho quy luật nghiệt ngã “tài mệnh tương đố” trong xã hội phong kiến. Nguyễn Du đã khắc họa Đạm Tiên bằng bút pháp vừa hiện thực vừa lãng mạn, khiến người đọc cảm nhận rõ sự thương cảm, trân trọng đối với những kiếp người tài sắc nhưng bất hạnh. Qua đó, tác giả gửi gắm tấm lòng nhân đạo sâu sắc, đồng thời khơi dậy niềm đồng cảm cho những phận đời bị vùi dập bởi định kiến và số phận.
câu 2 :
bài làm
Trong thời đại công nghệ số, mạng xã hội đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống của học sinh. Tuy nhiên, việc lạm dụng quá mức lại dẫn đến nhiều hệ quả tiêu cực: sao nhãng học tập, giảm sút tinh thần trách nhiệm và thậm chí ảnh hưởng đến nhân cách. Vậy làm thế nào để sử dụng mạng xã hội một cách lành mạnh và hiệu quả?
Trước hết, mỗi học sinh cần nhận thức rõ mạng xã hội chỉ là công cụ hỗ trợ, không phải mục tiêu sống. Việc dành quá nhiều thời gian cho những thông tin vô bổ, trò chuyện vô nghĩa sẽ khiến ta mất đi sự tập trung trong học tập và công việc. Thay vào đó, hãy coi mạng xã hội như một kênh để cập nhật kiến thức, rèn luyện kỹ năng, mở rộng mối quan hệ và tiếp cận những giá trị tích cực.
Thứ hai, cần xây dựng thói quen sử dụng mạng xã hội có kế hoạch. Học sinh nên đặt ra giới hạn thời gian mỗi ngày, chẳng hạn chỉ dùng sau khi hoàn thành bài tập hoặc trong khoảng nghỉ ngơi. Đồng thời, phải biết chọn lọc nội dung, tránh xa những trang thông tin độc hại, tiêu cực, thay vào đó là theo dõi các kênh học tập, khoa học, văn hóa để nâng cao tri thức.
Bên cạnh đó, gia đình và nhà trường cũng đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng. Cha mẹ cần quan tâm, trò chuyện để giúp con hiểu đúng giá trị của mạng xã hội. Thầy cô có thể lồng ghép việc sử dụng mạng xã hội vào học tập, biến nó thành công cụ hỗ trợ thay vì mối nguy hại.
Cuối cùng, bản thân học sinh phải rèn luyện ý thức tự chủ và trách nhiệm. Khi biết cân bằng giữa học tập, giải trí và sử dụng mạng xã hội, ta sẽ không bị cuốn vào vòng xoáy vô nghĩa mà ngược lại, còn tận dụng được lợi ích to lớn từ nó.
Tóm lại, mạng xã hội không xấu, chỉ cách ta sử dụng mới quyết định giá trị của nó. Học sinh cần tỉnh táo, chọn lọc và có kế hoạch để biến mạng xã hội thành người bạn đồng hành hữu ích trong học tập và cuộc sống.
Câu 1.
Thể thơ: Lục bát.
Câu 2.
– Lời thoại của nhân vật: “Sao trong tiết thanh minh/ Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?”.
– Kiểu lời thoại: Lời đối thoại.
Câu 3.
– HS chỉ ra các từ láy được tác giả sử dụng trong văn bản: Sè sè, dàu dàu, xôn xao, mong manh, đầm đầm.
– HS phân tích tác dụng của hệ thống từ láy: Việc sử dụng nhiều từ láy (cả từ láy tượng hình và tượng thanh) có tác dụng khắc hoạ chân thực, sinh động những đối tượng, sự việc được khắc hoạ trong văn bản; đồng thời tạo âm hưởng nhịp nhàng, dễ nhớ cho văn bản.
Câu 4.
– HS chỉ ra được tâm trạng, cảm xúc của nàng Kiều trước hoàn cảnh của Đạm Tiên: Đau lòng, xót thương cho số phận của Đạm Tiên.
– HS nhận xét về nhân vật Thuý Kiều: Nàng là người con gái nhân hậu. Trước hoàn cảnh của Đạm Tiên, nàng không chỉ đồng cảm với cảnh ảm đạm, lạnh lẽo nhang khói của nấm mồ Đạm Tiên khi không người thăm nom, săn sóc; mà nàng còn khóc thương cho thân phận những người phụ nữ tài hoa, bạc mệnh trong xã hội của nàng.
Câu 5.
– HS dựa vào nội dung văn bản để rút ra bài học cho bản thân. Đó có thể là bài học:
+ Biết trân trọng những người tài năng trong cuộc sống.
+ Biết đồng cảm với những con người có số phận đáng thương trong cuộc sống.
câu 1 :
bài làm :
Nhân vật Dung trong truyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân hiện lên như một hình tượng giàu chiều sâu, vừa mang vẻ đẹp tâm hồn vừa gợi nhiều suy ngẫm. Dung là người phụ nữ trẻ, gắn bó với Huấn Cao – một tử tù tài hoa, khí phách. Qua nhân vật này, tác giả khắc họa sự tinh tế, dịu dàng và lòng cảm phục chân thành đối với cái đẹp và nhân cách cao cả. Dung không chỉ là người đồng hành lặng lẽ mà còn là cầu nối giúp người đọc cảm nhận rõ hơn sự đối lập giữa bóng tối ngục tù và ánh sáng của nghệ thuật.
Ở Dung, ta thấy sự nhạy cảm trước cái đẹp: nàng xúc động khi chứng kiến cảnh Huấn Cao cho chữ, biết trân trọng từng nét bút, từng tấm lòng. Đồng thời, Dung cũng thể hiện sự can đảm và nhân hậu khi dám vượt lên nỗi sợ hãi để bày tỏ sự kính trọng với Huấn Cao. Nhân vật này góp phần làm nổi bật chủ đề của tác phẩm: cái đẹp và cái thiện có sức mạnh vượt lên mọi giới hạn, kể cả cái chết.
Như vậy, Dung không chỉ là nhân vật phụ mà còn là điểm nhấn tinh tế, giúp khắc sâu giá trị nhân văn của truyện ngắn, làm sáng rõ quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Tuân: cái đẹp luôn bất tử và có khả năng cảm hóa con người.
câu 2:Bình đẳng giới là một trong những giá trị cốt lõi của xã hội văn minh, thể hiện sự tôn trọng và công bằng giữa nam và nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống. Ngày nay, vấn đề này không chỉ là khẩu hiệu mà đã trở thành mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.
Bình đẳng giới nghĩa là mọi người, dù là nam hay nữ, đều có quyền và cơ hội ngang nhau trong học tập, lao động, tham gia quản lý, hưởng thụ thành quả kinh tế – văn hóa – xã hội. Thực tế cho thấy, phụ nữ ngày càng khẳng định vị trí của mình: họ có mặt ở các vị trí lãnh đạo, tham gia nghiên cứu khoa học, đạt thành tích xuất sắc trong thể thao, nghệ thuật… Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những định kiến giới, sự phân biệt ngầm trong tuyển dụng, trả lương, hay quan niệm “trọng nam khinh nữ” ở một số nơi.Nguyên nhân của tình trạng này phần lớn xuất phát từ tư tưởng truyền thống lâu đời, từ sự thiếu hiểu biết hoặc chưa thực sự coi trọng vai trò của phụ nữ. Điều này không chỉ gây thiệt thòi cho nữ giới mà còn kìm hãm sự phát triển chung của xã hội, bởi khi một nửa dân số không được phát huy hết tiềm năng, đất nước sẽ mất đi nguồn lực quý giá.Để thúc đẩy bình đẳng giới, cần sự chung tay của cả cộng đồng: Nhà nước ban hành và thực thi nghiêm các chính sách bảo vệ quyền lợi phụ nữ; các tổ chức, doanh nghiệp tạo môi trường làm việc công bằng; mỗi cá nhân thay đổi nhận thức, xóa bỏ định kiến, tôn trọng và khuyến khích năng lực của nhau.Nguyên nhân của tình trạng này phần lớn xuất phát từ tư tưởng truyền thống lâu đời, từ sự thiếu hiểu biết hoặc chưa thực sự coi trọng vai trò của phụ nữ. Điều này không chỉ gây thiệt thòi cho nữ giới mà còn kìm hãm sự phát triển chung của xã hội, bởi khi một nửa dân số không được phát huy hết tiềm năng, đất nước sẽ mất đi nguồn lực quý giá
Bản thân tôi cho rằng, bình đẳng giới không có nghĩa là nam và nữ phải giống hệt nhau, mà là được trao cơ hội ngang nhau để phát triển và cống hiến. Khi mỗi người đều được tôn trọng và phát huy hết khả năng, xã hội sẽ trở nên tiến bộ, nhân văn và bền vững hơn.
Câu 1.
Luận đề: Ý nghĩa của chi tiết cái bóng trong truyện Chuyện người con gái Nam Xương.
Câu 2.
- Tình huống truyện độc đáo: Người chồng sau bao năm đi lính theo lệnh của triều đình, may mắn thoát chết trở về, những mong được ôm ấp đứa con thì đứa con lại kể về người cha của mình ở nhà, khiến cho Trương Sinh nghi ngờ vợ.
- Chi tiết cái bóng chính là yếu tố quan trọng làm nên tình huống đầy bi kịch này.
Câu 3.
Mục đích của việc người viết nhắc đến tình huống truyện ở phần mở đầu văn bản là để dẫn dắt, tạo đòn bẩy cho việc tập trung phân tích chi tiết cái bóng.
Câu 4.
- Chi tiết khách quan: Ngày xưa chưa có tivi, đến cả “rối hình" cũng không có, tối tối con cái thường quây quần quanh cha mẹ, ông bà, chơi trò soi bóng trên tường, nhờ ánh sáng ngọn đèn dầu, mỡ.
- Chi tiết chủ quan: Có lẽ vì muốn con luôn luôn cảm thấy người cha vẫn có mặt ở nhà, và để tự an ủi mình, thấy mình với chồng vẫn luôn bên nhau như hình với bóng, nên người vợ đã chỉ vào cái bóng của mình mà nói với con rằng đó là cha của Đản - tên của đứa con.
- Mối quan hệ giữa hai cách trình bày trên trong văn bản:
+ Phần trình bày ý kiến khách quan là cơ sở để dẫn dắt tới ý kiến chủ quan của người viết, tạo nên sự thuyết phục cho ý kiến chủ quan.
+ Phần trình bày ý kiến chủ quan giúp người viết thể hiện rõ được ý kiến, quan điểm của mình trong quá trình đọc hiểu tác phẩm, góp phần làm rõ luận đề của bài viết, tạo nên sự thống nhất giữa nhan đề và nội dung bài viết, tạo nên sức thuyết phục lớn đối với người đọc.
Câu 5.
Người viết cho rằng chi tiết cái bóng là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc vì:
- Nó bắt nguồn từ một trò chơi dân gian, hết sức phổ biến, gần gũi với nhân dân.
- Nó thể hiện tình yêu của Vũ Nương dành cho con, cho chồng.
=> Người kể chuyện đã khéo léo đẩy một trò chơi dân gian lên làm một cái cớ để xây dựng một tình huống truyện độc đáo, góp phần bộc lộ sâu sắc chủ đề, tư tưởng của tác phẩm - lên án thói ghen tuông mù quáng như một căn bệnh truyền đời của nhân loại.
câu 1
Hữu Chi trong Chuyện Lý Tướng Quân hiện lên là một người trí tuệ, trung thực và giàu lòng nghĩa khí. Ông không chỉ giỏi võ nghệ mà còn sáng suốt trong việc nhìn nhận con người và thời cuộc. Khi tiếp xúc với Lý Thường Kiệt, Hữu Chi nhanh chóng nhận ra tài năng, tầm nhìn và chí lớn của vị tướng trẻ, từ đó dành cho ông sự kính trọng và tin tưởng tuyệt đối. Ở Hữu Chi, ta thấy rõ phẩm chất của một bậc quân tử: biết trọng người hiền tài, sẵn sàng gạt bỏ lợi ích cá nhân để phục vụ cho đại nghĩa. Sự khéo léo trong lời nói, sự cẩn trọng trong hành động của ông đã góp phần quan trọng vào việc kết nối và củng cố niềm tin giữa các bậc anh hùng. Nhân vật Hữu Chi không chỉ là hình ảnh của một người bạn đồng hành đáng tin cậy, mà còn là biểu tượng cho trí tuệ và đạo đức của con người Việt Nam thời loạn, luôn đặt lợi ích quốc gia lên trên hết.
câu 2
Trong "Chuyện Lý tướng quân", Lý Hữu Chi là hình ảnh điển hình của kẻ tham lam, ham hưởng thụ mà không biết dừng lại. Khi quyền lực đã cao, hắn dựa vào uy quyền để làm những việc trái phép: chiếm đoạt tài sản, dồn đuổi dân lành, khai đào đồng ruộng, và vơ vét mọi vật quý hiếm. Người dân phải lao động nhọc nhằn để phục vụ cho tham vọng ích kỷ của hắn, nhưng Lý Hữu Chi vẫn thản nhiên, không hề xót thương. Kết quả, hắn phải chịu những hình phạt tàn khốc, minh chứng rõ ràng chân lý “ác giả ác báo”. Lòng tham, theo thực tế cuộc sống, có nhiều dạng: tham lam vật chất khiến con người vơ vét, tích trữ tài sản không chính đáng; tham vọng cá nhân khiến học sinh gian lận để đạt điểm cao hơn bạn; hay ích kỷ trong công việc, trong quan hệ xã hội dẫn đến sẵn sàng hãm hại người khác để đạt lợi ích. Hậu quả của lòng tham là nghiêm trọng: xã hội trở nên bất công, con người mất đi các giá trị đạo đức, niềm tin lẫn nhau suy giảm, và chính kẻ tham lam sẽ gánh chịu phiền phức, tai họa về lâu dài. Để hạn chế và loại bỏ lòng tham, mỗi cá nhân và xã hội cần thực hiện các biện pháp đồng bộ. Thứ nhất, giáo dục giá trị đạo đức từ gia đình, nhà trường đến cộng đồng, giúp mọi người nhận thức được hậu quả của tham lam. Thứ hai, tự rèn luyện bản thân: biết đủ, biết sẻ chia và đề cao tinh thần trách nhiệm trước cộng đồng. Ví dụ, trong học tập, thay vì gian lận để đạt điểm cao, học sinh cần chăm chỉ, trung thực, kết quả đạt được sẽ bền vững hơn. Thứ ba, xã hội cần có pháp luật công minh: những hành vi tham lam, chiếm đoạt, gây tổn hại đến quyền lợi người khác phải được trừng phạt thích đáng, vừa để cảnh báo vừa răn đe. Cuối cùng, tạo môi trường văn hóa lan tỏa nhân ái, biết trân trọng công sức, thành quả của người khác sẽ giúp giảm thiểu lòng tham tự nhiên. Như vậy, từ bài học của Lý Hữu Chi, chúng ta thấy rằng lòng tham không chỉ hủy hoại chính kẻ tham mà còn tác động tiêu cực đến cộng đồng. Chỉ khi mỗi người biết tự kiềm chế, tôn trọng đạo đức và cùng chung tay xây dựng xã hội nhân ái mới có thể hạn chế sự lây lan của tham lam. Việc kiềm chế lòng tham không những bảo vệ bản thân khỏi tai họa mà còn góp phần tạo dựng một xã hội công bằng, văn minh. Tóm lại, lòng tham là căn bệnh nguy hiểm của con người, và chỉ có tự giác, giáo dục, pháp luật và văn hóa đạo đức mới có thể làm giảm sức ảnh hưởng của nó, giúp mỗi người sống lương thiện, biết đủ, và cùng nhau xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn.câu 1
Hữu Chi trong Chuyện Lý Tướng Quân hiện lên là một người trí tuệ, trung thực và giàu lòng nghĩa khí. Ông không chỉ giỏi võ nghệ mà còn sáng suốt trong việc nhìn nhận con người và thời cuộc. Khi tiếp xúc với Lý Thường Kiệt, Hữu Chi nhanh chóng nhận ra tài năng, tầm nhìn và chí lớn của vị tướng trẻ, từ đó dành cho ông sự kính trọng và tin tưởng tuyệt đối. Ở Hữu Chi, ta thấy rõ phẩm chất của một bậc quân tử: biết trọng người hiền tài, sẵn sàng gạt bỏ lợi ích cá nhân để phục vụ cho đại nghĩa. Sự khéo léo trong lời nói, sự cẩn trọng trong hành động của ông đã góp phần quan trọng vào việc kết nối và củng cố niềm tin giữa các bậc anh hùng. Nhân vật Hữu Chi không chỉ là hình ảnh của một người bạn đồng hành đáng tin cậy, mà còn là biểu tượng cho trí tuệ và đạo đức của con người Việt Nam thời loạn, luôn đặt lợi ích quốc gia lên trên hết.
câu 2
Trong "Chuyện Lý tướng quân", Lý Hữu Chi là hình ảnh điển hình của kẻ tham lam, ham hưởng thụ mà không biết dừng lại. Khi quyền lực đã cao, hắn dựa vào uy quyền để làm những việc trái phép: chiếm đoạt tài sản, dồn đuổi dân lành, khai đào đồng ruộng, và vơ vét mọi vật quý hiếm. Người dân phải lao động nhọc nhằn để phục vụ cho tham vọng ích kỷ của hắn, nhưng Lý Hữu Chi vẫn thản nhiên, không hề xót thương. Kết quả, hắn phải chịu những hình phạt tàn khốc, minh chứng rõ ràng chân lý “ác giả ác báo”. Lòng tham, theo thực tế cuộc sống, có nhiều dạng: tham lam vật chất khiến con người vơ vét, tích trữ tài sản không chính đáng; tham vọng cá nhân khiến học sinh gian lận để đạt điểm cao hơn bạn; hay ích kỷ trong công việc, trong quan hệ xã hội dẫn đến sẵn sàng hãm hại người khác để đạt lợi ích. Hậu quả của lòng tham là nghiêm trọng: xã hội trở nên bất công, con người mất đi các giá trị đạo đức, niềm tin lẫn nhau suy giảm, và chính kẻ tham lam sẽ gánh chịu phiền phức, tai họa về lâu dài. Để hạn chế và loại bỏ lòng tham, mỗi cá nhân và xã hội cần thực hiện các biện pháp đồng bộ. Thứ nhất, giáo dục giá trị đạo đức từ gia đình, nhà trường đến cộng đồng, giúp mọi người nhận thức được hậu quả của tham lam. Thứ hai, tự rèn luyện bản thân: biết đủ, biết sẻ chia và đề cao tinh thần trách nhiệm trước cộng đồng. Ví dụ, trong học tập, thay vì gian lận để đạt điểm cao, học sinh cần chăm chỉ, trung thực, kết quả đạt được sẽ bền vững hơn. Thứ ba, xã hội cần có pháp luật công minh: những hành vi tham lam, chiếm đoạt, gây tổn hại đến quyền lợi người khác phải được trừng phạt thích đáng, vừa để cảnh báo vừa răn đe. Cuối cùng, tạo môi trường văn hóa lan tỏa nhân ái, biết trân trọng công sức, thành quả của người khác sẽ giúp giảm thiểu lòng tham tự nhiên. Như vậy, từ bài học của Lý Hữu Chi, chúng ta thấy rằng lòng tham không chỉ hủy hoại chính kẻ tham mà còn tác động tiêu cực đến cộng đồng. Chỉ khi mỗi người biết tự kiềm chế, tôn trọng đạo đức và cùng chung tay xây dựng xã hội nhân ái mới có thể hạn chế sự lây lan của tham lam. Việc kiềm chế lòng tham không những bảo vệ bản thân khỏi tai họa mà còn góp phần tạo dựng một xã hội công bằng, văn minh. Tóm lại, lòng tham là căn bệnh nguy hiểm của con người, và chỉ có tự giác, giáo dục, pháp luật và văn hóa đạo đức mới có thể làm giảm sức ảnh hưởng của nó, giúp mỗi người sống lương thiện, biết đủ, và cùng nhau xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn.câu 1
Bà má trong văn bản “Bà má Hậu Giang” hiện lên như một biểu tượng của tình mẫu tử bao la và lòng yêu nước sâu nặng. Dù không sinh ra những người con chiến sĩ, bà vẫn coi họ như máu thịt của mình, chăm lo từng bữa ăn, giấc ngủ, vá từng manh áo rách giữa những ngày kháng chiến gian khổ. Ở bà hội tụ sự tần tảo, chịu thương chịu khó của người phụ nữ Nam Bộ và tinh thần kiên cường trước bom đạn. Tình thương của bà không chỉ dành cho riêng ai, mà trải rộng như vòng tay của Tổ quốc, ôm ấp, chở che những người con ra trận. Hình ảnh bà má Hậu Giang gắn liền với bếp lửa đỏ, với những lời dặn dò ấm áp, đã tiếp thêm sức mạnh tinh thần cho bộ đội. Qua nhân vật này, tác phẩm khắc họa vẻ đẹp mộc mạc mà cao quý của người mẹ Việt Nam trong chiến tranh – những con người âm thầm hy sinh, góp phần làm nên chiến thắng bằng chính trái tim nhân hậu và ý chí bền bỉ. Bà má Hậu Giang vì thế trở thành hình ảnh bất tử trong ký ức của bao thế hệ.
câu 2
Bà má Hậu Giang hiện lên trong tám câu thơ cuối là hiện thân sống động của người mẹ Việt Nam kiên cường, bất khuất. Dù bị tra tấn, bị đạp lên đầu, dù lưỡi gươm kề bên hông, bà vẫn một lòng quyết không khai. Trong cơn đau đớn, bà má lại vùng dậy, hét lớn những lời căm thù: “Tụi bay đồ chó! Cướp nước tao, cắt cổ dân tao!”. Những lời lẽ ấy không chỉ là tiếng nói của một cá nhân mà là tiếng gào thét thay cho bao kiếp người mất nước. Hành động “đứng dậy, ngó vào thằng Tây” như thể hiện một sức mạnh trỗi dậy từ cội nguồn, không dễ gì khuất phục. Bà má tin tưởng vào con cháu – những người anh hùng sẽ thay bà tiếp tục chiến đấu. Hình ảnh ấy được nâng lên thành biểu tượng thiêng liêng về người mẹ Việt Nam trong kháng chiến: già nhưng không yếu, không dao gươm nhưng có trái tim thép và tinh thần bất khuất. Đoạn thơ, với giọng điệu hùng tráng xen lẫn xúc động, thể hiện rõ niềm tự hào sâu sắc của nhà thơ về vẻ đẹp của người mẹ Hậu Giang – một biểu tượng bất tử của dân tộc.
Câu 1
Văn bản "Bà má Hậu Giang" được viết theo thể thơ song thất lục bát.
Câu 2
Sự việc xảy ra trong văn bản: Một tên giặc xông vào túp lều, tra khảo và dùng bạo lực để bắt bà má khai chỗ ở của du kích.
Câu 3
Những hành động thể hiện sự độc ác của tên giặc:
– Đạp rơi liếp mành, xông vào nhà dân một cách thô bạo.
– Tra khảo, rống hét, buộc bà má phải khai nơi ở của du kích.
– Đe doạ chém đầu khi bà má không khai.
– Đạp lên đầu bà má, dùng lưỡi gươm lạnh kề hông để uy hiếp.
* Nhận xét về nhân vật tên giặc:
– Tên giặc hiện lên với bản chất tàn bạo, hung hãn, mất nhân tính.
– Hắn là đại diện cho tội ác của kẻ thù xâm lược, gieo rắc đau thương và mất mát của nhân dân ta.
Câu 4
– Biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ là so sánh. Những người lính được so sánh với rừng đước và rừng chàm.
– Tác dụng của biện pháp tu từ so sánh:
+ Khẳng định sức mạnh chiến đấu bền bỉ, dẻo dai, bất khuất của những người lính trong kháng chiến.
+ Thể hiện niềm tin, sự tự hào lớn lao của bà má về những người lính, người con của cách mạng.
+ Hình ảnh so sánh gần gũi, bình dị, tăng sức gợi hình, gợi cảm cho bài thơ.
Câu 5
Tinh thần yêu nước của nhân dân ta trong cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc:
– Nhân dân dù gian khổ, hiểm nguy vẫn một lòng trung thành với cách mạng, sẵn sàng hi sinh để bảo vệ Tổ quốc.
– Tinh thần kiên cường, bất khuất được thể hiện ở chỗ không chùn bước trước mọi hiểm nguy, áp bức, sẵn sàng đối mặt với cái chết để bảo vệ lý tưởng.
– Lòng dũng cảm phi thường được thể hiện qua việc vượt lên nỗi sợ hãi bản năng để đứng vững, chống lại kẻ thù mạnh hơn nhiều lần.
câu 1:
-văn bản thuộc thể loại : truyện truyền kì
câu2;
-văn bản sử dụng ngoi kể số 3
câu3:
-nhân vật : Lý Hữu Chi
-đăc điểm nhân vật : dữ tợn,tham lam,độc ác,coi thường đạo lí,..
- Tác dụng:
+ Làm tăng thêm sức hấp dẫn, li kì cho truyện.
+ Nhấn mạnh luật nhân quả, sự công minh của "lưới trời", qua đó thể hiện chủ đề, tư tưởng của truyện và nhấn mạnh đạo lí ở hiền gặp lành, ác giả ác báo.
Câu 5.
– Ý nghĩa văn bản: Qua truyện Chuyện Lý tướng quân, truyện không chỉ lên án, tố cáo Lý tướng quân đã lạm quyền mà trở nên tàn ác, tham lam, coi thường đạo lí, làm nhiều chuyện ác mà còn từ chính câu chuyện ấy, khẳng định sự công minh của "lưới trời", nhấn mạnh lối sống "ác giả ác báo, thiện giả thiện báo".
– Từ ý nghĩa văn bản, HS tự rút ra cho mình bài học, đó có thể là bài học về việc sống lương thiện, công bằng, chính trực; bài học về ý nghĩa của lòng tham, học cách sống biết đủ, sống có trách nhiệm với cộng đồng;…