Sủng Thị Chư
Giới thiệu về bản thân
Câu 1 Đức hi sinh của bà ngoại trong văn bản là biểu tượng cao đẹp của tình yêu thương gia đình vô điều kiện và sự chịu đựng thầm lặng. Dù gánh chịu nỗi đau mất mát (cậu út mất), bà vẫn che giấu nỗi buồn, sống trọn vẹn vì con cháu, chấp nhận bệnh quên để giữ bình yên cho gia đình. Sự hi sinh ấy toát lên từ những chi tiết nhỏ nhặt: ánh mắt, lời nói dịu dàng, hay sự bao dung. Đó không chỉ là sự hi sinh về sức khỏe, tinh thần mà còn là sự hi sinh cả cuộc đời, chứng tỏ tấm lòng người bà bao la, cao quý, là bến đỗ tinh thần vững chãi. Câu 2 Bài làm: Giới hạn - Chấp nhận hay Phá vỡ? Trong hành trình trưởng thành của mỗi người, đặc biệt là thế hệ trẻ, câu hỏi "Giới hạn – chấp nhận hay phá vỡ?" luôn là một dấu hỏi lớn mang tính quyết định. Giới hạn có thể hiểu là những rào cản, quy chuẩn, hoặc khả năng hiện tại của bản thân. Từ góc nhìn của người trẻ, câu trả lời không phải là sự lựa chọn duy nhất, mà là sự hài hòa giữa việc chấp nhận để thấu hiểu và phá vỡ để vượt lên. Chấp nhận giới hạn không đồng nghĩa với sự chịu đựng thụ động hay đầu hàng. Đó là sự tỉnh táo để nhìn nhận năng lực, hoàn cảnh hiện tại (ví dụ: giới hạn về thể chất, thời gian, kinh nghiệm). Chấp nhận giúp con người không rơi vào ảo tưởng, biết trân trọng những gì mình có và tìm ra điểm bắt đầu thực tế. Chấp nhận những giới hạn đạo đức và pháp luật còn giúp ta sống an toàn và đúng chuẩn mực. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở việc chấp nhận, giới hạn sẽ trở thành nhà tù giam hãm tiềm năng. Phá vỡ giới hạn là tư duy đột phá, là sự dũng cảm bước ra khỏi "vùng an toàn". Người trẻ cần phá vỡ giới hạn về nỗi sợ hãi, về tư duy lối mòn để sáng tạo và bứt phá. Phá vỡ những giới hạn cũ kỹ giúp ta mở rộng tầm nhìn, chinh phục những đỉnh cao mới và khẳng định giá trị bản thân. Sự tiến bộ của nhân loại phần lớn nhờ vào những người dám phá vỡ giới hạn. Do đó, đối với người trẻ, quan điểm đúng đắn nhất là "Chấp nhận để phá vỡ". Hãy chấp nhận hiện tại để tìm ra điểm yếu, rồi phá vỡ nó để hoàn thiện hơn. Cần phá vỡ những giới hạn cản trở sự phát triển, nhưng đồng thời chấp nhận những giới hạn tự nhiên để thấu hiểu chính mình. Tóm lại, giới hạn chỉ là một điểm dừng tạm thời, không phải là kết thúc. Hãy là người trẻ dám chấp nhận để thấu hiểu và đủ dũng khí phá vỡ để tỏa sáng.
Câu 1
- nhân vật chính của truyện là: bà ngoại
Câu 2
- Bà ngoại bị bệnh quên vì lí do:
+ Khi bà nhận được tin cậu út mất
+ Bà ngã đánh cạch xuống thềm nhà, cái đầu đập cạch xuống
Câu 3
Những lời thoại của bà ngoại có ý nghĩa:
- bộc lộ sự mong ngóng của bà ngoại với những ngọn gió, chính là sự mong ngóng những đứa con trở về
- Thể hiện tình yêu thương con của bà ngoại, với bà, những người con vẫn luôn hiện diện trên cuộc đời và luôn trở về với bà
Câu 4
- biện phát nhân hoá: "gió dịu dàng bay về mơn man"
- tác dụng:
+ Gợi hình ảnh những cơn gió nhẹ nhàng, lướt nhẹ mang linh hồn của những người cậu đã hi sinh
+ Bộc lộ sự nhớ thương, nỗi xúc động, cảm giác gần gũi thân thuộc
+ Tạo câu văn giàu hình ảnh, khơi gợi sự liên tưởng tượng
Câu 5
Câu 2
Để có thể đưa đất nước Việt Nam giống như lời chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu” thì bên cạnh việc phát triển kinh tế, chúng ta cần phải biết giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. “Bản sắc văn hóa dân tộc” - một cụm từ nghe có vẻ trừu tượng nhưng thực ra nếu hiểu đơn giản thì đó chính là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần cốt lõi của một dân tộc. Văn hóa có thể hiện hữu bằng sản phẩm thuộc về vật chất như những món ăn của dân tộc, trang phục truyền thống, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử… Và cũng có thể vô hình qua những giá trị tinh thần: tiếng nói, truyền thống của dân tộc (yêu nước, hiếu học, thủy chung…), tác phẩm văn học, những nét đẹp trong phong tục tập quán… Quả thật, với hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam là một dân tộc đậm đà bản sắc văn hóa. Bản sắc văn hóa có vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi quốc gia, dân tộc. Trước hết, bản sắc văn hóa chính là hồn cốt của dân tộc. Một dân tộc có giữ gìn được bản sắc văn hóa mới có thể giữ được đất nước. Vì thế mà suốt bốn nghìn năm Bắc thuộc, người phương Bắc luôn tìm cách đồng hóa nhân dân Đại Việt để biến nước ta thuộc quyền sở hữu của chúng. Cũng vì thế mà người Pháp đã gọi dân tộc ta là “An Nam mít” và chúng là “nước mẹ vĩ đại” sang khai thông văn hóa cho người dân của ta. Sau đó, văn hóa còn đem lại những lợi ích to lớn, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của đất nước. Những danh lam thắng cảnh, những di tích lịch sử chẳng phải là những địa điểm du lịch thu hút khách nước ngoài. Những món ăn đậm đà hương vị dân tộc nổi tiếng ở nước ngoài đã đem đến lòng tự hào, cùng lợi ích kinh tế to lớn… Cuối cùng, trong hàng trăm quốc gia trên thế giới, thì bản sắc văn hóa chính là cái riêng biệt, không thể trộn lẫn với bất kỳ nơi nào khác. Với tầm quan trọng to lớn như vậy, cần phải có những biện pháp nào để giữ gìn bản sắc văn hóa. Có lẽ đầu tiên cần phải nói đến ý thức của mỗi cá nhân. Mỗi người dân, từ người già đến trẻ nhỏ, đều cần ý thức được vai trò to lớn của bản sắc văn hóa dân tộc. Từ đó, biết bảo vệ giữ gìn chúng không bị mai một đi theo thời gian. Ví dụ như, hiện nay có rất nhiều bạn trẻ theo đuổi những loại hình văn hóa nghệ thuật dân gian như: ca trù, cải lương, chèo… Sau đó, cần phải có sự vào cuộc của chính quyền từ trung ương đến địa phương. Nhà nước cần đầu tư trùng tu lại những sản phẩm văn hóa thuộc về vật chất cũng như bảo vệ những sản phẩm văn hóa thuộc về tinh thần… Đôi khi, việc giữ gìn bản sắc văn hóa cũng đến từ những hành động vô cùng nhỏ bé: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, mặc áo dài trong những ngày lễ lớn của đất nước… Tuy hành động đó là nhỏ bé, nhưng lại vô cùng ý nghĩa. Tóm lại, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là một việc làm quan trọng đối với mỗi quốc gia. Thế hệ trẻ hôm nay - những con người luôn dễ dàng tiếp thu với cái mới, hãy sống có ý thức bảo vệ những nét đẹp chân quý của đất nước.
Câu 1
- Nhân vật trữ tình trong văn bản là “cháu”
Câu 2
- "Lối rất quanh co , đường vàng rơm rạ"
- "Sáng nay rưng rức"
Câu 3
- BPTT nhân hóa : Gán cho các loại cây trồng ("ngô", "khoai", "lạc", "rau khúc") hành động "ngả buồn" . − Tác dụng: + Giúp người đọc hình dung được sự ảm đạm , tiêu điều của cảnh vật . + Làm cho cảnh vật trở nên gần gũi , có hồn hơn . + Làm nổi bật cảm giác cô đơn , trống vắng của nhân vật .
Câu 4
- Chùng chình: Một trạng thái do dự, ngập ngừng, hoặc níu kéo, không dứt khoát .
Câu 5
Tuổi trẻ là quãng thời gian quý báu để chúng ta trải nghiệm và trưởng thành. Để nó trôi qua mà không hối tiếc, điều quan trọng là hãy sống trọn vẹn từng khoảnh khắc. Đừng mải mê chạy theo những giá trị hào nhoáng mà bỏ quên những điều bình dị , thân thuộc. Hãy dành thời gian kết nối với cội nguồn, thăm lại những con đường làng, những góc phố tuổi thơ, và trân trọng những người thân yêu. Đồng thời, không ngừng học hỏi và khám phá , trải nghiệm những điều mới mẻ, nhưng cũng đừng quên những bài học từ quá khứ. Chính sự cân bằng giữa việc vươn ra thế giới và trở về với bản ngã sẽ giúp tuổi trẻ của chúng ta thêm ý nghĩa và đủ đầy.
Câu 1. Thể thơ của đoạn trích: Thể thơ lục bát biến thể (còn gọi là thơ lục bát có thêm câu, vần, nhịp linh hoạt, có nhiều câu 6 chữ xen kẽ). Câu 2. Từ ngữ tiêu biểu: Hoàng Sa, Trường Sa: Cụ thể hóa chủ quyền biển đảo thiêng liêng. Sóng dữ, bám biển: Hình ảnh gian lao, kiên cường của người chiến sĩ, ngư dân. Mẹ Tổ quốc, máu ấm, cờ nước Việt: Hình ảnh đất nước gắn liền với sự sống, máu thịt, tình yêu thương. Máu ngư dân, bài ca giữ nước: Sự hy sinh, tinh thần yêu nước bất khuất. Câu 3. Biện pháp tu từ và tác dụng: Biện pháp: So sánh, với cụm từ "Như máu ấm trong màu cờ nước Việt" (so sánh "Mẹ Tổ quốc" với "máu ấm trong màu cờ nước Việt"). Tác dụng: Nhấn mạnh sự gắn kết không thể tách rời giữa Mẹ Tổ quốc (đất nước) với máu thịt, sự sống còn. Làm nổi bật sự thiêng liêng, tráng lệ của Tổ quốc, cờ Tổ quốc như được nuôi dưỡng, thắm đẫm bởi máu và tình yêu của mỗi người dân. Gợi lên hình ảnh đất nước như một cơ thể sống, luôn được bảo vệ bởi tình yêu và sự hy sinh của con Lạc cháu Hồng. Câu 4. Tình cảm của nhà thơ: Tình yêu nước nồng nàn, cháy bỏng: Thể hiện qua niềm tự hào về truyền thống anh hùng, sự hy sinh của dân tộc. Tình cảm bi tráng, xúc động: Trước sự hy sinh mất mát, sự gian khổ của người lính, ngư dân nơi biển đảo xa xôi. Lòng biết ơn sâu sắc: Dành cho những người đã ngã xuống, đã ngày đêm bám biển. Ý thức trách nhiệm công dân: Khích lệ thế hệ sau tiếp nối truyền thống, chung tay bảo vệ biển đảo thiêng liêng. Câu 5. Suy nghĩ về trách nhiệm: Từ đoạn trích, trách nhiệm của tôi là phải nhận thức sâu sắc về chủ quyền biển đảo, đặc biệt là Hoàng Sa, Trường Sa; tích cực học tập, trau dồi kiến thức để trở thành công dân có ích, góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh; lan tỏa tình yêu biển đảo, nâng cao tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ chủ quyền thiêng liêng, thể hiện qua việc ủng hộ các hoạt động hướng về biển đảo, tìm hiểu lịch sử, và phản đối các hành vi xâm phạm chủ quyền quốc gia.
Câu 1. Văn bản thể hiện tâm trạng, cảm xúc của nhân vật trữ tình trong hoàn cảnh nào? Nhân vật trữ tình đang ở một nơi xa lạ (San Diego, Mỹ) - một đất nước khác, cảm thấy cô đơn và nhớ quê hương Việt Nam da diết, tìm kiếm hình bóng quê nhà trong khung cảnh xung quanh. Câu 2. Liệt kê những hình ảnh khiến nhân vật trữ tình ngỡ như quê ta. Nắng trên cao, màu mây trắng bay, đồi nhuộm vàng trên đỉnh núi, nếp nhà dân, bụi đường. Câu 3. Cảm hứng chủ đạo của văn bản trên là gì? Cảm hứng chủ đạo là nỗi nhớ quê hương da diết, nỗi nhớ da diết những điều bình dị của quê nhà khi sống xa xứ. Câu 4. Tâm trạng của nhân vật trữ tình khi cảm nhận các hình ảnh nắng vàng, mây trắng trong khổ thơ đầu tiên và khổ thơ thứ ba có gì khác nhau? Khổ 1: Ban đầu cảm thấy gần gũi, ngỡ như quê nhà (nắng, mây, đồi). Khổ 3: Cảm giác lại xa lạ, nhận ra mình chỉ là "lữ thứ", bụi đường cũng là của người khác, thể hiện sự cô đơn và nỗi nhớ sâu sắc hơn, một chút chạnh lòng. Câu 5. Anh/Chị ấn tượng nhất với hình ảnh nào trong bài đọc? Vì sao? (Gợi ý) Hình ảnh "Bụi đường cũng bụi của người ta" ấn tượng vì nó thể hiện sự xót xa, cô đơn của người xa xứ, nhận ra mọi thứ dù quen thuộc cũng không phải của mình, chỉ có bụi đường nơi đất khách mang lại cảm giác "của người ta", một sự đồng cảm mong manh.
Câu 2:
Con người chính là một tế bào của xã hội. Đóng góp vai trò vô cùng quan trọng trong việc tạo nên một xã hội phồn vinh phát triển.
Vì vậy, việc mỗi cá nhân tự ý thức được vai trò và trách nhiệm của mình trong xã hội là điều quan trọng để làm nên một xã hội công bằng văn minh, giàu mạnh. Sống có trách nhiệm là gì? Trước tiên sống có trách nhiệm là sống tốt sống đẹp có trách nhiệm với tương lai của bản thân mình. Sống có mục đích, có ước mơ hoài bão, không bị những cám dỗ, những thói hư tật xấu lôi kéo mua chuộc. Sống đúng nguyên tắc làm người đã đặt ra.Người muốn sống có trách nhiệm thì trước tiên phải trách nhiệm với bản thân mình, tự mình có những nguyên tắc sống riêng, không nên để người khác nhắc nhở, hoặc làm những điều ảnh hưởng tới tương lai của chính mình. Sống có trách nhiệm với gia đình? Có trách nhiệm với cha mẹ, ông bà, người thân trong gia đình khi trưởng thành lập gia đình riêng làm bố mẹ thì phải có trách nhiệm với con cái. Đó chính là trách nhiệm dưỡng dục báo hiếu cha mẹ, nuôi nấng chăm sóc con cái. Để làm một người sống có trách nhiệm chúng ta phải sống đúng chuẩn mực đạo đức, có lối sống tích cực lành mạnh.
Câu1:Tự sự Câu2: Hoàng Nhuận Cầm Câu 3: Văn bản được viết dưới dạng đoạn văn xuôi, với ngôn ngữ trong sáng, dễ hiểu, cung cấp thông tin một cách mạch lạc. Câu4:Mạch cảm xúc của văn bản là sự trân trọng, ngưỡng mộ đối với tài năng và đóng góp của Hoàng Nhuận Cầm trong lĩnh vực điện ảnh và văn học nghệ thuật - Cảm xúc này được thể hiện qua việc nêu bật những thành tựu của ông, đặc biệt là sự yêu mến của độc giả trẻ tuổi đối với thơ tình của ông. Câu5 : Thông điệp ý nghĩa nhất với em là hãy theo đuổi đam mê và cống hiến hết mình cho nghệ thuật.
Thế hệ Gen Z đang phải đối mặt với nhiều định kiến tiêu cực (lười biếng, hay đòi hỏi, thiếu kiên nhẫn) nhưng thực tế lại sở hữu những ưu điểm nổi bật: sáng tạo, độc lập, am hiểu công nghệ, ý thức rõ về sức khỏe tinh thần và tìm kiếm ý nghĩa công việc, với sự khác biệt nằm ở bối cảnh sống và giá trị cốt lõi, đòi hỏi sự thấu hiểu và thích ứng từ các thế hệ khác thay vì chỉ trích, qua đó biến áp lực thành động lực để khẳng định bản thân.
Câu 1. Phương thức biểu đạt Biểu cảm: Bộc lộ trực tiếp cảm xúc xót xa, thương cảm ("Đau đớn thay", "Thương thay", "càng thương!"). Tự sự: Kể lại những hoàn cảnh, số phận bi kịch của các kiếp người. Nghị luận: Bày tỏ quan điểm, triết lý về số phận con người ("Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?", "Thương thay cũng một kiếp người").
Câu 2. Những kiếp người Người lính phải đi gánh vác việc quan, chịu cảnh gian nan (khóa lính). Phụ nữ lỡ làng, bán trăng bán hoa, về già cô độc. Người hành khất, sống lang thang, chết không nơi nương tựa.
Câu 3.
- Từ láy: "Lập lòe": Gợi hình ảnh ngọn lửa ma trơi chập chờn, ma mị, mờ ảo, đầy ám ảnh, tô đậm không khí u quỷ và sự cô liêu của cõi chết. "Văng vẳng": Gợi âm thanh oan khuất, ai oán vọng lại, như tiếng khóc than, lời ai oán của những oan hồn, khiến người nghe rùng mình, đau xót và ám ảnh mãi không thôi.
Câu 4. - Chủ đề: Nỗi đau, sự bất hạnh của con người trong xã hội phong kiến, đặc biệt là những kiếp người thấp kém, vô danh. Cảm hứng chủ đạo: Lòng thương cảm sâu sắc, nỗi xót xa, bi ai cho số phận con người (chủ nghĩa nhân đạo).
Câu 5. Từ cảm hứng nhân đạo của Nguyễn Du, ta thấy truyền thống dân tộc luôn đề cao sự đồng cảm, sẻ chia với người bất hạnh. Dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào (chiến tranh, thiên tai, bi kịch xã hội), lòng nhân ái, thương người như thể thương thân luôn là giá trị cốt lõi, thể hiện qua việc giúp đỡ người khó khăn, lên án bất công, và trân trọng giá trị của mỗi sinh mạng, giúp con người sống nhân văn hơn.