Vàng Thị Nguyệt Ánh

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Vàng Thị Nguyệt Ánh
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Đọc đoạn trích sau:

Bà ngoại bị bệnh quên sau khi nhận được tin cậu Út tôi mất. Cái tin này nghe nói bay từ biên giới về vào một buổi sáng rất đẹp trời. Hôm đó cóc nhái kêu rộn mặt ao. Mưa rào vừa xuống rửa sạch đường làng lát gạch đỏ. Nắng lên đứng tha thướt ngoài bờ rặng. Bà ngoại tôi đứng nhìn cái tin trên giấy báo, rồi ngã đánh cạch xuống thềm nhà, cái đầu đập cạch xuống thì đúng hơn. Khi bà ngoại tỉnh dậy, ai hỏi cũng không nhớ gì mấy. May thế, mẹ tôi bảo nhờ vậy mà không phải nhìn thấy bà khóc.

Bà ngoại tôi nhận cái giấy như thế là cái thứ ba. Khi nhận cái thứ hai, báo tin cậu thứ hai của tôi, thì ông ngoại tôi không chịu đựng được, nằm xuống luôn dưới đất. Bà ngoại tôi có lên tận trường sĩ quan bảo cậu Út tôi về làng làm ruộng. Nhưng cậu nhất định thích đeo lon sĩ quan, cậu giải thích với bà vậy nên bà đành chịu.

Mấy chị em tôi hay phải chạy sang với bà ngoại mỗi khi ăn cơm chiều xong, vì đấy là việc phải làm, không ai tị nạnh ai.

Tôi chạy sang hỏi bà: “Bà ngoại ơi bà ăn cơm chưa?”

Bà ngoại tôi lúc lắc mái đầu già quá là già, cười cười: “Cháu ra xem ngoài sân có phải gió đã về không?”

Tôi chạy ra sân nghe ngóng. Tôi nghe thấy tiếng gì ù ù: “Bà ơi, đúng rồi, gió đã về.”

Bà ngoại tôi cười, mặt nhăn quá là nhăn, hàm răng sún sún chỉ còn vài cái như mấy hạt ngô lép.

Trong giấc mơ, tôi thấy cả ba cậu của tôi đang cùng ùa vào nhà. Cậu Nhất tôi hiền lành nhất nhà. Cậu Hai thì nghiêm nghị lạnh lạnh. Còn cậu Út lém lỉnh hơi lỏi một tí. Cả ba cậu đều cùng bẹo má tôi. Cậu Nhất hiền lành nên bẹo mà êm êm. Cậu Hai bẹo má tôi mà như đang nặn cục bột. Cậu Út cười ha ha, để cậu bẹo thật kêu nhá. Ái cha, giờ thì tôi biết vì sao bà ngoại nhất định không chịu đi sang nhà tôi ở.

Ngoài sân, gió thổi qua hiên nhà. Bà ngoại tôi lại hỏi: “Cháu ơi, gió có phải đã về không?”

Tôi cựa mình, ngáp ngáp rồi trả lời bà: “Bà ơi, đúng rồi. Gió đã về rồi.”

Ngày nào tôi cũng chuẩn bị nhìn cho kỹ, nghe cho tinh. Tôi chỉ sợ gió về mà không biết để báo cho bà. Bà ngồi chải tóc, những sợi tóc mềm mại lọt qua kẽ tay già ơi là già, rơi rơi theo từng cơn gió.

Tôi lên bảy tuổi nên phải đi học. Ở lớp tôi tập tô và nắn nót viết chữ BÀ. Tôi có bà nội nữa, nhưng bà nội tôi đã đi rất xa, từ khi chưa có tôi trên đời. Nên khi viết chữ bà, tim tôi run lên hai tiếng bà ngoại. Tôi ngồi trong lớp tập viết, bên tai cứ nghe tiếng gió thổi luôn.

Rồi tôi phân biệt được các loại gió.

Khi gió dịu dàng bay về mơn man là lúc các cậu tôi ngủ, đầu gối lên nhau, chân gác lên nhau, theo kiểu gì thì tôi không nhìn ra rõ lắm. Khi gió thổi vù vù là y rằng các cậu đang đùa nghịch giống như lũ trẻ con lớp một lớp hai chúng tôi. Khi gió gừ gừ cắn cảu là lúc các cậu tôi sôi bụng đói. Thật tệ, lúc tôi đói thường cắn răng mà chịu, hoặc chạy ra chum múc nước mưa uống. Nhưng các cậu tôi không uống nước mưa chống đói. Có thể nước mưa không còn thích hợp với các cậu nữa.

(Lược một đoạn: Mẹ tôi về thuyết phục bà ngoại đưa mẹ con cô Hồng về. Đứa con của cô là con của cậu Út. Nay cô muốn cho con trai về nhận bà nội.)

Bà ngoại tôi thì cứ thầm thì: “Cảm ơn con đã không thành gió, đã sống trên đời này với mẹ...”

Mẹ tôi lảng đi, nì nèo: “Thế mẹ đừng quên uống thuốc nữa đấy nhé. Có em Hồng về nhà ở, mẹ đừng quên quên nhớ nhớ nữa đấy...”

“Ừ, mẹ sẽ nhớ.”

Mẹ tôi đi rồi, bà ngoại tôi bảo:

“Bà nói cho cháu biết một bí mật nhé. Khi cậu Út cháu đi, cậu có chạy về bảo với bà: mẹ không được khóc thì con sẽ về thăm mẹ luôn. Khi nào ngoài ngõ có cơn gió về là con với các anh về thăm mẹ đấy. Thực ra bà không điên đâu. Bà chỉ không muốn ông ngoại cháu với các cậu nhìn thấy bà khóc.”

Ôi, bà ngoại điên của tôi. [...]

(Trích: Gió thổi – Võ Thị Xuân Hà – Truyện ngắn chọn lọc báo Nhân dân – Nhà xuất bản Văn học 2019; Tr.77-81)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1 (0,5 điểm): Xác định nhân vật chính của truyện.

Câu 2 (0,5 điểm): Chỉ ra lý do bà ngoại bị bệnh quên được đề cập đến trong truyện.

Câu 3 (1,0 điểm): Nêu ý nghĩa của những lời thoại mà bà ngoại nói với nhân vật tôi: “... có phải gió đã về không?”, “... gió có phải đã về không?”.

Câu 4 (1,0 điểm): Trình bày hiệu quả của việc sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa trong câu sau: “Khi gió dịu dàng bay về mơn man là lúc các cậu tôi ngủ, đầu gối lên nhau, chân gác lên nhau, theo kiểu gì thì tôi không nhìn ra rõ lắm.”

Câu 5 (1,0 điểm): Từ nội dung của truyện, anh/chị có suy nghĩ gì về những con người từng trải qua mất mát vì chiến tranh? (trình bày khoảng 5 – 7 dòng)

Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
Bài 2
 Xem hướng dẫn  Bình luận (3)

Câu 1 (2,0 điểm):

Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) cảm nhận về đức hi sinh của bà ngoại trong văn bản ở phần Đọc hiểu.

Câu 2 (4,0 điểm):

Giới hạn – chấp nhận hay phá vỡ?

Từ góc nhìn của người trẻ, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ quan điểm về vấn đề trên.

Đọc đoạn trích sau:

Bà ngoại bị bệnh quên sau khi nhận được tin cậu Út tôi mất. Cái tin này nghe nói bay từ biên giới về vào một buổi sáng rất đẹp trời. Hôm đó cóc nhái kêu rộn mặt ao. Mưa rào vừa xuống rửa sạch đường làng lát gạch đỏ. Nắng lên đứng tha thướt ngoài bờ rặng. Bà ngoại tôi đứng nhìn cái tin trên giấy báo, rồi ngã đánh cạch xuống thềm nhà, cái đầu đập cạch xuống thì đúng hơn. Khi bà ngoại tỉnh dậy, ai hỏi cũng không nhớ gì mấy. May thế, mẹ tôi bảo nhờ vậy mà không phải nhìn thấy bà khóc.

Bà ngoại tôi nhận cái giấy như thế là cái thứ ba. Khi nhận cái thứ hai, báo tin cậu thứ hai của tôi, thì ông ngoại tôi không chịu đựng được, nằm xuống luôn dưới đất. Bà ngoại tôi có lên tận trường sĩ quan bảo cậu Út tôi về làng làm ruộng. Nhưng cậu nhất định thích đeo lon sĩ quan, cậu giải thích với bà vậy nên bà đành chịu.

Mấy chị em tôi hay phải chạy sang với bà ngoại mỗi khi ăn cơm chiều xong, vì đấy là việc phải làm, không ai tị nạnh ai.

Tôi chạy sang hỏi bà: “Bà ngoại ơi bà ăn cơm chưa?”

Bà ngoại tôi lúc lắc mái đầu già quá là già, cười cười: “Cháu ra xem ngoài sân có phải gió đã về không?”

Tôi chạy ra sân nghe ngóng. Tôi nghe thấy tiếng gì ù ù: “Bà ơi, đúng rồi, gió đã về.”

Bà ngoại tôi cười, mặt nhăn quá là nhăn, hàm răng sún sún chỉ còn vài cái như mấy hạt ngô lép.

Trong giấc mơ, tôi thấy cả ba cậu của tôi đang cùng ùa vào nhà. Cậu Nhất tôi hiền lành nhất nhà. Cậu Hai thì nghiêm nghị lạnh lạnh. Còn cậu Út lém lỉnh hơi lỏi một tí. Cả ba cậu đều cùng bẹo má tôi. Cậu Nhất hiền lành nên bẹo mà êm êm. Cậu Hai bẹo má tôi mà như đang nặn cục bột. Cậu Út cười ha ha, để cậu bẹo thật kêu nhá. Ái cha, giờ thì tôi biết vì sao bà ngoại nhất định không chịu đi sang nhà tôi ở.

Ngoài sân, gió thổi qua hiên nhà. Bà ngoại tôi lại hỏi: “Cháu ơi, gió có phải đã về không?”

Tôi cựa mình, ngáp ngáp rồi trả lời bà: “Bà ơi, đúng rồi. Gió đã về rồi.”

Ngày nào tôi cũng chuẩn bị nhìn cho kỹ, nghe cho tinh. Tôi chỉ sợ gió về mà không biết để báo cho bà. Bà ngồi chải tóc, những sợi tóc mềm mại lọt qua kẽ tay già ơi là già, rơi rơi theo từng cơn gió.

Tôi lên bảy tuổi nên phải đi học. Ở lớp tôi tập tô và nắn nót viết chữ BÀ. Tôi có bà nội nữa, nhưng bà nội tôi đã đi rất xa, từ khi chưa có tôi trên đời. Nên khi viết chữ bà, tim tôi run lên hai tiếng bà ngoại. Tôi ngồi trong lớp tập viết, bên tai cứ nghe tiếng gió thổi luôn.

Rồi tôi phân biệt được các loại gió.

Khi gió dịu dàng bay về mơn man là lúc các cậu tôi ngủ, đầu gối lên nhau, chân gác lên nhau, theo kiểu gì thì tôi không nhìn ra rõ lắm. Khi gió thổi vù vù là y rằng các cậu đang đùa nghịch giống như lũ trẻ con lớp một lớp hai chúng tôi. Khi gió gừ gừ cắn cảu là lúc các cậu tôi sôi bụng đói. Thật tệ, lúc tôi đói thường cắn răng mà chịu, hoặc chạy ra chum múc nước mưa uống. Nhưng các cậu tôi không uống nước mưa chống đói. Có thể nước mưa không còn thích hợp với các cậu nữa.

(Lược một đoạn: Mẹ tôi về thuyết phục bà ngoại đưa mẹ con cô Hồng về. Đứa con của cô là con của cậu Út. Nay cô muốn cho con trai về nhận bà nội.)

Bà ngoại tôi thì cứ thầm thì: “Cảm ơn con đã không thành gió, đã sống trên đời này với mẹ...”

Mẹ tôi lảng đi, nì nèo: “Thế mẹ đừng quên uống thuốc nữa đấy nhé. Có em Hồng về nhà ở, mẹ đừng quên quên nhớ nhớ nữa đấy...”

“Ừ, mẹ sẽ nhớ.”

Mẹ tôi đi rồi, bà ngoại tôi bảo:

“Bà nói cho cháu biết một bí mật nhé. Khi cậu Út cháu đi, cậu có chạy về bảo với bà: mẹ không được khóc thì con sẽ về thăm mẹ luôn. Khi nào ngoài ngõ có cơn gió về là con với các anh về thăm mẹ đấy. Thực ra bà không điên đâu. Bà chỉ không muốn ông ngoại cháu với các cậu nhìn thấy bà khóc.”

Ôi, bà ngoại điên của tôi. [...]

(Trích: Gió thổi – Võ Thị Xuân Hà – Truyện ngắn chọn lọc báo Nhân dân – Nhà xuất bản Văn học 2019; Tr.77-81)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1 (0,5 điểm): Xác định nhân vật chính của truyện.

Câu 2 (0,5 điểm): Chỉ ra lý do bà ngoại bị bệnh quên được đề cập đến trong truyện.

Câu 3 (1,0 điểm): Nêu ý nghĩa của những lời thoại mà bà ngoại nói với nhân vật tôi: “... có phải gió đã về không?”, “... gió có phải đã về không?”.

Câu 4 (1,0 điểm): Trình bày hiệu quả của việc sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa trong câu sau: “Khi gió dịu dàng bay về mơn man là lúc các cậu tôi ngủ, đầu gối lên nhau, chân gác lên nhau, theo kiểu gì thì tôi không nhìn ra rõ lắm.”

Câu 5 (1,0 điểm): Từ nội dung của truyện, anh/chị có suy nghĩ gì về những con người từng trải qua mất mát vì chiến tranh? (trình bày khoảng 5 – 7 dòng)

Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
Bài 2
 Xem hướng dẫn  Bình luận (3)

Câu 1 (2,0 điểm):

Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) cảm nhận về đức hi sinh của bà ngoại trong văn bản ở phần Đọc hiểu.

Câu 2 (4,0 điểm):

Giới hạn – chấp nhận hay phá vỡ?

Từ góc nhìn của người trẻ, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ quan điểm về vấn đề trên.

Đọc đoạn trích sau:

Bà ngoại bị bệnh quên sau khi nhận được tin cậu Út tôi mất. Cái tin này nghe nói bay từ biên giới về vào một buổi sáng rất đẹp trời. Hôm đó cóc nhái kêu rộn mặt ao. Mưa rào vừa xuống rửa sạch đường làng lát gạch đỏ. Nắng lên đứng tha thướt ngoài bờ rặng. Bà ngoại tôi đứng nhìn cái tin trên giấy báo, rồi ngã đánh cạch xuống thềm nhà, cái đầu đập cạch xuống thì đúng hơn. Khi bà ngoại tỉnh dậy, ai hỏi cũng không nhớ gì mấy. May thế, mẹ tôi bảo nhờ vậy mà không phải nhìn thấy bà khóc.

Bà ngoại tôi nhận cái giấy như thế là cái thứ ba. Khi nhận cái thứ hai, báo tin cậu thứ hai của tôi, thì ông ngoại tôi không chịu đựng được, nằm xuống luôn dưới đất. Bà ngoại tôi có lên tận trường sĩ quan bảo cậu Út tôi về làng làm ruộng. Nhưng cậu nhất định thích đeo lon sĩ quan, cậu giải thích với bà vậy nên bà đành chịu.

Mấy chị em tôi hay phải chạy sang với bà ngoại mỗi khi ăn cơm chiều xong, vì đấy là việc phải làm, không ai tị nạnh ai.

Tôi chạy sang hỏi bà: “Bà ngoại ơi bà ăn cơm chưa?”

Bà ngoại tôi lúc lắc mái đầu già quá là già, cười cười: “Cháu ra xem ngoài sân có phải gió đã về không?”

Tôi chạy ra sân nghe ngóng. Tôi nghe thấy tiếng gì ù ù: “Bà ơi, đúng rồi, gió đã về.”

Bà ngoại tôi cười, mặt nhăn quá là nhăn, hàm răng sún sún chỉ còn vài cái như mấy hạt ngô lép.

Trong giấc mơ, tôi thấy cả ba cậu của tôi đang cùng ùa vào nhà. Cậu Nhất tôi hiền lành nhất nhà. Cậu Hai thì nghiêm nghị lạnh lạnh. Còn cậu Út lém lỉnh hơi lỏi một tí. Cả ba cậu đều cùng bẹo má tôi. Cậu Nhất hiền lành nên bẹo mà êm êm. Cậu Hai bẹo má tôi mà như đang nặn cục bột. Cậu Út cười ha ha, để cậu bẹo thật kêu nhá. Ái cha, giờ thì tôi biết vì sao bà ngoại nhất định không chịu đi sang nhà tôi ở.

Ngoài sân, gió thổi qua hiên nhà. Bà ngoại tôi lại hỏi: “Cháu ơi, gió có phải đã về không?”

Tôi cựa mình, ngáp ngáp rồi trả lời bà: “Bà ơi, đúng rồi. Gió đã về rồi.”

Ngày nào tôi cũng chuẩn bị nhìn cho kỹ, nghe cho tinh. Tôi chỉ sợ gió về mà không biết để báo cho bà. Bà ngồi chải tóc, những sợi tóc mềm mại lọt qua kẽ tay già ơi là già, rơi rơi theo từng cơn gió.

Tôi lên bảy tuổi nên phải đi học. Ở lớp tôi tập tô và nắn nót viết chữ BÀ. Tôi có bà nội nữa, nhưng bà nội tôi đã đi rất xa, từ khi chưa có tôi trên đời. Nên khi viết chữ bà, tim tôi run lên hai tiếng bà ngoại. Tôi ngồi trong lớp tập viết, bên tai cứ nghe tiếng gió thổi luôn.

Rồi tôi phân biệt được các loại gió.

Khi gió dịu dàng bay về mơn man là lúc các cậu tôi ngủ, đầu gối lên nhau, chân gác lên nhau, theo kiểu gì thì tôi không nhìn ra rõ lắm. Khi gió thổi vù vù là y rằng các cậu đang đùa nghịch giống như lũ trẻ con lớp một lớp hai chúng tôi. Khi gió gừ gừ cắn cảu là lúc các cậu tôi sôi bụng đói. Thật tệ, lúc tôi đói thường cắn răng mà chịu, hoặc chạy ra chum múc nước mưa uống. Nhưng các cậu tôi không uống nước mưa chống đói. Có thể nước mưa không còn thích hợp với các cậu nữa.

(Lược một đoạn: Mẹ tôi về thuyết phục bà ngoại đưa mẹ con cô Hồng về. Đứa con của cô là con của cậu Út. Nay cô muốn cho con trai về nhận bà nội.)

Bà ngoại tôi thì cứ thầm thì: “Cảm ơn con đã không thành gió, đã sống trên đời này với mẹ...”

Mẹ tôi lảng đi, nì nèo: “Thế mẹ đừng quên uống thuốc nữa đấy nhé. Có em Hồng về nhà ở, mẹ đừng quên quên nhớ nhớ nữa đấy...”

“Ừ, mẹ sẽ nhớ.”

Mẹ tôi đi rồi, bà ngoại tôi bảo:

“Bà nói cho cháu biết một bí mật nhé. Khi cậu Út cháu đi, cậu có chạy về bảo với bà: mẹ không được khóc thì con sẽ về thăm mẹ luôn. Khi nào ngoài ngõ có cơn gió về là con với các anh về thăm mẹ đấy. Thực ra bà không điên đâu. Bà chỉ không muốn ông ngoại cháu với các cậu nhìn thấy bà khóc.”

Ôi, bà ngoại điên của tôi. [...]

(Trích: Gió thổi – Võ Thị Xuân Hà – Truyện ngắn chọn lọc báo Nhân dân – Nhà xuất bản Văn học 2019; Tr.77-81)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1 (0,5 điểm): Xác định nhân vật chính của truyện.

Câu 2 (0,5 điểm): Chỉ ra lý do bà ngoại bị bệnh quên được đề cập đến trong truyện.

Câu 3 (1,0 điểm): Nêu ý nghĩa của những lời thoại mà bà ngoại nói với nhân vật tôi: “... có phải gió đã về không?”, “... gió có phải đã về không?”.

Câu 4 (1,0 điểm): Trình bày hiệu quả của việc sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa trong câu sau: “Khi gió dịu dàng bay về mơn man là lúc các cậu tôi ngủ, đầu gối lên nhau, chân gác lên nhau, theo kiểu gì thì tôi không nhìn ra rõ lắm.”

Câu 5 (1,0 điểm): Từ nội dung của truyện, anh/chị có suy nghĩ gì về những con người từng trải qua mất mát vì chiến tranh? (trình bày khoảng 5 – 7 dòng)

Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
Bài 2
 Xem hướng dẫn  Bình luận (3)

Câu 1 (2,0 điểm):

Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) cảm nhận về đức hi sinh của bà ngoại trong văn bản ở phần Đọc hiểu.

Câu 2 (4,0 điểm):

Giới hạn – chấp nhận hay phá vỡ?

Từ góc nhìn của người trẻ, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ quan điểm về vấn đề trên.

  • ười thân. Mỗi trải nghiệm, dù thành công hay thất bại, đều là bài học quý giá, miễn là ta sống chân thành và không bao giờ quên đi "con đường làng" – nơi định hình nên bản sắc của chính mình.

PHẦN II: LÀM VĂN

Câu 1: Phân tích tình cảm của nhân vật trữ tình đối với người bà (Đoạn văn 200 chữ)

Đoạn thơ in đậm là những nốt lặng đầy xúc động, thể hiện tình yêu thương và sự hối tiếc muộn màng của người cháu dành cho bà. Tình cảm ấy trước hết là sự hiếu nghĩa và gắn bó sâu nặng. Hình ảnh bà nằm "thảnh thơi" trên cánh đồng sau vụ gặt là một cách nói giảm nói tránh về sự ra đi, cho thấy sự bình yên của người bà sau một đời lam lũ. Tuy nhiên, đằng sau sự bình yên ấy là nỗi đau xót "rưng rức" của cháu. Lời tự vấn "chưa từng học làm bánh khúc từ bà" không chỉ là sự tiếc nuối một món ăn, mà là sự hối hận vì đã chưa kịp thấu hiểu, chưa kịp kế thừa những giá trị tinh thần mà bà truyền lại. Người cháu nhận ra rằng, dù đã "chạm chân mấy lần vòng tròn đất nước", đi xa đến đâu thì bà vẫn là điểm tựa bình yên nhất. Qua đó, tác giả ngợi ca tình bà cháu thiêng liêng, nhắc nhở chúng ta hãy biết trân trọng người thân khi họ còn hiện hữu.


Câu 2: Ý nghĩa của bản sắc văn hóa dân tộc đối với tuổi trẻ ngày nay (Bài văn 600 chữ)

Mở bài: Giới thiệu vấn đề: Trong xu thế toàn cầu hóa mạnh mẽ, bản sắc văn hóa dân tộc không chỉ là "chứng minh thư" của một quốc gia mà còn là điểm tựa quan trọng nhất để tuổi trẻ khẳng định vị thế của mình trên bản đồ thế giới.

Thân bài:

  • Giải thích: Bản sắc văn hóa là những giá trị cốt lõi, tinh túy nhất (ngôn ngữ, phong tục, nghệ thuật, tư tưởng...) được hình thành và bồi đắp qua hàng ngàn năm lịch sử.
  • Vai trò đối với tuổi trẻ:
    • Định vị bản thân: Giữa một thế giới phẳng, nếu không có bản sắc, người trẻ dễ trở thành những "bản sao" mờ nhạt. Văn hóa dân tộc giúp chúng ta biết mình là ai, mình đến từ đâu.
    • Bệ phóng để vươn xa: Hiểu rõ văn hóa quê hương giúp người trẻ tự tin giao lưu quốc tế. Những sản phẩm sáng tạo (thời trang, âm nhạc, công nghệ) mang hơi thở dân tộc luôn có sức hút đặc biệt và sự khác biệt bền vững.
    • Sức mạnh tinh thần: Là sợi dây gắn kết cá nhân với cộng đồng, giúp người trẻ không lạc lõng trước những biến động của thời đại.
  • Thực trạng và Bài học: Một bộ phận giới trẻ đang chạy theo lối sống hướng ngoại, quên đi tiếng nói, trang phục hay những ngày lễ truyền thống. Bài thơ của Nguyễn Thị Việt Hà là lời cảnh tỉnh về việc "chùng chình" quên lối cỏ, quên con đường quê.
  • Hành động: Tuổi trẻ cần "hòa nhập nhưng không hòa tan". Học hỏi tinh hoa nhân loại nhưng phải dựa trên nền tảng hiểu biết sâu sắc về văn hóa nước nhà.

Kết bài: Khẳng định lại vấn đề: Bản sắc văn hóa là cái gốc của mỗi con người. Giữ gìn bản sắc chính là cách tuổi trẻ xây dựng một tương lai rực rỡ nhưng vẫn mang hồn cốt dân tộc.



Câu 1: Nhân vật trữ tình trong bài thơ là người cháu.

Câu 2: Những câu thơ miêu tả dáng hình, trạng thái của “cái ngõ xoan nhà bà” là:

  • "Lối rất quanh co, đường vàng rơm rạ"
  • "Sáng nay rưng rức"

Câu 3: * Biện pháp nhân hóa: "ngả buồn" (gán cảm xúc, trạng thái tâm hồn của con người cho sự vật: ngô, khoai, lạc, rau khúc).

  • Ý nghĩa: Làm cho cảnh vật trở nên có linh hồn, biểu cảm. Nó không chỉ gợi tả sự héo rũ của cây cỏ trước cơn mưa mà còn là sự đồng điệu với nỗi buồn, sự tiếc thương ngậm ngùi của người cháu khi hướng về những kỷ niệm bên bà và quê hương.

Câu 4: Hai chữ “chùng chình” trong đoạn thơ có thể hiểu là:

  • Sự do dự, sa đà, không dứt ra được của con người trước những cám dỗ, sự ồn ào, náo nhiệt của cuộc sống hiện đại (đám đông, cuộc vui).
  • Thái độ quên lãng, thờ ơ vô tình khiến con người chậm trễ trong việc trở về với những giá trị bình dị, cốt lõi là gia đình và quê hương.

Câu 5: Để tuổi trẻ trôi đi không nuối tiếc, chúng ta cần: Sống chủ động và trân trọng từng khoảnh khắc hiện tại. Hãy dũng cảm theo đuổi đam mê nhưng đừng quên vun đắp tình cảm gia đình và giữ gìn những giá trị truyền thống. Đừng để mình quá cuốn theo những "cuộc vui" phù phiếm mà quên mất việc chăm sóc tâm hồn và báo hiếu người thân. Mỗi trải nghiệm, dù thành công hay thất bại, đều là bài học quý giá, miễn là ta sống chân thành và không bao giờ quên đi "con đường làng" – nơi định hình nên bản sắc của chính mình






















Câu 1. Thể thơ

  • Thể thơ của đoạn trích: Thể thơ tám chữ.

Câu 2. Từ ngữ tiêu biểu về biển đảo và đất nước

Dựa vào khổ hai và khổ ba, các từ ngữ tiêu biểu bao gồm:

  • Về biển đảo: Biển, sóng dữ, Hoàng Sa, bám biển, người giữ biển, sóng.
  • Về đất nước: Mẹ Tổ quốc, nước Việt, bài ca giữ nước, Tổ quốc.

Câu 3. Biện pháp tu từ so sánh và tác dụng

  • Biện pháp so sánh: "Mẹ Tổ quốc vẫn luôn ở bên ta / Như máu ấm trong màu cờ nước Việt".
  • Tác dụng:
    • Về biểu đạt: Làm cho hình ảnh "Mẹ Tổ quốc" trở nên gần gũi, thiêng liêng và sống động hơn. Tổ quốc không còn là một khái niệm trừu tượng mà hiện hữu như dòng máu nóng chảy trong tim mỗi người.
    • Về biểu cảm: Khẳng định sự gắn kết máu thịt, không thể tách rời giữa cá nhân và đất nước. Qua đó, khơi dậy niềm tự hào dân tộc và ý chí quyết tâm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ.

Câu 4. Tình cảm của nhà thơ dành cho biển đảo

Đoạn trích thể hiện những tình cảm sâu nặng của tác giả:

  • Lòng yêu nước thiết tha và sự trân trọng trước những hy sinh của cha ông để bảo vệ chủ quyền.
  • Sự đồng cảm, xót thương và biết ơn đối với những người con đang ngày đêm bám biển (ngư dân, chiến sĩ).
  • Niềm tự hào về sức sống mãnh liệt và ý chí kiên cường của dân tộc trước sóng gió ngoại xâm.

Câu 5. Trách nhiệm của bản thân về bảo vệ biển đảo (Đoạn văn)

Bảo vệ biển đảo quê hương là trách nhiệm thiêng liêng của mọi công dân, đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay. Trước hết, mỗi chúng ta cần tích cực học tập, tìm hiểu để có nhận thức đúng đắn về chủ quyền biển đảo theo luật pháp quốc tế. Bên cạnh đó, cần lên tiếng ủng hộ các chiến sĩ, ngư dân nơi đầu sóng ngọn gió và kiên quyết đấu tranh chống lại những thông tin xuyên tạc về chủ quyền lãnh thổ. Mỗi hành động nhỏ như bảo vệ môi trường biển hay lan tỏa tình yêu đất nước trên mạng xã hội cũng chính là cách để góp phần giữ gìn màu xanh của biển quê hương. Chúng ta hãy sống và cống hiến để xứng đáng với sự hy sinh của những thế hệ đi trước "cho một lần Tổ quốc được sinh ra".

Câu 1. Hoàn cảnh thể hiện tâm trạng của nhân vật trữ tình

Nhân vật trữ tình thể hiện tâm trạng khi đang ở nơi đất khách quê người (cụ thể là thành phố San Diego, Mỹ). Đây là tâm thế của một người con xa xứ, một "lữ thứ" đang đối diện với không gian xa lạ, từ đó nảy sinh nỗi nhớ thương da diết về quê hương.


Câu 2. Những hình ảnh khiến nhân vật trữ tình "ngỡ là tôi lúc ở nhà"

Những hình ảnh thiên nhiên có nét tương đồng với quê hương bao gồm:

  • Nắng: Cái nắng trên cao.
  • Mây: Màu mây trắng bay phía xa.
  • Đồi: Sắc vàng nhuộm trên đỉnh ngọn đồi.

Câu 3. Cảm hứng chủ đạo của văn bản

Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi lòng hoài hương (nhớ quê) sâu sắc. Đó là sự giao thoa giữa cái quen và cái lạ, giữa ảo giác gần gũi và thực tại xa xôi, thể hiện tình yêu quê hương luôn thường trực trong tâm hồn người lữ khách.


Câu 4. Sự khác biệt tâm trạng khi cảm nhận nắng vàng, mây trắng

Có sự chuyển biến tâm trạng rõ rệt giữa khổ đầu và khổ cuối:

Khổ thơ

Tâm trạng của nhân vật trữ tình

Khổ 1

Sự ngỡ ngàng, đồng nhất: Nhân vật nhìn thiên nhiên bằng ánh mắt tìm kiếm sự thân quen. Cảm giác "ngỡ là" tạo ra một sự an ủi nhất thời, xóa nhòa khoảng cách địa lý.

Khổ 3

Sự tỉnh thức, xót xa: Vẫn là nắng ấy, mây ấy nhưng nhân vật đã nhận ra thực tại. Cái nhìn từ "trên cao" hạ xuống "mũi giày" để đối diện với sự thật: mình là khách lạ, đến cả hạt bụi cũng là "bụi của người ta".


Câu 5. Hình ảnh ấn tượng nhất

Gợi ý: Bạn có thể chọn hình ảnh "mũi giày""bụi đường" ở khổ cuối.

Lý do: Đây là hình ảnh giàu sức gợi, đánh dấu sự "tỉnh mộng" của nhà thơ. Nếu ở trên cao, mây và nắng có thể giống nhau ở mọi nơi trên thế giới, thì dưới chân, hạt bụi và bước chân lữ thứ lại khẳng định sự chia cắt nghiệt ngã về không gian. Nó thể hiện nỗi cô đơn tột cùng của người viễn xứ: dù có cố tìm nét quen trong thiên nhiên thì thực tại vẫn nhắc nhở họ đang đứng trên mảnh đất không phải của mình.

Câu 1: Phân tích hình ảnh hàng rào dây thép gai (Khoảng 200 chữ)

Trong bài thơ của Hoàng Nhuận Cầm, hình ảnh "hàng rào dây thép gai" mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc, là nhãn tự của tác phẩm. Trước hết, đó là hình ảnh thực của chiến tranh – những rào cản lạnh lẽo, sắc nhọn ngăn cách con người, ngăn cách sự sống ("con cò không đậu được"). Dây thép gai đại diện cho nỗi đau chia cắt đất nước, làm "gãy" những nhịp cầu, làm "đứt" những dòng sông và khiến "nhựa cây" phải chảy máu. Tuy nhiên, dưới ngòi bút của tác giả, việc phá bỏ các lớp hàng rào (thứ nhất, thứ hai, thứ ba) lại trở thành một hành trình phục hồi sự sống. Cứ mỗi lớp kẽm gai đứt rời, một mảng ký ức tươi đẹp và sức sống thiên nhiên lại hiện ra: từ màu xanh của cỏ, nhịp cầu sang nhà bạn gái đến tiếng tôm búng càng dưới sông. Như vậy, hàng rào dây thép gai không chỉ là giới tuyến quân sự mà còn là biểu tượng của những ngăn cách tinh thần. Hành động "cắt xong" hàng rào cuối cùng chính là biểu tượng cho khát vọng thống nhất vẹn tròn, là khoảnh khắc đất nước "liền lại" sau bao năm đau thương. Hình ảnh này đã tôn vinh sự hy sinh thầm lặng nhưng quyết liệt của người lính trong sự nghiệp giải phóng dân tộc.


Câu 2: Sự cần thiết của lối sống có trách nhiệm của thế hệ trẻ hiện nay (Khoảng 600 chữ)

Mở bài: Xã hội hiện đại mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng đầy rẫy những thách thức và cám dỗ. Trong bối cảnh đó, lối sống có trách nhiệm trở thành "chiếc la bàn" định hướng cho thế hệ trẻ. Trách nhiệm không chỉ là một bổn phận, mà còn là thước đo giá trị và bản lĩnh của mỗi cá nhân trước cộng đồng và tương lai.

Thân bài:

  • Giải thích về lối sống có trách nhiệm: Lối sống có trách nhiệm là việc mỗi cá nhân ý thức được hệ quả từ hành động, lời nói của mình; biết hoàn thành tốt nghĩa vụ với bản thân, gia đình và xã hội. Đó là sự tự giác, không đùn đẩy, né tránh khó khăn.
  • Sự cần thiết của lối sống có trách nhiệm đối với thế hệ trẻ:
    • Đối với bản thân: Khi sống trách nhiệm, người trẻ sẽ có mục tiêu rõ ràng, không ngừng nỗ lực học tập và rèn luyện. Điều này giúp họ hoàn thiện nhân cách, tích lũy kiến thức để tự lập và khẳng định giá trị cá nhân. Nếu không có trách nhiệm với chính mình, người trẻ dễ rơi vào lối sống buông thả, lãng phí thời gian.
    • Đối với gia đình: Thanh niên là cầu nối và niềm hy vọng của cha mẹ. Sống trách nhiệm là biết yêu thương, chia sẻ gánh nặng và đền đáp công ơn sinh thành, giúp gia đình trở thành tế bào lành mạnh của xã hội.
    • Đối với xã hội và đất nước: Thế hệ trẻ là chủ nhân tương lai. Như người chiến sĩ trong thơ Hoàng Nhuận Cầm "cắt dây thép gai" để nối liền đất nước, người trẻ ngày nay cần trách nhiệm trong việc bảo vệ môi trường, thượng tôn pháp luật và cống hiến trí tuệ cho sự phát triển kinh tế - văn hóa. Sự vô trách nhiệm của một thế hệ có thể dẫn đến sự trì trệ của cả một dân tộc.
  • Bàn luận và mở rộng:
    • Thực tế, vẫn còn một bộ phận thanh niên sống thờ ơ, "vô cảm", lối sống hưởng thụ hoặc phó mặc tương lai cho số phận. Đây là những "hàng rào kẽm gai" tinh thần cần phải được loại bỏ.
    • Sống trách nhiệm không có nghĩa là nhận lấy những gánh nặng quá sức, mà bắt đầu từ những việc nhỏ nhất: nhặt một mẩu rác, tuân thủ luật giao thông hay trung thực trong thi cử.

Kết bài: Tóm lại, sống có trách nhiệm là phẩm chất không thể thiếu để thế hệ trẻ trưởng thành và thành công. Hãy bắt đầu hành động ngay từ hôm nay bằng sự tự giác và nhiệt huyết, vì như một danh ngôn đã nói: "Trách nhiệm là cái giá của sự cao quý". Khi mỗi người trẻ biết "cắt" đi những ích kỷ cá nhân, họ đang góp phần dệt nên một tương lai rạng rỡ cho đất nước.

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính

Phương thức biểu đạt chính của văn bản là: Biểu cảm (bày tỏ tình cảm, cảm xúc của người lính trước cảnh đất nước bị chia cắt và khát vọng thống nhất).

Câu 2: Nhân vật trữ tình

Nhân vật trữ tình trong văn bản là: "Anh" - người chiến sĩ/người lính đang trực tiếp thực hiện nhiệm vụ cắt hàng rào dây thép gai để mở đường cho quân ta tiến công.

Câu 3: Nhận xét về hình thức của văn bản

Về hình thức, bài thơ có những đặc điểm nổi bật sau:

  • Thể thơ: Tự do, dòng ngắn dòng dài đan xen linh hoạt theo dòng cảm xúc.
  • Bố cục: Chia làm 2 phần rõ rệt (I và II), đánh dấu sự chuyển biến từ suy tưởng, chiêm nghiệm sang hành động quyết liệt.
  • Ngôn ngữ: Giàu hình ảnh, kết hợp giữa chất trữ tình (cánh cò, nhịp cầu, mái tóc) và chất sử thi (dây thép gai, xung phong).
  • Nhịp điệu: Có sự thay đổi từ chậm rãi, suy tư ở phần đầu sang dồn dập, mạnh mẽ và vỡ òa ở những câu thơ cuối.

Câu 4: Mạch cảm xúc của văn bản

Mạch cảm xúc của bài thơ vận động theo hành trình "cắt" những rào cản chia cắt đất nước:

  • Khởi đầu: Là nỗi đau xót, ám ảnh trước cảnh đất nước bị tàn phá, chia cắt ("con sông gãy", "nhịp cầu gãy", "cây nhựa chảy"). Đó là tình yêu thương máu thịt với từng tấc đất, nhành cây.
  • Sự tiếp nối: Cảm xúc chuyển thành hành động cụ thể. Cứ mỗi hàng rào thép gai được cắt đi là một miền ký ức, một phần của quê hương được "hàn gắn" lại (hàng rào thứ nhất nối lại màu xanh của cỏ cây; hàng rào thứ hai nối lại tình yêu đôi lứa; hàng rào thứ ba nối lại sức sống của sông ngòi).
  • Kết thúc: Cảm xúc bùng nổ thành niềm tin chiến thắng và khát vọng hòa bình mãnh liệt khi hàng rào cuối cùng bị phá bỏ. Đó là sự thăng hoa từ tình cảm cá nhân hòa vào tình yêu lớn của dân tộc.

Câu 5: Thông điệp ý nghĩa nhất

Mỗi người có thể rút ra thông điệp khác nhau, nhưng thông điệp sâu sắc nhất thường là: Khát vọng hòa bình và tinh thần trách nhiệm của cá nhân đối với vận mệnh dân tộc.

Lý giải: Hành động "cắt dây thép gai" không chỉ là phá bỏ vật cản vật lý mà còn là biểu tượng cho nỗ lực xóa bỏ chia cắt, hàn gắn những vết thương chiến tranh. Thông điệp này nhắc nhở chúng ta rằng: Để có được sự vẹn tròn, bình yên của Tổ quốc, cần có những con người sẵn sàng dấn thân, hy sinh những tình cảm riêng tư để đổi lấy "mạch máu" chung của đất nước được lưu thông.

Câu 1:

Đoạn trích trong "Văn tế thập loại chúng sinh" là một trong những trang viết cảm động nhất, thể hiện trọn vẹn "con mắt trông thấu sáu cõi" và "tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời" của Nguyễn Du.

Về nội dung, đoạn trích đã vẽ nên bức tranh thê lương về những kiếp người nhỏ bé, bất hạnh trong xã hội cũ: từ người lính bỏ mình nơi chiến địa, người phụ nữ lỡ làng kiếp "bán hoa" đến kẻ hành khất cô độc. Giá trị nhân đạo đặc sắc nằm ở chỗ Nguyễn Du không chỉ xót thương cho những người lương thiện mà còn bao dung với cả những kiếp người bị xã hội coi khinh. Ông nhìn thấy ở họ cái "tội" thì ít mà cái "tình", cái "nỗi đau" thì nhiều, từ đó cất lên tiếng khóc chung cho nỗi đau nhân thế.

Về nghệ thuật, thể thơ song thất lục bát được sử dụng tài tình với nhịp điệu trầm bổng, oán than, như những đợt sóng lòng nức nở, cực kỳ phù hợp với không khí linh thiêng, u buồn của bài văn tế. Việc sử dụng các từ láy tượng hình, tượng thanh như "lập lòe", "văng vẳng" cùng những hình ảnh giàu sức gợi như "ngọn lửa ma trơi", "hớp cháo lá đa" đã tạo nên một không gian nghệ thuật mờ ảo, lạnh lẽo, chạm đến tận cùng rung cảm của độc giả. Qua đó, Nguyễn Du không chỉ chiêu hồn người chết mà còn thức tỉnh lòng trắc ẩn của người sống, khẳng định vị thế của một bậc thầy ngôn từ và lòng nhân ái.

Câu 2:

Thế hệ Gen Z (những người sinh từ khoảng 1997 đến 2012) hiện nay thường xuyên xuất hiện trên các mặt báo và mạng xã hội với những cái mác không mấy tích cực: "thế hệ bông tuyết" dễ vỡ, "kẻ lười biếng" hay những nhân viên "vô kỷ luật" thích nhảy việc. Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn qua lăng kính định kiến, chúng ta sẽ bỏ lỡ bức tranh toàn cảnh về một thế hệ đang nỗ lực định nghĩa lại thế giới theo cách riêng của mình.

Những "cái mác" nặng nề và góc nhìn phiến diện. Trước hết, cần nhìn nhận thẳng thắn những định kiến mà Gen Z đang phải đối mặt. Trong công việc, chúng ta bị coi là thiếu kiên nhẫn, chỉ cần một chút áp lực là sẵn sàng "nghỉ việc ngang". Trong lối sống, chúng ta bị gán mác là những kẻ nghiện mạng xã hội, sống ảo và thờ ơ với những giá trị truyền thống.

Những quy chụp này thường xuất phát từ khoảng cách thế hệ (generation gap). Các thế hệ trước lớn lên trong bối cảnh ưu tiên sự ổn định và lòng trung thành tuyệt đối với tổ chức. Ngược lại, Gen Z sinh ra trong thời đại bùng nổ thông tin, nơi sự thay đổi diễn ra từng giây. Đối với chúng ta, việc rời bỏ một môi trường độc hại không phải là "yếu đuối", mà là sự lựa chọn ưu tiên sức khỏe tinh thần và giá trị bản thân.

Nếu gạt bỏ những định kiến, ta sẽ thấy Gen Z là một thế hệ cực kỳ năng động và có trách nhiệm xã hội.Sự nhạy bén với công nghệ thay vì "nghiện mạng", chúng ta biến công nghệ thành công cụ để làm việc từ xa, sáng tạo nội dung và kết nối toàn cầu. Tư duy phản biện và khao khát công bằng Gen Z không ngại lên tiếng trước những bất công, quan tâm sâu sắc đến biến đổi khí hậu, quyền bình đẳng và các vấn đề nhân đạo.Định nghĩa lại thành công với Gen Z, thành công không chỉ là chức danh hay mức lương, mà là sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống (work-life balance) cùng những giá trị đóng góp cho cộng đồng.Việc "nhảy việc" thực chất là một cuộc tìm kiếm không ngừng nghỉ những môi trường cho phép cá nhân được phát triển và sáng tạo. Chúng ta không lười làm, chúng ta chỉ đang làm việc thông minh hơn và từ chối những giá trị cũ kỹ không còn phù hợp.

Về phía xã hội và các thế hệ trước cần có cái nhìn bao dung và cởi mở hơn. Thay vì chỉ trích, hãy thử đặt câu hỏi "Tại sao?" để hiểu về động lực và áp lực mà người trẻ đang gánh vác trong một thế giới đầy biến động .Về phía Gen Z chúng ta cũng cần tự soi xét lại bản thân. Đôi khi, sự tự tin thái quá hoặc cái tôi quá lớn có thể vô tình tạo ra những hiểu lầm. Sự kiên trì và kỷ luật vẫn là những giá trị cốt lõi của thành công mà thế hệ trẻ cần tiếp nối và phát huy.

Gen Z không phải là một thế hệ lỗi, chúng ta chỉ là một "phiên bản phần mềm" mới được cập nhật để phù hợp với hệ điều hành của thời đại 4.0. Thay vì gắn mác và quy chụp, hãy cho Gen Z cơ hội để chứng minh năng lực của mình qua những kết quả thực tế. Bởi suy cho cùng, mỗi thế hệ đều có những sứ mệnh riêng, và sứ mệnh của Gen Z là tạo ra một thế giới linh hoạt, nhân văn và đa dạng hơn.