Vàng Thị Thuỳ Trang

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Vàng Thị Thuỳ Trang
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu2: Văn học luôn có khả năng đánh thức những miền ký ức tưởng như đã ngủ yên trong sâu thẳm tâm hồn con người. Văn bản Mùi rơm rạ quê mình của Ngọc Bích là một minh chứng đẹp đẽ cho điều đó. Bằng ngòi bút nhẹ nhàng mà da diết, tác giả đã tái hiện một miền quê miền Tây thân thương qua hình ảnh mùi rơm rạ – một hương vị bình dị nhưng chứa đựng bao yêu thương, ký ức và gắn bó. Từ đó, văn bản không chỉ gợi lên vẻ đẹp của đồng quê mà còn làm nổi bật tình cảm sâu nặng của người con xa xứ dành cho quê hương.


Trước hết, văn bản khắc họa một bức tranh đồng quê trù phú, gần gũi và ngập tràn ký ức tuổi thơ. Những cánh đồng lúa bạt ngàn, những sân phơi vàng rực, những đứa trẻ chạy nhảy trên hạt lúa, những ụ rơm và nhánh rạ sau mùa gặt… tất cả hiện lên vừa sinh động vừa thấm đượm hơi thở làng quê. Cánh đồng trong mắt tác giả không chỉ là không gian lao động mà còn là “một phần ký ức chẳng thể nào quên”. Bằng những hồi tưởng chân thật, tác giả đã khiến người đọc cảm nhận được sự trong trẻo của tuổi thơ gắn với đồng ruộng, với mùa màng – khoảng thời gian đẹp nhất, hồn nhiên nhất của một đời người.


Một nội dung nổi bật của văn bản là tình cảm sâu sắc dành cho quê hương, được kết tinh trong hình ảnh mùi rơm rạ. Đó không chỉ là hương thơm của ruộng đồng mà còn là mùi mồ hôi của ba, là niềm vui mùa được mùa mất, là nỗi buồn thầm lặng trong khóe mắt mẹ. Mùi rơm rạ trở thành hương vị của cuộc sống bình dị mà ấm áp, là sợi dây vô hình níu giữ bước chân người đi xa. Vì vậy, dù đi “khắp mọi miền”, đứng giữa phố thị xa hoa, tác giả vẫn thổn thức nhớ về mùi hương quê nhà. Tình cảm ấy chân thành, tự nhiên và thấm đẫm nét đặc trưng của con người miền Tây: mộc mạc, sâu lắng và nghĩa tình.


Không chỉ nhớ hương rơm rạ, tác giả còn nhớ những tháng năm tuổi thơ gắn với ruộng đồng và gia đình: nghịch rơm, ngồi máy kéo, nằm trong vòng tay ba mẹ. Những hồi ức ấy không chỉ tái hiện kỷ niệm mà còn thể hiện khát vọng quay trở về với sự bình yên nguyên sơ của tuổi nhỏ. Hình ảnh “sợi rơm bay theo gió”, “vương qua cành lá non” được tác giả cảm nhận như mang theo yêu thương, hy vọng và cả những ước mơ. Hương rơm rạ trở thành điểm tựa tinh thần để người con xa xứ giữ lại sự ấm áp giữa cuộc sống hối hả.


Đoạn kết văn bản mở ra một suy ngẫm chân thành: ký ức tuổi thơ và quê hương không bao giờ mất đi, chỉ “tạm lắng lại” và sẽ bừng thức khi gặp đúng người, đúng câu chuyện. Điều đó cho thấy quê hương luôn hiện hữu trong mỗi con người như một dòng chảy âm thầm mà mãnh liệt, có sức nâng đỡ và kết nối những tâm hồn đồng điệu.


Về nghệ thuật, văn bản có nhiều điểm đặc sắc. Trước hết là giọng văn trữ tình, chân thật và ấm áp, gần gũi như lời tâm sự của người con xa quê. Tác giả sử dụng nhiều hình ảnh giàu sức gợi: sân phơi lúa vàng, những bước chân nhỏ xinh, mùi rơm rạ nồng nồng, sợi rơm bay theo gió… giúp bức tranh thôn quê hiện ra vừa rõ nét vừa nên thơ. Thủ pháp hồi tưởng được vận dụng linh hoạt, kết hợp giữa hiện tại và quá khứ, giữa nỗi nhớ và cảm xúc trực tiếp, tạo nên dòng chảy cảm xúc mượt mà, liền mạch. Ngôn ngữ bình dị, mang đậm sắc thái miền Tây, khiến người đọc cảm nhận được sự chân phương, mộc mạc và chân tình của quê hương sông nước.


Nhìn chung, Mùi rơm rạ quê mình không chỉ là một bài ký đơn thuần mà còn là một bản hòa ca của ký ức – nơi mùi rơm rạ trở thành biểu tượng của yêu thương, của nguồn cội và của những tháng năm tuổi thơ trong trẻo. Qua văn bản, tác giả đã nhắc nhở mỗi người rằng: quê hương luôn hiện diện trong tâm hồn ta, dù ta đang ở nơi đâu. Và một khi nhắc đến quê nhà, những ký ức thân thương sẽ lại ùa về, ấm áp và da diết như hương rơm rạ mùa gặt.


Câu 1 viết văn (200 chữ)

Nhân vật phu nhân trong văn bản hiện lên như một đóa hoa thanh khiết giữa không gian đầy biến động của thời đại. Bà xuất thân khuê các, nết na, học vấn uyên thâm, lại có tâm hồn tinh tế nên khi trở thành vợ Đinh Hoàn, bà giữ vai trò như ánh đèn soi đường, khơi dậy trong ông tinh thần trách nhiệm và lòng tận tụy với việc nước. Tình yêu của bà dành cho chồng không ồn ào mà lặng lẽ, sâu bền, thể hiện qua cách chăm chút, qua bài thơ tiễn biệt và cả những tháng ngày mong nhớ. Sau khi nghe tin chồng qua đời, nỗi đau thương khiến lòng bà trở nên trống trải; hình ảnh cuộc gặp gỡ trong mộng làm nổi bật khát khao được gắn bó và sự thủy chung son sắt không đổi dời. Tác giả không miêu tả để tôn vinh bi kịch, mà để làm sáng tỏ chiều sâu nhân cách: một người phụ nữ coi trọng tình nghĩa, sống hết mình với lựa chọn của trái tim. Chính điều ấy đã khiến phu nhân trở thành biểu tượng đẹp trong văn học truyền kì, gợi lên sự trân trọng đối với phẩm chất nhân hậu và sự kiên định đáng quý của người phụ nữ Việt Nam xưa.

Câu 2 : văn (600 chữ)

Trong câu chuyện về Đinh Hoàn ở Truyền kì tân phả, ta bắt gặp một hình tượng kẻ sĩ mang vẻ đẹp rạng ngời của lớp trí thức xưa: tinh thông văn chương, sống có nghĩa, làm việc có trách nhiệm và luôn đặt lợi ích quốc gia lên trên số phận riêng. Con đường đi sứ của ông là hành trình nhiều hiểm nguy, nhưng ông không lùi bước. Khi đứng giữa biên thùy gió rét hay nơi đất khách xa lạ, ông vẫn thắp sáng danh dự của quốc gia bằng tài năng thơ phú và cách ứng xử đúng mực. Điều khiến người đọc xúc động nhất chính là lời trăng trối của ông trước lúc mất: nỗi băn khoăn duy nhất là việc nước chưa hoàn toàn trọn vẹn. Chính từ hình tượng ấy, ta suy ngẫm sâu sắc hơn về trách nhiệm của người trí thức đối với đất nước – một trách nhiệm mang ý nghĩa trường tồn.

Người trí thức là người có tri thức, nhưng quan trọng hơn, họ có khả năng nhận ra những điều đất nước đang cần và có bản lĩnh để thực hiện điều ấy. Với họ, tri thức không phải món trang sức để khoe khoang, mà là công cụ để phục vụ cộng đồng. Vì vậy, trách nhiệm đầu tiên của trí thức chính là dùng hiểu biết của mình để góp phần bảo vệ và xây dựng đất nước. Đinh Hoàn đem chữ nghĩa của mình đi khẳng định vị thế quốc gia; trí thức hôm nay đem tri thức khoa học, công nghệ, văn hóa để tạo nên sức mạnh mềm và sức mạnh sáng tạo cho Việt Nam trong thời đại hội nhập.

Trách nhiệm ấy còn thể hiện ở bản lĩnh đạo đức. Một trí thức thiếu trung thực và thiếu nhân cách khó có thể đóng góp cho sự phát triển bền vững của đất nước. Đinh Hoàn được triều đình tin cậy không chỉ vì tài năng mà còn vì sự ngay thẳng, chăm chỉ và tinh thần phụng sự. Trong thời đại ngày nay, trí thức cần giữ tinh thần độc lập, dám nói những điều đúng, dám bảo vệ cái tốt, dám phản biện để xã hội tiến bộ. Họ là lương tri của thời đại, là người thức tỉnh cộng đồng trước những sai lệch và bất công.

Hơn nữa, trí thức còn có trách nhiệm truyền lửa cho thế hệ sau. Một xã hội muốn mạnh phải có dân trí cao; mà dân trí cao không thể có nếu thiếu những con người sẵn sàng chia sẻ tri thức, khuyến khích tư duy sáng tạo. Qua những bài thơ và tấm gương tận tụy, Đinh Hoàn để lại giá trị tinh thần cho hậu thế. Còn trí thức ngày nay, mỗi bài giảng, mỗi công trình nghiên cứu, mỗi hành động mẫu mực đều góp phần định hình một thế hệ trẻ tự tin, chủ động, có trách nhiệm.

Trong thời đại cạnh tranh tri thức toàn cầu, trách nhiệm của trí thức lại càng lớn. Đất nước cần những người dám nghĩ khác, dám mở đường, dám sáng tạo. Mỗi trí thức đều có thể trở thành một hạt nhân góp phần nâng tầm quốc gia, từ những nhà khoa học trong phòng thí nghiệm, kĩ sư trong công xưởng, giáo viên trên bục giảng đến các nhà văn, nghệ sĩ gìn giữ bản sắc dân tộc.

Từ tấm gương của Đinh Hoàn, ta nhận ra rằng trí thức không chỉ sống cho riêng mình. Họ mang trong mình sứ mệnh của tương lai đất nước. Tri thức chỉ thật sự có ý nghĩa khi nó được đặt vào hành động vì cộng đồng. Và khi người trí thức biết gánh vác trách nhiệm ấy, đất nước sẽ có thêm những bước đi vững vàng, tự tin trên con đường phát triển.


Câu 1 viết văn (200 chữ)

Nhân vật phu nhân trong văn bản hiện lên như một đóa hoa thanh khiết giữa không gian đầy biến động của thời đại. Bà xuất thân khuê các, nết na, học vấn uyên thâm, lại có tâm hồn tinh tế nên khi trở thành vợ Đinh Hoàn, bà giữ vai trò như ánh đèn soi đường, khơi dậy trong ông tinh thần trách nhiệm và lòng tận tụy với việc nước. Tình yêu của bà dành cho chồng không ồn ào mà lặng lẽ, sâu bền, thể hiện qua cách chăm chút, qua bài thơ tiễn biệt và cả những tháng ngày mong nhớ. Sau khi nghe tin chồng qua đời, nỗi đau thương khiến lòng bà trở nên trống trải; hình ảnh cuộc gặp gỡ trong mộng làm nổi bật khát khao được gắn bó và sự thủy chung son sắt không đổi dời. Tác giả không miêu tả để tôn vinh bi kịch, mà để làm sáng tỏ chiều sâu nhân cách: một người phụ nữ coi trọng tình nghĩa, sống hết mình với lựa chọn của trái tim. Chính điều ấy đã khiến phu nhân trở thành biểu tượng đẹp trong văn học truyền kì, gợi lên sự trân trọng đối với phẩm chất nhân hậu và sự kiên định đáng quý của người phụ nữ Việt Nam xưa.

Câu 2 : văn (600 chữ)

Trong câu chuyện về Đinh Hoàn ở Truyền kì tân phả, ta bắt gặp một hình tượng kẻ sĩ mang vẻ đẹp rạng ngời của lớp trí thức xưa: tinh thông văn chương, sống có nghĩa, làm việc có trách nhiệm và luôn đặt lợi ích quốc gia lên trên số phận riêng. Con đường đi sứ của ông là hành trình nhiều hiểm nguy, nhưng ông không lùi bước. Khi đứng giữa biên thùy gió rét hay nơi đất khách xa lạ, ông vẫn thắp sáng danh dự của quốc gia bằng tài năng thơ phú và cách ứng xử đúng mực. Điều khiến người đọc xúc động nhất chính là lời trăng trối của ông trước lúc mất: nỗi băn khoăn duy nhất là việc nước chưa hoàn toàn trọn vẹn. Chính từ hình tượng ấy, ta suy ngẫm sâu sắc hơn về trách nhiệm của người trí thức đối với đất nước – một trách nhiệm mang ý nghĩa trường tồn.

Người trí thức là người có tri thức, nhưng quan trọng hơn, họ có khả năng nhận ra những điều đất nước đang cần và có bản lĩnh để thực hiện điều ấy. Với họ, tri thức không phải món trang sức để khoe khoang, mà là công cụ để phục vụ cộng đồng. Vì vậy, trách nhiệm đầu tiên của trí thức chính là dùng hiểu biết của mình để góp phần bảo vệ và xây dựng đất nước. Đinh Hoàn đem chữ nghĩa của mình đi khẳng định vị thế quốc gia; trí thức hôm nay đem tri thức khoa học, công nghệ, văn hóa để tạo nên sức mạnh mềm và sức mạnh sáng tạo cho Việt Nam trong thời đại hội nhập.

Trách nhiệm ấy còn thể hiện ở bản lĩnh đạo đức. Một trí thức thiếu trung thực và thiếu nhân cách khó có thể đóng góp cho sự phát triển bền vững của đất nước. Đinh Hoàn được triều đình tin cậy không chỉ vì tài năng mà còn vì sự ngay thẳng, chăm chỉ và tinh thần phụng sự. Trong thời đại ngày nay, trí thức cần giữ tinh thần độc lập, dám nói những điều đúng, dám bảo vệ cái tốt, dám phản biện để xã hội tiến bộ. Họ là lương tri của thời đại, là người thức tỉnh cộng đồng trước những sai lệch và bất công.

Hơn nữa, trí thức còn có trách nhiệm truyền lửa cho thế hệ sau. Một xã hội muốn mạnh phải có dân trí cao; mà dân trí cao không thể có nếu thiếu những con người sẵn sàng chia sẻ tri thức, khuyến khích tư duy sáng tạo. Qua những bài thơ và tấm gương tận tụy, Đinh Hoàn để lại giá trị tinh thần cho hậu thế. Còn trí thức ngày nay, mỗi bài giảng, mỗi công trình nghiên cứu, mỗi hành động mẫu mực đều góp phần định hình một thế hệ trẻ tự tin, chủ động, có trách nhiệm.

Trong thời đại cạnh tranh tri thức toàn cầu, trách nhiệm của trí thức lại càng lớn. Đất nước cần những người dám nghĩ khác, dám mở đường, dám sáng tạo. Mỗi trí thức đều có thể trở thành một hạt nhân góp phần nâng tầm quốc gia, từ những nhà khoa học trong phòng thí nghiệm, kĩ sư trong công xưởng, giáo viên trên bục giảng đến các nhà văn, nghệ sĩ gìn giữ bản sắc dân tộc.

Từ tấm gương của Đinh Hoàn, ta nhận ra rằng trí thức không chỉ sống cho riêng mình. Họ mang trong mình sứ mệnh của tương lai đất nước. Tri thức chỉ thật sự có ý nghĩa khi nó được đặt vào hành động vì cộng đồng. Và khi người trí thức biết gánh vác trách nhiệm ấy, đất nước sẽ có thêm những bước đi vững vàng, tự tin trên con đường phát triển.