Phạm Ngọc Nhật
Giới thiệu về bản thân
1
bài làm
Đoạn trích Sống mòn đã khắc họa tinh tế diễn biến tâm lý phức tạp, đầy giằng xé của nhân vật ông giáo Thứ trong hoàn cảnh nghèo đói, bế tắc. Khi được vợ dọn riêng cho bữa cơm tối, Thứ cảm thấy nghẹn ngào, tủi hổ vì mình được ăn no trong khi mẹ, vợ, các em đều đang nhịn đói. Tâm trạng ấy dần chuyển từ xót xa đến bất lực và cuối cùng là đau đớn đến rơi nước mắt. Anh khao khát được san sẻ, muốn nhường miếng ăn cho người thân nhưng lại bất lực vì không ai chịu nhận. Thứ ăn trong nỗi tủi nhục, dằn vặt đến mức "thiếu một chút nữa là y đã òa lên khóc". Qua đó, có thể thấy ông giáo Thứ là một con người giàu tình cảm, có trách nhiệm, giàu lòng yêu thương và biết sống vì người khác. Dù sống trong cảnh nghèo túng, anh vẫn giữ được nhân cách và đạo đức cao đẹp. Nam Cao đã xây dựng thành công hình tượng người trí thức tiểu tư sản với những phẩm chất tốt đẹp nhưng bị bào mòn bởi một xã hội bất công và cuộc sống khốn khó, không lối thoát.
1
Ngôi kể của văn bản là ngôi thứ ba,
2
Điểm nhìn được sử dụng trong đoạn trích là điểm nhìn của nhân vật Thứ – người đang sống trong cảnh nghèo khổ, bất lực, và trăn trở với chính cuộc đời mình.
Tác dụng:
- Giúp người đọc thấu hiểu sâu sắc hơn nội tâm và cảm xúc của nhân vật: từ chán chường, dằn vặt, thương thân đến thương người, nhất là với những người thân trong gia đình.
- Tăng tính chân thực và cảm động cho câu chuyện.
- Làm nổi bật được tình cảnh sống mòn, sống lay lắt của tầng lớp trí thức tiểu tư sản nghèo trong xã hội đương thời.
3
Nước mắt của Thứ ứa ra trong bữa cơm vì:
- Cảm giác tủi thân và bất lực trước cuộc sống nghèo đói, thiếu thốn đến mức người thân phải nhịn ăn để nhường phần cho mình.
- Thương mẹ, thương vợ, thương các em và cảm thấy mình được ăn là một điều bất công, trong khi những người đáng được ăn hơn lại không dám hoặc không thể.
- Xót xa vì sự bất công, phi lý của cuộc sống: những người cần ăn lại không được ăn, những người khổ đã quen khổ thì phải khổ mãi...
- Đó là giọt nước mắt của sự dằn vặt, thấm đẫm tình thương và cả sự bất lực trong một xã hội quá nhiều bất công.
4
Thông qua nhân vật Thứ, Nam Cao đã phản ánh:
- Bi kịch của người trí thức nghèo trong xã hội thực dân nửa phong kiến: có học thức, có đạo đức, có lý tưởng sống, nhưng bị cái nghèo và hoàn cảnh đè bẹp, khiến họ sống lay lắt, sống mòn mỏi qua ngày.
- Sự bất công và phi lý của xã hội: người đáng được sống tử tế thì sống cơ cực; người không xứng đáng lại hưởng nhiều.
- Nỗi đau về tinh thần, sự tha hóa, sự dằn vặt trong nội tâm của người trí thức khi phải chấp nhận cuộc sống tầm thường, không có lối thoát.
- Đồng thời, nhà văn thể hiện sự cảm thông sâu sắc đối với con người, đặc biệt là với tầng lớp tiểu tư sản nghèo – những người “muốn sống cho ra sống” nhưng đành “sống mòn”.
câu 1
Trong văn bản Tôi kéo xe, Tam Lang đã thể hiện một cách chân thực và sâu sắc nỗi khổ cực của người phu kéo xe – một nghề nặng nhọc, tủi cực và đầy tính phi nhân dưới xã hội thực dân nửa phong kiến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Qua trải nghiệm của chính bản thân khi hóa thân thành người kéo xe, tác giả không chỉ miêu tả tỉ mỉ cảm giác đau đớn, kiệt quệ về thể xác mà còn bày tỏ sự xót xa, cảm thông trước số phận con người bị biến thành công cụ lao động. Từ đó, Tam Lang thể hiện một mong muốn thầm kín nhưng mạnh mẽ: muốn thức tỉnh lương tri xã hội, lên tiếng đòi quyền sống, quyền làm người cho tầng lớp lao động bị áp bức. Ông mong muốn nghề kéo xe – biểu tượng cho sự cùng cực – sẽ không còn tồn tại, bởi đó không phải là một nghề mà là sự giày vò thân xác, chôn vùi nhân phẩm con người. Chính cái nhìn đầy nhân đạo ấy đã góp phần tạo nên giá trị tố cáo hiện thực và kêu gọi sự thay đổi của tác phẩm.
câu 1
Văn bản thuộc thể loại hồi ký
câu 2
Văn bản ghi chép lại trải nghiệm thực tế của tác giả khi vào vai một người phu kéo xe để thâm nhập đời sống, lao động của tầng lớp lao động nghèo khổ, từ đó hiểu sâu sắc hơn nỗi khổ cực, sự vất vả, đắng cay mà họ phải chịu đựng hàng ngày.
câu 3
- Biện pháp tu từ được sử dụng:
- So sánh: "ruột thì như vặn", "cổ thì nóng như cái ống gang".
- Nhân hoá (gián tiếp): "đưa hơi lửa ra không kịp".
- Tác dụng:
- Diễn tả sinh động cảm giác cực nhọc, đau đớn và mệt mỏi tột cùng của nhân vật "tôi" khi kéo xe.
- Gợi cho người đọc cảm giác nghẹt thở, nóng rát, đau đớn như đang bị tra tấn về thể xác.
- Nhấn mạnh sự khắc nghiệt, phi nhân tính của công việc phu kéo xe.
câu 4
Chi tiết gây ấn tượng nhất là:
“Miệng thở, mũi thở, rồi đến cả tai cũng thở, mồ hôi thì toát ra như mồ hôi trõ. Rồi tôi thấy tôi không phải là người nữa, chỉ là một cái... nồi sốt de.”
- Vì sao ấn tượng:
- Câu văn sử dụng hình ảnh so sánh độc đáo, ấn tượng ("nồi sốt de" – nồi hơi) để mô tả cảm giác kiệt sức tột độ.
- Lột tả được trạng thái biến dạng thể xác, mất đi nhân tính của người phu xe vì quá sức lao động.
- Gợi ra sự cảm thương sâu sắc cho con người bị bóc lột, biến thành công cụ lao động chứ không còn là con người đúng nghĩa.
câu 5
Tác giả thể hiện:
- Lòng cảm thông sâu sắc với những người lao động nghèo, đặc biệt là phu xe – tầng lớp bị bóc lột, sống trong cơ cực.
- Lên án xã hội bất công, nơi con người bị hành hạ đến mức mất cả nhân hình, nhân tính chỉ vì miếng ăn, sự tồn tại.
- Đồng thời thể hiện sự trân trọng lao động chân chính, khẳng định rằng chỉ khi thực sự lao động, ta mới thấu hiểu nỗi vất vả của người khác.
- Tư tưởng nhân đạo, thức tỉnh lương tri và trách nhiệm xã hội trước những bất công và khổ đau của con người trong xã hội thực dân nửa phong kiến thời đó.