Nguyễn Thanh Huệ
Giới thiệu về bản thân
Lựa chọn của Từ Thức là chọn vào núi , xa rời cuộc sống trần gian
Lí giải : + Anh nhận ra cõi trần mọi thứ đều thay đổi , không còn như xưa
+ Tìm kiếm sự giải thoát , bình yên trong cõi trần ẩn dật
+ Lạc lõng , bơ vơ giữa trần gian ,chính vậy ra đi là tốt nhất
-1 thông điệp ý nghĩa nhất là chúng ta là con người trần thế dù cố sống nơi tiên cảnh cũng không thoát được nỗi nhớ quê hương
-Lí giải : + Dù trong hoàn cảnh sung sướng , tiên cảnh thì con người vẫn thuộc về thế giới trần thế , mang theo một gốc rễ không thể tác rời
+Con người không chỉ có nỗi nhớ quê hương mà còn trân trọng ,gắn bó với quên hương. Vì thế dù đi xa quê hương chúng ta luôn có nỗi nhớ da diết
+ Chúng ta cần phải xây dựng quê hương , gìn giữ văn hóa ,bảo vệ giá trị tinh thần trách nhiệm
Đoạn trích trên nằm trong Chinh phụ ngâm – tác phẩm nổi bật của văn học trung đại,tác phẩm là nguyên tác của Đặng Trần Côn, bản dịch của Đoàn Thị Điểm. Đoạn trích diễn tả nỗi cô đơn, mong nhớ và đau thương của người chinh phụ khi chồng ra trận. Qua những hình ảnh giàu sức gợi và giọng điệu trầm buồn, tác giả đã khắc họa sâu sắc bi kịch tình cảm của người phụ nữ thời loạn lạc.
Về nội dung, đoạn trích thể hiện trước hết nỗi cô đơn kéo dài của người chinh phụ. Không gian “hiên vắng”, “rèm thưa”, “ngoài rèm thước chẳng mách tin" gợi sự trống trải đến tê tái. Những bước chân “gieo từng bước” diễn tả sự mỏi mòn, mỗi bước như một ngày dài chờ đợi. Nỗi lo lắng cho người chồng nơi chiến trận ngày càng trở nên nặng nề: “Đèn có biết dường bằng chẳng biết / Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi". Người chinh phụ không thể giãi bày cùng ai, chỉ biết đối diện với bóng đèn và lòng mình, nỗi buồn “khôn nén" trào dâng thành nước mắt.
Bên cạnh cô đơn là nỗi nhớ thương khắc khoải. Những thanh âm quen thuộc của cuộc sống như “gà eo óc gáy sương năm trống”, “ướt đầm hơi sương", hay cảnh “khắc giờ đằng đẵng như niên” càng làm lòng người chinh phụ thêm nặng trĩu. Nỗi nhớ hóa thành đau đớn: “Gương gượng soi lệ lại châu chan", khi soi gương cũng chỉ thấy nước mắt. Tình yêu thương chồng và sự thủy chung của người phụ nữ được thể hiện cảm động qua hình ảnh “Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng”, gợi sự tan vỡ, dang dở của hạnh phúc lứa đôi trong thời chiến tranh.
Về nghệ thuật, đoạn trích nổi bật với hàng loạt hình ảnh , tượng trưng nhưng giàu giá trị biểu cảm: đèn, hoa đèn, gà sương, gương soi... đều mang ý nghĩa tâm trạng. Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình được sử dụng tài tình: cảnh vắng, rèm thưa, ánh đèn leo lét đều phản chiếu sự héo hon của người chinh phụ. Bút pháp điệp từ, điệp ý (“đằng đẵng”, “bóng bên”, “bi thiết”) tạo âm hưởng buồn thương kéo dài, làm nổi bật nỗi nhớ triền miên. Thể thơ song thất lục bát với nhịp điệu dàn trải, uyển chuyển càng tăng sức gợi cảm và nỗi sầu não lan tỏa, thổ lộ cảm xúc của con người đã tạo ra âm hưởng buồn thương như dòng tâm trạng của người phụ nữ trong suốt cả đoạn trích.Những từ láy, biện pháp điệp từ, điệp ngữ càng làm cho những câu thơ trở nên nặng trĩu tâm trạng, mở ra một nỗi buồn thương bao trùm lên cảnh vật.
Tóm lại, đoạn thơ đã dựng lên bức tranh tâm trạng đầy bi thương của người chinh phụ, đồng thời phản ánh số phận éo le của người phụ nữ trong chiến tranh phong kiến. Những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật đã làm cho đoạn trích trở thành một trong những trang thơ xúc động và tiêu biểu cho giá trị nhân đạo của Chinh phụ ngâm.