Nguyễn Thị Thanh Trúc

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Thị Thanh Trúc
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1:

Bài làm

Bài thơ Đề đền Sầm Nghi Đống của Hồ Xuân Hương là một tiếng cười trào phúng sắc sảo hướng vào một đối tượng cụ thể là tên tướng giặc bại trận. Ngay từ mở đầu, tác giả đã thể hiện một thái độ bất kính đầy chủ ý qua hành động ghé mắt trông ngang, coi ngôi đền chỉ là một vật thể tầm thường. Cách gọi Thái thú thay vì những tước hiệu trang trọng, kết hợp với từ tượng hình cheo leo, đã biến nơi thờ tự thành một hình ảnh lố bịch, thiếu vững chãi. Bản lĩnh của bà chúa thơ Nôm được đẩy lên đỉnh điểm ở hai câu cuối với giả thiết đổi phận làm trai. Câu hỏi tu từ ở kết bài là một lời thách thức đầy ngạo nghễ, khẳng định tài năng của người phụ nữ có thể làm nên những sự nghiệp huy hoàng hơn hẳn cái danh anh hùng hờ của tên tướng giặc. Qua đó, bài thơ bộc lộ rõ tinh thần nhân văn và khát vọng bình quyền mạnh mẽ.

Câu 2:

Bài làm

Lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam được viết nên bằng máu và nước mắt của những thế hệ đi trước. Từ tiếng cười ngạo nghễ, khinh bạc của bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương trước đền thờ tên tướng giặc bại trận Sầm Nghi Đống, chúng ta không chỉ thấy một cá tính nghệ thuật độc đáo mà còn cảm nhận được lòng tự hào dân tộc mãnh liệt. Tinh thần ấy chính là ngọn đuốc soi sáng, nhắc nhở mỗi cá nhân về trách nhiệm thiêng liêng trong việc xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong thời đại ngày nay.

Trước hết, chúng ta cần hiểu trách nhiệm với đất nước không phải là một khái niệm trừu tượng hay xa vời, mà nó gắn liền với sự tồn vong và phát triển của dân tộc. Trong thời chiến, trách nhiệm là tiếng gọi của non sông, là sự sẵn sàng hy sinh thanh xuân và xương máu để giữ vững chủ quyền. Trong thời bình, trách nhiệm ấy mang một diện mạo mới, đa dạng và phức tạp hơn. Đó là cuộc chiến chống lại sự tụt hậu về kinh tế, là nhiệm vụ giữ gìn biên cương, biển đảo và bảo vệ an ninh quốc gia trên mọi mặt trận, từ đời thực đến không gian mạng.

Xây dựng đất nước là một quá trình bền bỉ, đòi hỏi sự đóng góp của mọi tầng lớp nhân dân. Đối với thế hệ trẻ, trách nhiệm lớn nhất chính là nỗ lực học tập và không ngừng sáng tạo. Trong kỷ nguyên số, tri thức chính là vũ khí mạnh nhất để chúng ta khẳng định vị thế dân tộc trên trường quốc tế. Việc chiếm lĩnh đỉnh cao khoa học, nắm bắt công nghệ hiện đại không chỉ giúp cá nhân thành đạt mà còn góp phần đưa đất nước thoát khỏi cái bẫy thu nhập trung bình, tiến tới giàu mạnh và văn minh. Một hành động nhỏ như bảo vệ môi trường, tiết kiệm tài nguyên hay tôn trọng pháp luật cũng là cách chúng ta đang vun đắp cho nền móng của quốc gia.

Song song với việc xây dựng, nhiệm vụ bảo vệ đất nước cũng quan trọng không kém. Bảo vệ tổ quốc hôm nay còn là cuộc đấu tranh để giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trước sức ép của toàn cầu hóa. Nếu chúng ta đánh mất đi hồn cốt văn hóa, đất nước sẽ chỉ còn là một vỏ bọc rỗng tuếch. Do đó, mỗi người cần có ý thức tôn trọng những giá trị truyền thống, đồng thời tỉnh táo trước các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.

Tuy nhiên, nhìn vào thực tế, vẫn còn một bộ phận cá nhân sống ích kỷ, thờ ơ với vận mệnh của đất nước. Họ coi việc xây dựng và bảo vệ tổ quốc là trách nhiệm của nhà nước hay của ai đó khác chứ không phải của mình. Lối sống thực dụng, chạy theo những giá trị vật chất phù phiếm mà quên đi nghĩa vụ công dân là một loại virus tâm hồn cần phải được bài trừ. Nếu không có tinh thần trách nhiệm, con người sẽ trở nên bạc nhược và đất nước sẽ mất đi sức mạnh nội sinh để phát triển.

Tóm lại, đất nước là của chung, và sự phồn vinh của tổ quốc phụ thuộc vào ý thức của mỗi người. Thấm nhuần tinh thần tự tôn dân tộc của cha ông, mỗi chúng ta hãy sống một đời có lý tưởng, biến tình yêu nước thành những hành động cụ thể, thiết thực. Khi mỗi công dân đều ý thức được trách nhiệm của mình, Việt Nam chắc chắn sẽ vươn cao, vươn xa và trường tồn mãi mãi với thời gian.

Câu 1:

- Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.

Câu 2:

- Trợ từ: há, bấy nhiêu.

- Từ tượng hình: cheo leo.

Câu 3:

- Các từ ngữ miêu tả thái độ và hành động của tác giả bao gồm: ghé mắt trông ngang, kìa, ví đây đổi phận, thì sự anh hùng há bấy nhiêu.

- Nhận xét: Thái độ của Hồ Xuân Hương thể hiện sự khinh bỉ, coi thường đối với tên tướng giặc bại trận. Đồng thời, qua đó cũng cho thấy sự tự tin, kiêu hãnh và khát vọng khẳng định bản thân của một người phụ nữ có tài năng, không chịu khuất phục trước cái danh hờ của nam giới.

Câu 4:

- Biện pháp tu từ: Sử dụng từ ngữ có tính chất gợi hình và giọng điệu giễu cợt (đặc biệt là cụm từ ghé mắt trông ngang và từ kìa).

- Tác dụng: Thể hiện tư thế xem thường, không thèm nhìn thẳng của tác giả đối với ngôi đền và vị tướng giặc được thờ phụng. Hình ảnh đứng cheo leo gợi sự lẻ loi, bấp bênh, không có được sự tôn nghiêm cần thiết, từ đó làm bật lên sự mỉa mai, khinh miệt của nhà thơ dành cho kẻ thua cuộc.

Câu 5:

- Qua bài thơ, Hồ Xuân Hương gửi gắm thông điệp về niềm tự hào dân tộc trước chiến thắng của quân Tây Sơn và sự phê phán đanh thép đối với những giá trị cũ của xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ. Tác giả khẳng định rằng giá trị của một con người nằm ở tài năng và phẩm chất thực sự chứ không phải ở giới tính hay địa vị ảo.

Bài làm

Trần Tế Xương, hay còn gọi là Tú Xương, là một bậc thầy của dòng thơ trào phúng trong văn học trung đại Việt Nam. Thơ ông không chỉ là tiếng cười tự trào về cuộc đời gian truân của chính mình mà còn là vũ khí sắc bén để phê phán những thói hư tật xấu, những sự kệch cỡm của xã hội giao thời. Bài thơ Giễu ông đồ Bốn ở phố Hàng Sắt là một minh chứng tiêu biểu cho phong cách đó, khi ông dùng ngòi bút đầy châm biếm để bóc trần diện mạo của một lớp người giả danh trí thức lúc bấy giờ.

Ngay từ những câu thơ mở đầu, Tú Xương đã đặt ra những câu hỏi đầy nghi vấn về lai lịch và học vấn của nhân vật ông đồ Bốn. Những câu hỏi như:

"Hỏi thăm quê quán ở nơi mô?"

"Không học mà sao cũng gọi đồ?"

Hai câu đề mang sắc thái mỉa mai cực độ. Trong xã hội cũ, danh xưng đồ thường dành cho những người có học vấn, có chữ nghĩa và được trọng vọng. Thế nhưng, ở đây, tác giả khẳng định nhân vật này hoàn toàn không có học vấn. Câu hỏi xoáy sâu vào sự vô lý của danh xưng ấy, gợi lên sự tò mò và tiếng cười giễu cợt về một kẻ hữu danh vô thực.

Tác giả tiếp tục đưa ra những giả thiết đầy hài hước về nguồn gốc của cái tên gọi đồ này:

Ý hẳn người yêu mà gọi thế

Hay là mẹ đẻ đặt tên cho?

Cách giải thích này đã hạ thấp hoàn toàn giá trị của nhân vật, biến cái danh hiệu vốn dĩ cao quý trở thành một thứ tên gọi dân dã, thậm chí là lố bịch. Nó cho thấy sự xuống cấp của những giá trị học thuật trong thời buổi mà thực thực giả giả khó phân, nơi mà một kẻ không chữ nghĩa cũng có thể ung dung khoác lên mình cái mác trí thức. Điều này phản ánh một xã hội đang trong cảnh giao thời hỗn loạn, khi những giá trị cũ đang suy tàn và những thứ giả dối mới đang nảy nở.

Đến những câu tiếp theo, Tú Xương tập trung miêu tả ngoại hình và cử chỉ của ông đồ Bốn để khắc họa sự tương phản nực cười giữa vẻ bề ngoài và bản chất bên trong:

“Áo quần đĩnh đạc trông ra cậu,

Ăn nói nghề nhàng nhác giọng Ngô.

Nhân vật xuất hiện với bộ áo quần đĩnh đạc trông ra cậu, cách ăn nói nhề nhàng nhác giọng Ngô. Vẻ ngoài chỉn chu, cách nói năng cố tỏ ra phong lưu, học thức ấy thực chất chỉ là một lớp vỏ bọc kệch cỡm. Sự tương phản này tạo ra tiếng cười châm biếm sâu cay: một kẻ cố gắng đóng vai người có học nhưng lại không giấu được sự rỗng tuếch bên trong. Nghệ thuật miêu tả nhân vật của Tú Xương rất tinh tế, ông không chỉ tả mà còn gợi ra cái vẻ khoe khoang, hợm hĩnh của những kẻ thích làm sang.

Đỉnh điểm của bài thơ nằm ở hai câu cuối, khi bộ mặt thật của ông đồ Bốn bị phơi bày hoàn toàn:

Hỏi mãi mới ra thằng bán sắt,

Mũi nó gồ gồ, trán nó giô.

Hóa ra, sau tất cả những vẻ hào nhoáng ấy, kẻ được gọi là đồ thực chất chỉ là thằng bán sắt. Cách dùng từ thằng của Tú Xương mang tính hạ nhục và bóc trần sự thật một cách quyết liệt. Hình ảnh ngoại hình mũi nó gồ gồ, trán nó giô không chỉ miêu tả diện mạo thô kệch mà còn như một dấu ấn khẳng định cái bản chất bình dân, lam lũ không thể che đậy được. Những nét tướng mạo này vốn dĩ không xấu đối với một người lao động, nhưng khi đặt cạnh cái danh xưng đồ giả tạo, nó lại trở thành công cụ để tác giả nhạo báng sự dối trá.

Về mặt nghệ thuật, bài thơ sử dụng ngôn ngữ đời thường hết sức tự nhiên nhưng lại mang sức công phá lớn. Lối viết theo thể thất ngôn bát cú kết hợp với giọng điệu mỉa mai, hỏi xoáy đáp xoay đã tạo nên một cấu trúc trào phúng chặt chẽ. Tú Xương không cần dùng những lời lẽ đao to búa lớn, chỉ cần những chi tiết hiện thực trần trụi cũng đủ để hạ bệ sự lố lăng của nhân vật.

Qua bài thơ, Tú Xương không chỉ giễu cợt một cá nhân cụ thể là ông đồ Bốn mà còn lên án thực trạng xã hội bát nháo, nơi những giá trị đạo đức và học vấn bị rẻ rúng. Tiếng cười của Tú Xương ở đây vừa hóm hỉnh, vừa sắc lạnh như một nhát dao cắt vào sự giả dối. Bài thơ đã thể hiện tài năng bậc thầy của ông trong việc sử dụng ngôn ngữ bình dân và khả năng quan sát tinh tế để tạo nên một bức chân dung trào phúng bất hủ, góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn học hiện thực Việt Nam.

Bài làm

Để thể hiện tinh thần yêu nước, em luôn cố gắng rèn luyện và đóng góp từ những hành động thiết thực nhất. Ở hiện tại, em luôn nỗ lực học tập thật tốt để sau này có đủ kiến thức xây dựng đất nước ngày một giàu đẹp hơn. Em cũng tích cực tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường tại địa phương và luôn có ý thức tôn trọng, giữ gìn những nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc. Trong tương lai, em sẽ tiếp tục phấn đấu để trở thành một công dân có ích, sẵn sàng dấn thân vào những công việc khó khăn khi tổ quốc cần đến. Em tin rằng tình yêu nước không cần phải là điều gì quá lớn lao mà chính là sự trách nhiệm và nỗ lực bền bỉ trong cuộc sống hàng ngày.

Thông điệp từ bài thơ Chạy giặc của Nguyễn Đình Chiểu:

Thứ nhất, bài thơ là lời tố cáo mạnh mẽ tội ác của giặc Pháp khi chúng xâm lược, phá tan cuộc sống yên bình của nhân dân và làm quê hương tan tác. Qua đó, tác giả thể hiện lòng yêu nước sâu sắc và nỗi đau xót vô hạn trước cảnh mất nước, nhà tan.

Thứ hai, tác giả gửi gắm sự đồng cảm, xót thương đối với nỗi khổ cực của những người dân lành vô tội, đặc biệt là hình ảnh trẻ em và người dân nghèo trong cảnh loạn lạc.

Thứ ba, hai câu cuối là lời kêu gọi đầy khát khao về trách nhiệm của những người có tài, có đức hãy đứng ra cứu nước cứu dân. Đây là thông điệp về sự thức tỉnh ý thức trách nhiệm cá nhân trước vận mệnh chung của dân tộc.

Bài làm

Trong hành trình hoàn thiện nhân cách của mỗi con người, trách nhiệm luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, định vị giá trị của cá nhân trong lòng cộng đồng. Một người biết sống trách nhiệm không chỉ đem lại hạnh phúc cho bản thân mà còn trở thành điểm tựa cho những người xung quanh. Thế nhưng, thật đáng buồn khi nhìn vào thực tế hiện nay, một bộ phận không nhỏ giới trẻ đang trượt dài trong lối sống vô trách nhiệm. Đây là một căn bệnh tâm lý nguy hiểm, đang âm thầm bào mòn sức sống và lý tưởng của thế hệ trẻ.

Lối sống vô trách nhiệm không phải là điều gì quá xa xôi, nó hiện hữu ngay trong những hành động nhỏ nhặt thường ngày. Trước hết là trách nhiệm với chính bản thân mình. Nhiều bạn trẻ hiện nay dành hàng giờ đồng hồ mỗi ngày để đắm chìm trong thế giới ảo, những trò chơi điện tử hay những đoạn video ngắn vô bổ trên mạng xã hội mà quên đi việc trau dồi tri thức và rèn luyện thể chất. Họ bỏ mặc tương lai, sống theo kiểu ngày mai ra sao cũng được, miễn là hôm nay được vui chơi. Sự lười biếng, cẩu thả trong học tập và công việc chính là biểu hiện rõ nhất của việc đánh mất trách nhiệm với vận mệnh của chính mình.

Không dừng lại ở đó, lối sống này còn lan rộng ra phạm vi gia đình và xã hội. Trong gia đình, không hiếm những người trẻ dù đã trưởng thành nhưng vẫn sống như những ký sinh trùng, xem việc bố mẹ nuôi nấng, phục vụ mình là bổn phận đương nhiên. Họ thờ ơ trước những sợi tóc bạc của cha, những vết chai sạn trên tay mẹ, chỉ biết đòi hỏi quyền lợi mà chưa bao giờ tự hỏi mình đã làm được gì để đền đáp công ơn ấy. Ra đến xã hội, sự vô trách nhiệm biến tướng thành sự vô cảm. Đó là khi thấy người bị tai nạn trên đường thì đứng nhìn hoặc quay phim thay vì giúp đỡ, là khi thấy cái xấu cái ác thì cúi đầu làm ngơ vì sợ liên lụy. Họ xả rác nơi công cộng, phá hoại của công, vi phạm luật lệ giao thông với suy nghĩ rằng việc đó chẳng ảnh hưởng gì đến ai.

Nguyên nhân của thực trạng này đến từ nhiều phía, tạo nên một sự cộng hưởng tiêu cực. Về phía gia đình, nhiều bậc cha mẹ vì quá yêu con nên đã bao bọc, làm thay mọi việc, khiến con cái mất đi khả năng tự lập và ý thức về nghĩa vụ. Về phía giáo dục, đôi khi chúng ta còn quá chú trọng vào điểm số mà nhẹ đi việc dạy cách làm người, dạy cách đối nhân xử thế và ý thức công dân. Tuy nhiên, nguyên nhân cốt lõi vẫn nằm ở ý thức chủ quan của giới trẻ. Sự thiếu hụt về bản lĩnh, cộng với tâm lý thích hưởng thụ và lối sống thực dụng đã khiến nhiều bạn trẻ lựa chọn con đường dễ dàng nhất là rũ bỏ trách nhiệm để sống cho thỏa mãn cái tôi cá nhân.

Hậu quả của lối sống vô trách nhiệm là vô cùng nặng nề và khó lường. Với cá nhân, nó khiến con người trở nên bạc nhược, thiếu tự tin và dễ dàng gục ngã trước những biến cố của cuộc đời. Một người không có trách nhiệm sẽ chẳng bao giờ nhận được sự tin tưởng và tôn trọng từ người khác, từ đó cánh cửa thành công cũng sẽ đóng sập lại trước mắt họ. Với xã hội, nếu thế hệ trẻ – lực lượng kế cận của đất nước – mà sống thiếu trách nhiệm, thì tương lai của dân tộc sẽ đi về đâu? Đất nước sẽ thiếu đi những người dám nghĩ dám làm, thiếu đi những trái tim nóng hổi biết cống hiến, và hệ quả là sự trì trệ, suy thoái của toàn xã hội.

Để ngăn chặn và đẩy lùi lối sống này, chúng ta cần một cuộc cách mạng về nhận thức. Bản thân mỗi người trẻ cần hiểu rằng, trách nhiệm không phải là một gánh nặng đè lên vai, mà là một đặc quyền để chúng ta lớn lên. Hãy bắt đầu từ những việc nhỏ nhất: tự dọn dẹp căn phòng của mình, tự giác hoàn thành bài tập, biết nói lời xin lỗi khi làm sai và biết giúp đỡ mọi người xung quanh. Gia đình và nhà trường cũng cần thay đổi phương pháp, tạo điều kiện để người trẻ được thử thách, được chịu trách nhiệm về những quyết định của mình.

Như một nhà văn từng nói: Mỗi người đều phải mang theo mình một túi đá, nếu bạn không tự mang túi đá của mình, người khác sẽ phải mang thay bạn. Đừng để sự lười biếng và ích kỷ biến bạn trở thành gánh nặng cho xã hội. Hãy sống sao cho mỗi ngày trôi qua, chúng ta đều có thể tự hào rằng mình đã sống trọn vẹn với trách nhiệm của một con người, một người con trong gia đình và một công dân của đất nước. Chỉ khi biết sống trách nhiệm, chúng ta mới có thể chạm tay vào hạnh phúc đích thực và góp phần xây dựng một Việt Nam hùng cường, rạng rỡ.

Câu 1:

- Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.

Câu 2:

- Đối tượng trào phúng chính là bản thân tác giả. Qua việc tự giễu cợt chính mình, nhà thơ cũng kín đáo thể hiện sự châm biếm đối với tầng lớp trí thức cũ trước sự thay đổi của thời cuộc.

Câu 3:

- Nghĩa của từ: Làng nhàng có nghĩa là ở mức trung bình, tầm thường, không có gì nổi bật hay xuất sắc.

- Thái độ của tác giả: Thể hiện sự tự trào, khiêm tốn nhưng ẩn chứa nỗi đau xót, bất lực. Tác giả tự thấy mình mờ nhạt, chưa làm được gì xứng đáng với tài năng và danh tiếng của mình.

Câu 4:

- Nghệ thuật: Sử dụng những hình ảnh ẩn dụ từ các trò chơi giải trí như đánh cờ, đánh bạc để nói về tình cảnh của đất nước và cuộc đời.

- Tác dụng: Làm nổi bật sự bế tắc, bất lực của người trí thức trước vận nước đã tàn. Tiếng cười tự trào ở đây mang sắc thái cay đắng, xót xa cho một nhân cách lớn nhưng gặp phải thời thế xoay vần.

Câu 5:

- Em hiểu 2 câu thơ thể hiện nỗi chán ngán của Nguyễn Khuyến về chính bản thân mình. Ông tự mỉa mai rằng dù có tên tuổi ghi trên bia đá, bảng vàng (biểu tượng của sự đỗ đạt, thành công) nhưng thực chất lại không giúp ích gì được cho dân cho nước trong cảnh nô lệ. Đó là sự đối lập giữa danh hiệu và giá trị thực tế.

Câu 6:

- Từ nội dung trên, thông điệp của bài thơ, theo em, giới trẻ cần nỗ lực học tập để nắm vững kiến thức thực tế, không chạy theo bằng cấp ảo. Mỗi người cần rèn luyện bản lĩnh, sống có trách nhiệm với cộng đồng và dám dấn thân vào những việc khó để đóng góp sức trẻ cho sự phát triển của dân tộc.

Bài làm

Nếu như Xuân Diệu được mệnh danh là “ông hoàng của thơ tình” thì Nguyễn Khuyến lại như là một “nhà thơ của dân tình, làng cảnh Việt Nam”. Thơ của ông nói lên tình yêu quê hương, đất nước, tình yêu gia đình, bạn bè, phản ánh cuộc sống thuần khổ của nông dân, châm biếm đả kích tầng lớp thống trị, đồng thời bộc lộ tấm lòng ưu ái với dân, với nước. Trong số tác phẩm đặc sắc đó, không thể không kể đến bài thơ “Ông phỗng đá” – đỉnh cao chói sáng trong thơ trào phúng của Nguyễn Khuyến. Bài thơ là lời tự trào của tác giả khi đứng trước hình ảnh ông phỗng đá trên hòn non bộ.

Bài thơ trào phúng ngay từ nhan đề gợi hình ảnh “ông phỗng” - hình tượng đá thường được trưng trong văn hóa Việt Nam. Trong buổi dạy học ở nhà quan kinh lược Hoàng Cao khải, nhân thấy đôi phỗng đá ngoài vườn, thi sĩ Nguyễn Khuyến bèn tức cảnh làm bài thơ Ông phỗng đá.

Hình ảnh phỗng đá là hình ảnh rất quen thuộc ở làng quê Việt Nam, cũng như rất quen thuộc trong thơ ca. Với Nguyễn Dư là “thằng phỗng, ông phỗng”, còn đối với Nguyễn Khuyến - người để ý tới phỗng nhiều nhất lại là hình ảnh ông phỗng đá đang đứng cô đơn, lẻ bóng trên hòn non bộ ở giữa hồ. Hai câu thơ đầu là câu hỏi tu từ khắc họa hình ảnh ông phỗng đá:

Ông đứng đó làm chi hỡi ông?

Trơ trơ như đá, vững như đồng

Câu hỏi tu từ ngay khi vừa mở đầu vừa như là một sự băn khoăn, vừa như là sự mỉa mai và ngụ ý châm biếm của tác giả. Câu thơ cất lên phải chăng như một sự thăm dò công việc của ông phỗng đá. Thán từ “ hỡi” kết hợp với đại từ “ông” làm cho câu thơ mang giá trị biểu cảm cao, bộc lộ cảm xúc dâng trào. Tác giả hỏi ông phỗng đá đứng đó làm gì, dường như cũng có thêm sự mỉa mai, bởi vì chính bản thân ông phỗng đá cũng đâu biết mình đang làm công việc gì. Câu thơ tiếp theo càng làm rõ thêm bức chân dung về ông phỗng đá:

“Trơ trơ như đá, vững như đồng”

Từ láy “trơ trơ”, kết hợp với hình ảnh so sánh “ như đá”, “vững như đồng” càng làm rõ nét thêm hình ảnh của ông phỗng đá. Đó phải chăng là hình ảnh phỗng đá đứng bất động mặc kệ sự biến động của trời đất, hình ảnh ông phỗng đá trơ trơ không quan tâm tới xung quanh, lúc nào cũng vậy, cũng đứng đó như một kẻ bù nhìn? Hay là sự mỉa mai, phê phán của nhà thơ về những thói xấu ở đời, thói xấu của bọn quan lại không biết xót thương tới những cảnh lầm than của người dân trong cái xã hội cùng cực đó, chỉ biết như “ông phỗng đá” kệ mặc cuộc sống của những con người cùng cực ấy. Những dòng thơ trào phúng mang giọng điệu phê phán của Nguyễn Khuyến không chỉ xuất hiện trong những câu thơ trên, mà nó như một nỗi ám ảnh, day dứt, khiến nhà thơ trăn trở mãi, và nó còn xuất hiện trong bài “Lời vợ anh phường chèo”:

“Vua chèo còn chẳng ra gì

Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề”.Hai câu thơ tiếp theo mở ra giúp ta hiểu rõ hơn về công việc, cũng như hình ảnh ông phỗng, đồng thời hiểu rõ được dụng ý mỉa mai sâu cay tầng lớp thống trị và tấm lòng nhà thơ:

“Đêm ngày gìn giữ cho ai đó?

Non nước đầy vơi có biết không?

Cả bài thơ có bốn dòng thơ, nhưng lại tới ba câu là câu hỏi tu từ. Ba câu hỏi dồn dập nhau với nhiều ý tưởng: Ông phỗng đá đứng đó làm chi vậy? Trước mặt ông phỗng đá là giang sơn gấm vóc của Tổ tiên nhà, có phải muốn canh chừng, giữ gìn cho ai đó chăng? Và cái mảnh giang sơn đó giờ như nào? Hắn có biết chăng? Các câu hỏi dồn dập nhau, ý chừng cụ Tam Nguyên Yên Đổ như muốn khuynh đáo pho tượng, bắt buộc ông phỗng đá phải đáp lại, phải thốt lên thành lời.. Nhưng ông phỗng đá sao trả lời được.. Những câu hỏi ấy của nhà thơ như là lời tự trào, như một tiếng hú, tiếng kêu thất thanh trong nhân loại.Câu thơ “Đêm ngày giữ gìn cho ai đó?”, ý hỏi ông phỗng đá đang ngày đêm gìn giữ điều gì, có phải đang níu kéo cái đạo lý cương thường một thời của Nho giáo đang mất dần vị thế độc tôn? Câu thơ cuối cùng như là một sự trách móc khéo léo mà thâm thúy của nhà thơ:

“Non nước đầy vơi có biết không?”

Hình ảnh “non nước đầy vơi” gợi mở ra nhiều ý nghĩa. Non nước đầy vơi ấy không chỉ là hình ảnh giang sơn, núi đầy vơi như nào, khung cảnh ra sao. Mà “non nước đầy vơi” ở đây chính là cái thực trạng xã hội khi đó Nguyễn Khuyến sống. Đó là cái xã hội phong kiến đầy biến động: Thực dân Pháp đang rêu rao xâm lược, triều đình thì bạc nhược, quan lại thì bù nhìn, các phong trào đấu tranh yêu nước thì dập tắt. Với việc sử dụng liên tiếp hai câu hỏi tu tiếp ở đây không chỉ thể hiện thái độ mỉa mai, châm biếm của tác giả trước sự vô cảm, vô trách nhiệm của đám quan lại, triều đình phong kiến trước an nguy của đất nước, sự suy vọng của dân tộc. Mà phải chăng đó là sự tự trách mình của chính nhà thơ? Nguyễn Khuyến thấy mình như một kẻ thừa thãi trong guồng máy thống trị phong kiến. Ông trách mình vô dụng, trách bản thân cũng như một ông phỗng, cũng chỉ biết đứng nhìn chứ không giúp gì được cho dân, cho nước. Giọng điệu thơ của tác giả nhẹ nhàng, mà thâm thúy khác hẳn với tiếng trào phúng đầy suồng sã, chua cay, dữ dội của Tú Xương trong bài “Ông cử Nhu”:

“Sơ khảo trường Nam bác cử Nhu

Thật là vừa dốt mà lại vừa ngu”.

Lê-ô-nit Lê-ô-nốp từng nói: “Mỗi tác phẩm không chỉ là một khám phá về nội dung, mà còn là phát minh về hình thức”. Quả đúng như vậy, bài thơ “Ông phỗng đá” không chỉ hấp dẫn người đọc bởi nội dung đặc sắc, mà còn bởi nghệ thuật vô cùng đọc đáo của Nguyễn Khuyến trong thơ trào phúng. Lối trào phúng của Nguyễn Khuyến trong bài thơ này là lối trào phúng gián tiếp, kín đáo và thâm thúy, ý định trào phúng của tác giả không bộc lộ trên bề mặt văn bản mà chìm sâu sau hình ảnh và từ ngữ. Không những thế, tác giả còn sử dụng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt hết sức tài tình, ngôn ngữ, hình ảnh gần gũi đối với quê hương. Các từ láy, biện pháp tu từ so sánh được sử dụng linh hoạt trong bốn câu thơ khiến cho bài thơ trở nên đặc sắc. Đặc biệt, là cách sử dụng câu hỏi tu từ ba trên bốn dòng thơ, hỏi mà không có người trả lời, đã khơi dậy trong lòng đọc giả biết bao suy tư, băn khoăn về xã hội một thời. Tất cả những biện pháp nghệ thuật ấy đã giúp phần làm nổi bật hình ảnh ông phỗng đá giữa hòn núi non bộ, đồng thời còn là sự phê phán của tác giả giữa thực trạng xã hội đó, cái xã hội mà ở đó, quan lại triều đình thờ ơ trước sự sống còn của những người dân thấp cổ bé họng.

Bài thơ được ra đời trong hoàn cảnh xã hội thực dân nửa phong kiến với những biểu hiện lố lăng, kệch cỡm. Ở đó mọi giá trị đạo đức truyền thống đã bị đảo lộn, còn cái mới lại mang bộ mặt của kẻ xâm lược. Ngòi bút thâm trầm mà sâu cay của Nguyễn Khuyến đã chĩa mũi nhọn vào những chỗ hiểm yếu nhất của cái ung nhọt ấy. Trong “Ông phỗng đá” nhà thơ đã đem ra trào phúng, châm biếm, hình ảnh triều đình, quan lại, bạc nhược thờ ơ trước những nỗi đau khốn cùng của người dân. Để có được sự thành công khi sử dụng lối trào phúng ấy, chính Nguyễn Khuyến cũng là người trong cuộc, ông cũng là người làm quan một thời, là người trơ trơ như ông phỗng đá không giúp ích gì được cho dân, cho nước. Tính tự trào của bài thơ cũng hé mở cho ta nhận thấy, nghe thấy, chứng kiến cuộc đối thoại của nhà thơ với chính mình – tiếng nói phản tỉnh của một người trong cuộc. Đó cũng chính là tiếng nói phản chính thống, một hành vi tưởng như là nói ngược nhưng thực chất lại phản ánh một cách chính xác nhất bản chất của xã hội và sự tha hóa của lớp người đại diện cho tinh hoa của thể chế đương thời.

Tuy chỉ là một bài thơ ngắn, thế nhưng tác phẩm không chỉ giúp ta hiểu rõ hơn về nghệ thuật thơ trào phúng, mà còn khiến tả cảm nhận rõ hơn thực trạng xã hội phong kiến với những “ông phỗng” thờ ơ trước vận mệnh của nhân dân. Chính vì thế, lớp bụi thời gian có thể phủ nhòa đi mọi thứ, nhưng bài thơ này cùng giá trị châm biếm, mỉa mai sâu cay thì vẫn còn mãi như minh chứng cho tấm lòng lo lắng cho “non nước” của nhà thơ Nguyễn Khuyến.


Từ "thiếu phụ" trong câu này không chỉ đơn thuần để định danh, mà còn để tôn vinh vẻ đẹp trẻ trung đằm thắm, phong thái lịch sự của người phụ nữ trong vai trò người mẹ.

Theo em, ý kiến trên hoàn toàn chính xác vì tiếng cười trong đời sống và văn học không chỉ để giải trí mà còn mang chức năng phê phán sâu sắc. Khi đối diện với những thói hư tật xấu hay những hiện tượng tiêu cực, tiếng cười trở thành vũ khí sắc bén để mỉa mai, châm biếm và hạ bệ những cái lỗi thời, kệch cỡm. Thông qua sự hài hước, những mặt trái của xã hội được phơi bày một cách nhẹ nhàng nhưng thấm thía, buộc người ta phải nhìn nhận lại mình để tự sửa đổi. Sức mạnh của tiếng cười giúp con người đấu tranh với cái ác, cái xấu một cách đầy trí tuệ, từ đó hướng tới xây dựng một cuộc sống tốt đẹp và hoàn thiện hơn.