Nguyễn Thanh Tuyển
Giới thiệu về bản thân
Thói quen trì hoãn đang trở thành một vấn đề phổ biến trong đời sống hiện đại, đặc biệt khi con người ngày càng bị cuốn vào nhịp sống nhanh và sự hấp dẫn của công nghệ. Ý kiến cho rằng trì hoãn ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống và tương lai của con người là hoàn toàn có cơ sở, bởi đây không chỉ là một thói quen xấu mà còn là rào cản lớn đối với sự phát triển cá nhân.
Trì hoãn là việc con người cố tình chậm trễ hoặc né tránh những công việc cần phải làm, dù biết rõ hậu quả có thể xảy ra. Biểu hiện của nó rất đa dạng: từ việc chần chừ học bài, làm việc, đến việc trì hoãn những quyết định quan trọng trong cuộc sống. Nguyên nhân của thói quen này có thể đến từ tâm lí sợ thất bại, thiếu động lực, lười biếng hoặc bị phân tâm bởi các yếu tố bên ngoài như mạng xã hội, trò chơi giải trí.
Tác hại đầu tiên và rõ ràng nhất của trì hoãn là làm giảm hiệu quả công việc và học tập. Khi một nhiệm vụ bị dồn lại đến sát thời hạn, con người thường phải làm trong trạng thái căng thẳng, vội vàng, dẫn đến chất lượng không cao. Lâu dần, điều này hình thành một vòng luẩn quẩn: trì hoãn – áp lực – kết quả kém – mất tự tin. Không chỉ vậy, trì hoãn còn làm lãng phí thời gian – nguồn tài nguyên quý giá mà một khi đã mất đi thì không thể lấy lại. Những người thường xuyên trì hoãn dễ đánh mất nhiều cơ hội trong học tập, công việc và cả các mối quan hệ.
Nghiêm trọng hơn, trì hoãn ảnh hưởng trực tiếp đến tương lai của mỗi cá nhân. Thành công không đến từ những quyết định lớn lao nhất thời mà được tích lũy từ những hành động nhỏ mỗi ngày. Nếu cứ trì hoãn, con người sẽ bỏ lỡ quá trình rèn luyện, phát triển bản thân, từ đó khó đạt được mục tiêu dài hạn. Một học sinh trì hoãn việc học có thể dẫn đến kết quả kém; một người trẻ trì hoãn việc trau dồi kĩ năng sẽ khó cạnh tranh trong công việc. Về lâu dài, điều này có thể khiến họ tụt lại phía sau trong xã hội đầy cạnh tranh.
Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận rằng không phải mọi sự trì hoãn đều hoàn toàn tiêu cực. Trong một số trường hợp, việc “tạm hoãn” có thể giúp con người có thêm thời gian suy nghĩ, cân nhắc kĩ lưỡng trước khi hành động. Nhưng ranh giới giữa trì hoãn tích cực và trì hoãn tiêu cực là rất mong manh. Nếu không kiểm soát tốt, sự chần chừ sẽ nhanh chóng biến thành thói quen xấu.
Để khắc phục tình trạng trì hoãn, mỗi người cần rèn luyện tính kỉ luật và ý thức trách nhiệm với bản thân. Việc lập kế hoạch cụ thể, chia nhỏ mục tiêu, ưu tiên những việc quan trọng và bắt đầu hành động ngay từ những bước nhỏ là những cách hiệu quả. Bên cạnh đó, cần hạn chế các yếu tố gây xao nhãng, đặc biệt là việc sử dụng thiết bị công nghệ không cần thiết. Quan trọng hơn cả là thay đổi tư duy: thay vì chờ đợi “đúng lúc”, hãy tạo ra “đúng lúc” bằng hành động của chính mình.
Tóm lại, trì hoãn không chỉ là một thói quen xấu mà còn là “kẻ đánh cắp” thời gian và cơ hội của con người. Nhận thức rõ tác hại của nó và chủ động thay đổi sẽ giúp mỗi người làm chủ cuộc sống, hướng tới một tương lai tốt đẹp hơn.
Câu 1.
Văn bản bàn về tác hại của việc phụ thuộc vào công nghệ hiện đại đối với đời sống con người.
Câu 2.
Câu văn nêu ý kiến trong đoạn (3):
“Công nghệ khiến cho công việc xâm nhập cả vào cuộc sống gia đình và vui chơi giải trí.”
Câu 3.
a. Phép liên kết: phép thế (đại từ “họ” thay cho “người lao động”).
b. Phép liên kết chủ yếu: phép lặp (lặp từ “công nghệ”).
Câu 4.
Các bằng chứng trong đoạn (4) giúp làm rõ và tăng tính thuyết phục cho luận điểm về việc công nghệ xâm phạm quyền riêng tư, đồng thời khiến người đọc nhận thức rõ mức độ nguy hiểm và tính hiện hữu của vấn đề.
Câu 5.
Thái độ của người viết: lo ngại, cảnh báo và phê phán việc lạm dụng, phụ thuộc vào công nghệ, đồng thời kêu gọi con người cần tỉnh táo, cảnh giác.
Câu 6.
Từ góc nhìn người trẻ, để tăng sự gắn kết trong thời đại công nghệ, cần:
- Hạn chế thời gian sử dụng thiết bị công nghệ, ưu tiên giao tiếp trực tiếp.
- Dành thời gian cho gia đình, bạn bè qua những hoạt động chung như ăn uống, trò chuyện, du lịch.
- Chủ động gặp gỡ, chia sẻ cảm xúc thật thay vì chỉ tương tác qua mạng.
- Rèn luyện kĩ năng giao tiếp, lắng nghe và thấu hiểu người khác.
Những điều này giúp giữ được các mối quan hệ bền chặt và cân bằng giữa đời sống thực và công nghệ.
Có một câu nói mà con người của muôn thời đại đều cần phải khắc ghi, đó là nếu đánh mất và bỏ mặc quá khứ, bạn không bao giờ có hiện tại và tương lai. Hay một cách ngắn gọn, nó đằm mình trong câu tục ngữ truyền thống bao đời của dân tộc ta "Uống nước nhớ nguồn”. Chính vì thế, hàng năm, vẫn có những lễ hội truyền thống để nhắc nhở con cháu đời đời về nguồn cội vĩnh hằng của cha ông, lễ hội đền hùng chính là mang ý nghĩa thiêng liêng ấy.
“Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba
Khắp miền truyền mãi câu ca
Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm”
Giỗ Tổ mùng 10 tháng 3 trở thành ngày lễ trọng đại của dân tộc. Tôi cũng đã có dịp may mắn một lần được hành hương về đất Tổ, phong cảnh, những câu chuyện lịch sử về các vị vua Hùng - những người đã dựng xây đất nước đã in sâu trong tâm trí tôi.
Lễ hội đền Hùng là dịp những đứa con ở khắp nơi trên tổ quốc cùng trở về Phú Thọ quê tổ để cùng thể hiện lòng thờ kính thiêng liêng dành cho nguồn cội lịch sử của dân tộc ta, để tri ân các vị vua Hùng đã có công dựng nước để con cháu sau này đời đời được sống trên mảnh đất giàu truyền thống và mang những nét đẹp tâm hồn riêng. Hàng năm, cứ vào dịp này, những người con đất Việt từ khắp nơi trên tổ quốc, thậm chí cả kiều bào ta sinh sống công tác ở nước ngoài cũng luôn lắng lòng để tưởng nhớ về lễ hội truyền thống của dân tộc. Chính vì mang trong nó không chỉ tính nghi lễ mà còn bao chứa cả lớp trầm tích văn hóa lịch sử ngàn đời cùng đạo lí dân tộc sâu sắc, mà ngày lễ giỗ tổ Hùng Vương được xem là ngày quốc lễ của dân tộc ta.
Giỗ Tổ bao gồm có 2 phần riêng biệt đó là phần lễ và phần hội. Lễ Rước Kiệu với các đền, chùa trên núi, các vị lãnh đạo của đất nước dâng hương lên vua Hùng tổ chức tại đền Thượng. Các nghi thức tổ chức, dâng hương sẽ được tổ chức long trọng, thành kính và sẽ được báo chí, phát thanh truyền hình đưa tin. Đồng bào trong cả nước được dâng lễ trong các đền, chùa, với sự thành kính và cầu mong yên bình, làm ăn thành công.
Bên cạnh đó phải nhắc đến lễ Dâng Hương các đền, chùa trên núi. Lễ hội còn giúp người dân tham gia sinh hoạt văn hoá cổ xưa. Người dân sẽ được xem các trò chơi như đấu vật, chọi gà, rước kiệu, đánh cờ người…. Còn có sân khấu riêng của các đoàn nghệ thuật: chèo, kịch nói, hát quan họ,… Các nghệ sĩ, nghệ nhân từ nhiều nơi về đây để trình diễn những làn điệu hát xoan mượt mà, đặc sắc mang đến cho cho lễ hội đền Hùng đặc trưng riêng của Đất Tổ.
Những người đến đây không chỉ là xem lễ hội mà còn thể hiện sự tâm linh, thành kính với quê hương đất Tổ, ai cũng biết đây là nơi gốc gác linh thiêng, cội nguồn của dân tộc. Hàng năm, cứ đến mùng 10 tháng 3, người dân và du khách tham gia trẩy hội đền Hùng, đây là nét đẹp truyền thống của dân tộc Việt Nam. Lễ hội rất linh thiêng và thể hiện sự biết ơn công lao dựng nước và giữ nước của các vua Hùng.
Lý Công Uẩn người làng cổ Pháp thuộc Đông Ngạn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Hiện nay ở làng Đình Bảng vẫn còn có lăng và đền thờ các vua nhà Lý.
Tục truyền rằng Công uẩn không có cha; mẹ là Phạm Thị đi chơi chùa Tiên Sơn (làng Tiên Sơn, phủ Từ Sơn) , đêm về nằm mộng thấy "đi lại" với thần nhân, rồi có thai đẻ ra đứa con trai. Lên ba tuổi, đứa bé càng khôi ngô tuấn tú; gia đình đem cho nhà sư ở chùa cổ Pháp tên là Lý Khánh Văn làm con nuôi. Lý Công uẩn được học hành chữ Nho, kinh Phật và võ nghệ từ nhỏ, lớn lên dưới mái chùa, trở thành một tài trai văn võ siêu quần.
Ngoài 20 tuổi, Lý Công uẩn đã làm võ tướng dưới triều vua Lê Đại Hành, từng lập công to trong trận Chi Lăng (981) đại phá quân Tống xâm lược, chém đầu tướng giặc Hầu Nhân Bảo. Về sau, ông giữ chức Tả thân vệ Điện tiền Chỉ huy sứ, nắm trong tay toàn bộ binh quyền. Đức trọng tài cao, ông được quần thần và tướng sĩ rất kính phục. Năm 1005, Lê Đại Hành băng hà. Ngôi vua được truyền cho Lê Long Việt. Chỉ 3 ngày sau, Lê Long Đĩnh giết anh, giành lấy ngai vàng. Lê Long Đĩnh là một tên vua vô cùng bạo ngược khác nào Kiệt, Trụ ngày xưa. Hắn hoang dâm vô độ, nên mắc bệnh không ngồi được; đến buổi chầu thì cứ nằm mà thị triều, cho nên tục gọi là Vua Ngọa Triều. Cuối năm 1009, Lê Ngọa Triều chết. Năm đó, Lý Công uẩn đã 35 tuổi. Bấy giờ lòng người đã oán giận nhà Tiền Lê lắm rồi; quân thần và tầng lớp tăng lữ suy tôn ông lên ngôi báu, mở đầu triều đại nhà Lý (1010- 1225).
Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế vào đầu xuân 1010, tức là vua Lý Thái Tổ nhà Lý. Nhà vua trị vì được 19 năm, thọ 55 tuổi, băng hà năm 1028.
Lý Công Uẩn người làng cổ Pháp thuộc Đông Ngạn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Hiện nay ở làng Đình Bảng vẫn còn có lăng và đền thờ các vua nhà Lý.
Tục truyền rằng Công uẩn không có cha; mẹ là Phạm Thị đi chơi chùa Tiên Sơn (làng Tiên Sơn, phủ Từ Sơn) , đêm về nằm mộng thấy "đi lại" với thần nhân, rồi có thai đẻ ra đứa con trai. Lên ba tuổi, đứa bé càng khôi ngô tuấn tú; gia đình đem cho nhà sư ở chùa cổ Pháp tên là Lý Khánh Văn làm con nuôi. Lý Công uẩn được học hành chữ Nho, kinh Phật và võ nghệ từ nhỏ, lớn lên dưới mái chùa, trở thành một tài trai văn võ siêu quần.
Ngoài 20 tuổi, Lý Công uẩn đã làm võ tướng dưới triều vua Lê Đại Hành, từng lập công to trong trận Chi Lăng (981) đại phá quân Tống xâm lược, chém đầu tướng giặc Hầu Nhân Bảo. Về sau, ông giữ chức Tả thân vệ Điện tiền Chỉ huy sứ, nắm trong tay toàn bộ binh quyền. Đức trọng tài cao, ông được quần thần và tướng sĩ rất kính phục. Năm 1005, Lê Đại Hành băng hà. Ngôi vua được truyền cho Lê Long Việt. Chỉ 3 ngày sau, Lê Long Đĩnh giết anh, giành lấy ngai vàng. Lê Long Đĩnh là một tên vua vô cùng bạo ngược khác nào Kiệt, Trụ ngày xưa. Hắn hoang dâm vô độ, nên mắc bệnh không ngồi được; đến buổi chầu thì cứ nằm mà thị triều, cho nên tục gọi là Vua Ngọa Triều. Cuối năm 1009, Lê Ngọa Triều chết. Năm đó, Lý Công uẩn đã 35 tuổi. Bấy giờ lòng người đã oán giận nhà Tiền Lê lắm rồi; quân thần và tầng lớp tăng lữ suy tôn ông lên ngôi báu, mở đầu triều đại nhà Lý (1010- 1225).
Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế vào đầu xuân 1010, tức là vua Lý Thái Tổ nhà Lý. Nhà vua trị vì được 19 năm, thọ 55 tuổi, băng hà năm 1028.
Đất nước có được nền hòa bình ngày hôm nay, không biết bao cha anh đã ngã xuống, không tiếc máu xương để bảo vệ độc lập, tự do cho dân tộc. Anh Kim Đồng là một tấm gương sáng trong số những người anh hùng như vậy.
Anh Kim Đồng là người dân tộc Tày. Cha mất sớm, anh sống cùng mẹ - một người phụ nữ đảm đang nhưng ốm yếu. Sống trong cảnh đất nước bị xâm lược nên từ nhỏ, Kim Đồng đã dũng cảm, quyết đoán, mạnh mẽ, có tinh thần yêu nước, căm thù giặc. Tuy tuổi còn nhỏ nhưng anh rất hăng hái làm nhiệm vụ giao liên, đưa đón Việt Minh và chuyển thư từ. Anh được bầu làm đại đội trưởng đầu tiên của Đội Nhi đồng cứu quốc. Anh không ngại khó khăn, thử thách, nguy hiểm luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Trong một lần làm nhiệm vụ, anh bị giặc Pháp bắn và hi sinh. Khi ấy, anh mới chỉ 14 tuổi. Đã có rất nhiều bài thơ, bài hát được sáng tác để ghi nhớ công ơn của anh.
Hình ảnh anh Kim Đồng sẽ luôn sáng mãi, là tấm gương cho thanh thiếu niên Việt Nam về tinh thần yêu nước sâu sắc, sự thông minh, gan dạ, lòng dũng cảm, trung kiên với Tổ quốc.