Phạm Thị Ngọc Hoa

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Phạm Thị Ngọc Hoa
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

câu 1 thể loại trong đoạn văn trên là truyện ngắn

câu 2: đề tài cổ động văn là số phận bi kịch của người phụ nữ trong xã hội cũ.

câu 3: lời người kể chuyện và tới nhân vật có sự kết nối vô cùng tự nhiên và tinh tế.

câu 4: đoạn trích thể hiện sự tuyệt vọng vô cùng và cái chết tâm thương ồn của Dung

câu 5: tác giả đã bài toán niềm xót thương thấu hiểu sâu sắc trước nỗi đau bế tắc của người phụ nữ chịu sự ràng buộc và ấp đặt của hủ tục

câu 1: thể loại của đoạn văn là truyện ngắn

câu 2: đề tài của văn bản là số phận bi kịch của người phụ nữ trong hội cũ.

câu 3: lời người kể chuyện và lời nhân vật có sự kết nỗi vô cùng tự nhiên, và tinh tế.

câu 4: đoạn trích thể hiện sự tuyệt vọng từ cùng và cái chết trong tâm hồn của Dung.

câu 5: con bướm đang bán trên tác giả bài tỏ niềm xót thương với thiếu sâu sắc trước nỗi đau bế tắc của người phụ nữ chịu sự ràng buộc và ép đặt của hủ tục


câu 1: thể loại của đoạn văn là truyện ngắn

câu 2: đề tài của văn bản là số phận bi kịch của người phụ nữ trong hội cũ.

câu 3: lời người kể chuyện và lời nhân vật có sự kết nỗi vô cùng tự nhiên, và tinh tế.

câu 4: đoạn trích thể hiện sự tuyệt vọng từ cùng và cái chết trong tâm hồn của Dung.

câu 5: con bướm đang bán trên tác giả bài tỏ niềm xót thương với thiếu sâu sắc trước nỗi đau bế tắc của người phụ nữ chịu sự ràng buộc và ép đặt của hủ tục


câu 1:

Ước mơ và lao động có mối quan hệ hữu cơ, gắn kết chặt chẽ và là bệ phóng cho sự thành công của mỗi người. Ước mơ chính là ngọn hải đăng định hướng, tạo ra nguồn động lực tinh thần to lớn để chúng ta vạch ra mục tiêu và khát vọng cho tương lai. Tuy nhiên, nếu ước mơ không đi kèm với hành động, nó sẽ mãi chỉ là những ảo tưởng viển vông. Chính lao động bền bỉ, kiên trì mới là chiếc cầu nối hiện thực hóa những khát vọng đó. Không có thành công nào tự nhiên đến mà không trải qua quá trình làm việc miệt mài, vượt qua thử thách và rèn luyện bản thân. Ngược lại, lao động mà thiếu đi ước mơ sẽ dễ trở thành những hoạt động máy móc, tẻ nhạt và không có đích đến. Khi chúng ta lao động hết mình vì một lý tưởng cao đẹp, công việc mới thực sự mang lại niềm vui và giá trị đích thực. Dám ước mơ lớn và sẵn sàng lao động chăm chỉ chính là chìa khóa vạn năng để mở ra cánh cửa hạnh phúc và hoàn thiện bản thân mỗi ngày.

câu 2:

Nỗi nhớ một lần nữa được ví với "ngôi sao không bao giờ tắt" và "ngọn lửa bập bùng đỏ rực". Điều này khẳng định sự vĩnh cửu của tình yêu. Từ nỗi nhớ riêng tư, nhân vật trữ tình đã chuyển hóa thành ý chí chiến đấu. Câu thơ "Chúng ta yêu nhau chiến đấu suốt đời" thể hiện một lẽ sống cao đẹp của thế hệ thanh niên thời bấy giờ: tình yêu cá nhân gắn liền với nhiệm vụ dân tộc. Câu kết "Kiêu hãnh làm người" vang lên đầy tự hào. Họ kiêu hãnh vì tình yêu của mình không chỉ dừng lại ở sự gắn kết đôi lứa, mà còn góp phần vào sự nghiệp giải phóng đất nước, bảo vệ phẩm giá con người. Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ tự do với nhịp điệu linh hoạt, hình ảnh thơ vừa gần gũi, vừa có sức khái quát cao. Ngôn ngữ hàm súc, giàu sức biểu cảm đã giúp Nguyễn Đình Thi khắc họa thành công một cái "tôi" trữ tình đầy bản lĩnh và nhân văn. bài thơ "Nhớ" của Nguyễn Đình Thi là một bản tình ca hòa chung nhịp đập với bài ca kháng chiến. Tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ không chỉ dừng lại ở nỗi nhớ thương da diết về một bóng hình, mà còn là vẻ đẹp của một thế hệ biết sống hết mình cho tình yêu và sẵn sàng hy sinh tất cả cho tự do của Tổ quốc. Bài thơ mãi là minh chứng cho một thời đại hoa lửa: yêu nhau là để cùng nhau đi tới đích cuối cùng của độc lập và hạnh phúc.


câu 1: phương thức biểu đạt chính là được tác giả sử dụng là nghị luận

câu 2:Văn bản bàn về giá trị và ý nghĩa của lao động đối với sự tồn tại của muôn loài và ý nghĩa cuộc sống của con người.

câu 3:Những bằng chứng được sử dụng: chú chim khi còn non được bố mẹ nuôi, nhưng khi lớn lên phải tự mình đi kiếm mồi.

-hộ và sư tử cũng đều tự mình lao động (săn mồi) để tồn tại

nhận xét về những bằng chứng:

bằng chứng được lấy từ thế giới tự nhiên chân thực, cụ thể quen thuộc và sinh động.

câu 4: suy nghĩ của em loại vật lao động chỉ tồn tại giá trị thực của người nằm ở khả năng tìm ý nghĩa và niềm vui. niềm vui có thể đến từ sáng tạo cống hiến Chinh phục thử thách với mọi người niềm vui thay vì gánh nặng đó chính là chìa khóa hạnh phúc thật sự.

câu 5:lối sống ỷ lại, không muốn tự mình lao động mà muốn thụ thành quả của người khác ( ví dụ như: tìm việc nhẹ lương cao mà không muốn cống hiến sức lực...


câu 1:

Trong đoạn trích, thái tử Hăm-lét hiện lên là biểu tượng của trí tuệ, lý trí và khát vọng chính nghĩa. Trước hết, bản lĩnh và sự thông minh của chàng thể hiện qua việc dàn dựng vở kịch "Cái bẫy chuột" – một chiến thuật mượn nghệ thuật để thử thách tâm lý, ép kẻ thủ ác Clô-đi-út tự lộ bộ mặt thật. Khi sự thật phơi bày, nội tâm Hăm-lét sục sôi phẫn nộ và quyết tâm trả thù cho cha. Tuy nhiên, điểm ngời sáng nhất ở chàng là sự tự chủ và tính nhân văn cao cả. Dù lòng đầy căm hận, Hăm-lét vẫn giữ lý trí tỉnh táo: chàng tự răn mình không được tàn nhẫn với mẹ như bạo chúa Nê-rông, mà chỉ dùng lời nói sắc bén như "kim châm dao cắt" để thức tỉnh lương tri bà. Qua đó, Hăm-lét không chỉ là người đòi lại công lý mà còn là biểu tượng cao đẹp bảo vệ đạo đức nhân loại.

câu 2:


câu 1: sự việc trên của văn bản là Hăm - lét cho đoàn diễn tuồng diễn vở " cái bẫy chuột" trước mặt vua , hoàng hậu và triều đình

câu 2:ví dụ như: " đồ thuốc độc vào tai vua đang ngủ""tất cả vào trừ Hăm -lét (hát) : hừ , cứ hươu con tử nạn.."

câu 3:mâu thuẫn,xung đột trong văn bản này là xung đột giữa ( Hăm -lét) và gian tà (clô-đi-út).

câu 4:Lời thoại cho thấy nội tâm cực kỳ phẫn nộ, sục sôi hận thù của Hăm-lét sau khi vạch trần được tội ác của vua Clô-đi-út. Tuy nhiên, chàng vẫn giữ được lý trí, sự tỉnh táo và tính nhân văn: tự kiềm chế bản thân để không ra tay tàn bạo với mẹ (Hoàng hậu) giống như bạo chúa Nê-rông, mà chỉ dùng lời nói sắc bén để thức tỉnh lương tri của bà.