Mai Đức Đạt

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Mai Đức Đạt
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Đề tham khảo cuối học kì I - Đề số 2 Bài GV giao Bài 1 Comment icon Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. Cũng có kẻ mắc vào khóa lính, Bỏ cửa nhà gồng gánh việc quan, Nước khe cơm vắt gian nan, Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời. Buổi chiến trận mạng người như rác, Phận đã đành đạn lạc tên rơi, Lập lòe ngọn lửa ma trơi, Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương! Cũng có kẻ lỡ làng một kiếp, Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa, Ngẩn ngơ khi trở về già, Ai chồng con tá biết là cậy ai? Sống đã chịu một đời phiền não, Thác lại nhờ hớp cháo lá đa, Đau đớn thay phận đàn bà, Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu? Cũng có kẻ nằm cầu gối đất, Dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi, Thương thay cũng một kiếp người, Sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan. (Nguyễn Du, Văn tế thập loại chúng sinh(1)) Chú thích: Văn tế thập loại chúng sinh còn được gọi là Văn chiêu hồn, là một sáng tác xuất sắc bằng chữ Nôm của đại thi hào Nguyễn Du, hiện chưa rõ thời điểm sáng tác. Trong văn bản do Đàm Quang Thiện hiệu chú có dẫn lại ý của ông Trần Thanh Mại trên Đông Dương tuần báo năm 1939thì Nguyễn Du viết bài văn tế này sau một mùa dịch khủng khiếp làm hàng triệu người chết, khắp non sông đất nước âm khí nặng nề, và ở khắp các chùa, người ta đều lập đàn giải thoát để cầu siêu cho hàng triệu linh hồn. Tuy nhiên, GS. Hoàng Xuân Hãn lại cho rằng có lẽ Nguyễn Du viết tác phẩm này trước cả Truyện Kiều, tức khi ông còn làm cai bạ ở Quảng Bình (1802 - 1812). Câu 1. Xác định những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích trên. Câu 2. Liệt kê những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích. Câu 3. Trình bày hiệu quả của việc sử dụng từ láy trong hai dòng thơ dưới đây: Lập lòe ngọn lửa ma trơi Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương! Câu 4. Phát biểu chủ đề và cảm hứng chủ đạo của đoạn trích. Câu 5. Từ cảm hứng chủ đạo của đoạn trích, anh/chị hãy bày tỏ suy nghĩ về truyền thống nhân đạo của dân tộc ta (trình bày khoảng 5 - 7 dòng). Guide icon Hướng dẫn giải Arrow icon Câu 1. Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích trên là: Biểu cảm, tự sự, miêu tả. Câu 2. Những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích là: - Những người đàn ông bị bắt đi lính, chẳng may gặp cảnh buổi chiến trận mạng người như rác, mà bỏ mạng nơi sa trường. - Những người đàn bà vì dòng đời lận đận mà phiêu bạt tới chốn lầu xanh. - Những người hành khất, lang thang, phải sống cảnh màn trời chiếu đất, sống nhờ vào sự bố thí của người đời. Câu 3. - HS xác định những từ láy được sử dụng trong hai câu thơ: lập lòe (từ láy tượng hình), văng vẳng (từ láy tượng thanh). - HS phân tích hiệu quả của việc sử dụng từ láy trong hai câu thơ: + Khắc họa trạng thái của sự vật: lập lòe gợi ánh sáng khi mờ khi tỏ (ý chỉ linh hồn của những người lính chết trận); văng vẳng gợi âm thanh vọng lại từ xa, không rõ ràng (ý chỉ tiếng ai oán của những vong linh ấy). + Nhấn mạnh lòng thương xót của Nguyễn Du dành cho những người lính chết oan uổng nơi sa trường lạnh lẽo. Câu 4. - Chủ đề: Sự đáng thương của những kiếp người nhỏ bé. - Cảm hứng chủ đạo: Xuyên suốt đoạn trích là tấm lòng thương cảm, xót xa của Nguyễn Du đối với những kiếp người nhỏ bé, đáng thương, khổ sở. Câu 5. * HS trình bày suy nghĩ của mình về truyền thống nhân đạo của dân tộc, sao cho đảm bảo về mặt hình thức và hoàn chỉnh về nội dung. HS có thể tham khảo gợi ý dưới đây: - Truyền thống nhân đạo là truyền thống quý báu và lâu đời của dân tộc ta. - Biểu hiện: + Thành ngữ, tục ngữ, ca dao: Thương người như thể thương thân, Lá lành đùm lá rách, Nhiễu điều phủ lấy giá gương/Người trong một nước phải thương nhau cùng,... + Trong Văn tế thập loại chúng sinh: Truyền thống nhân đạo được thể hiện qua tình yêu thương, sự đồng cảm, xót xa mà Nguyễn Du dành cho những kiếp người khốn cùng, khổ sở. + HS chỉ ra một số biểu hiện của truyền thống nhân đạo trong đời sống hiện nay: Các chương trình, hoạt động quyên góp, thiện nguyện hàng năm của các tổ chức, tập thể; tinh thần tương trợ giúp đỡ người gặp nạn của nhân dân ta. (Tìm dẫn chứng cụ thể, người thật việc thật trong cuộc sống) - Ý nghĩa của truyền thống nhân đạo: + Giúp con người thấu hiểu, đồng cảm với nhau hơn. + Giúp cho cuộc đời thêm ý nghĩa, đẹp đẽ. - Cho đến ngày hôm nay, truyền thống này vẫn tiếp tục được duy trì và phát huy

Đề tham khảo cuối học kì I - Đề số 2 Bài GV giao Bài 1 Comment icon Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. Cũng có kẻ mắc vào khóa lính, Bỏ cửa nhà gồng gánh việc quan, Nước khe cơm vắt gian nan, Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời. Buổi chiến trận mạng người như rác, Phận đã đành đạn lạc tên rơi, Lập lòe ngọn lửa ma trơi, Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương! Cũng có kẻ lỡ làng một kiếp, Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa, Ngẩn ngơ khi trở về già, Ai chồng con tá biết là cậy ai? Sống đã chịu một đời phiền não, Thác lại nhờ hớp cháo lá đa, Đau đớn thay phận đàn bà, Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu? Cũng có kẻ nằm cầu gối đất, Dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi, Thương thay cũng một kiếp người, Sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan. (Nguyễn Du, Văn tế thập loại chúng sinh(1)) Chú thích: Văn tế thập loại chúng sinh còn được gọi là Văn chiêu hồn, là một sáng tác xuất sắc bằng chữ Nôm của đại thi hào Nguyễn Du, hiện chưa rõ thời điểm sáng tác. Trong văn bản do Đàm Quang Thiện hiệu chú có dẫn lại ý của ông Trần Thanh Mại trên Đông Dương tuần báo năm 1939thì Nguyễn Du viết bài văn tế này sau một mùa dịch khủng khiếp làm hàng triệu người chết, khắp non sông đất nước âm khí nặng nề, và ở khắp các chùa, người ta đều lập đàn giải thoát để cầu siêu cho hàng triệu linh hồn. Tuy nhiên, GS. Hoàng Xuân Hãn lại cho rằng có lẽ Nguyễn Du viết tác phẩm này trước cả Truyện Kiều, tức khi ông còn làm cai bạ ở Quảng Bình (1802 - 1812). Câu 1. Xác định những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích trên. Câu 2. Liệt kê những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích. Câu 3. Trình bày hiệu quả của việc sử dụng từ láy trong hai dòng thơ dưới đây: Lập lòe ngọn lửa ma trơi Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương! Câu 4. Phát biểu chủ đề và cảm hứng chủ đạo của đoạn trích. Câu 5. Từ cảm hứng chủ đạo của đoạn trích, anh/chị hãy bày tỏ suy nghĩ về truyền thống nhân đạo của dân tộc ta (trình bày khoảng 5 - 7 dòng). Guide icon Hướng dẫn giải Arrow icon Câu 1. Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích trên là: Biểu cảm, tự sự, miêu tả. Câu 2. Những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích là: - Những người đàn ông bị bắt đi lính, chẳng may gặp cảnh buổi chiến trận mạng người như rác, mà bỏ mạng nơi sa trường. - Những người đàn bà vì dòng đời lận đận mà phiêu bạt tới chốn lầu xanh. - Những người hành khất, lang thang, phải sống cảnh màn trời chiếu đất, sống nhờ vào sự bố thí của người đời. Câu 3. - HS xác định những từ láy được sử dụng trong hai câu thơ: lập lòe (từ láy tượng hình), văng vẳng (từ láy tượng thanh). - HS phân tích hiệu quả của việc sử dụng từ láy trong hai câu thơ: + Khắc họa trạng thái của sự vật: lập lòe gợi ánh sáng khi mờ khi tỏ (ý chỉ linh hồn của những người lính chết trận); văng vẳng gợi âm thanh vọng lại từ xa, không rõ ràng (ý chỉ tiếng ai oán của những vong linh ấy). + Nhấn mạnh lòng thương xót của Nguyễn Du dành cho những người lính chết oan uổng nơi sa trường lạnh lẽo. Câu 4. - Chủ đề: Sự đáng thương của những kiếp người nhỏ bé. - Cảm hứng chủ đạo: Xuyên suốt đoạn trích là tấm lòng thương cảm, xót xa của Nguyễn Du đối với những kiếp người nhỏ bé, đáng thương, khổ sở. Câu 5. * HS trình bày suy nghĩ của mình về truyền thống nhân đạo của dân tộc, sao cho đảm bảo về mặt hình thức và hoàn chỉnh về nội dung. HS có thể tham khảo gợi ý dưới đây: - Truyền thống nhân đạo là truyền thống quý báu và lâu đời của dân tộc ta. - Biểu hiện: + Thành ngữ, tục ngữ, ca dao: Thương người như thể thương thân, Lá lành đùm lá rách, Nhiễu điều phủ lấy giá gương/Người trong một nước phải thương nhau cùng,... + Trong Văn tế thập loại chúng sinh: Truyền thống nhân đạo được thể hiện qua tình yêu thương, sự đồng cảm, xót xa mà Nguyễn Du dành cho những kiếp người khốn cùng, khổ sở. + HS chỉ ra một số biểu hiện của truyền thống nhân đạo trong đời sống hiện nay: Các chương trình, hoạt động quyên góp, thiện nguyện hàng năm của các tổ chức, tập thể; tinh thần tương trợ giúp đỡ người gặp nạn của nhân dân ta. (Tìm dẫn chứng cụ thể, người thật việc thật trong cuộc sống) - Ý nghĩa của truyền thống nhân đạo: + Giúp con người thấu hiểu, đồng cảm với nhau hơn. + Giúp cho cuộc đời thêm ý nghĩa, đẹp đẽ. - Cho đến ngày hôm nay, truyền thống này vẫn tiếp tục được duy trì và phát huy

. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn – Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn. – Thí sinh có thể trình bày theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành. b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích, đánh giá tính thuyết phục của văn bản Cái đẹp trong truyện ngắn “Muối của rừng” của Nguyễn Huy Thiệp. c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận – Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý: + HS chỉ ra và phân tích được những khía cạnh của tính thuyết phục trong văn bản: Luận đề, luận điểm rõ ràng; các lí lẽ, bằng chứng phong phú, sinh động; các ý được triển khai trong văn bản đều tập trung làm rõ cho luận đề, luận điểm đã nêu lên. + HS đánh giá được cách lập luận của tác giả Chu Thị Hảo. d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau – Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. – Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý. – Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng. đ. Diễn đạt Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn. e. Sáng tạo Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. Câu 2. (4 điểm) a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài Xác định đúng yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận xã hội. b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Hành động bảo vệ môi trường của giới trẻ hiện nay. c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận – Xác định được các ý chính của bài viết. – Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn nghị

Đề tham khảo cuối học kì I - Đề số 1 Bài GV giao Bài 1 Comment icon Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. CÁI ĐẸP TRONG TRUYỆN NGẮN MUỐI CỦA RỪNG CỦA NGUYỄN HUY THIỆP […] Trước hết là sự thức tỉnh của nhân vật trước vẻ đẹp bình dị của thiên nhiên. Truyện mở đầu bằng khung cảnh thiên nhiên “vừa trang trọng, vừa tình cảm”: “Cây cối nhú lộc non.”, “Rừng xanh ngắt và ẩm ướt.”. Và cái nhã thú của người kể chuyện “được đi trong rừng, chân dẫm lên lớp lá ải mục, hít thở không khí trong lọc, thỉnh thoảng lại được thót mình bởi một giọt nước trên cây rỏ xuống vai trần”. Chỉ cần ba câu văn ngắn gọn, người kể chuyện đã gợi cho người đọc một không gian rất gần gũi, thân thuộc với con người. Thế nhưng không gian ấy dường như đối lập với suy nghĩ của ông Diểu, nhân vật chính trong truyện. Đọc truyện, người đọc không khỏi ám ảnh cảnh đi săn của ông Diểu. Khi thiên nhiên căng tràn sức sống, xanh tươi, mưa xuân ấm áp, rừng ẩm ướt cũng là thời điểm ông Diểu chọn đi săn và xem đó là cái thú đáng sống. […] Xưa nay, con người luôn có khát vọng chinh phục thiên nhiên, bắt thiên nhiên phục vụ cho con người, khẳng định sức mạnh và lòng quả cảm của con người. Thế nhưng tàn sát, hủy hoại thiên nhiên ấy lại là tội lỗi. Tiếng gọi buồn thảm, đau đớn của khỉ đực, tiếng rú thê thảm của khỉ con dưới vực sâu xoáy vào lòng người đọc tiếng gọi của rừng sâu, ám ảnh người đi săn. Điều đáng quý, nhà văn đã để cho nhân vật tự nhận thức vẻ đẹp bình dị của thiên nhiên qua dòng tâm trạng của nhân vật. […] Sự đa dạng của các loài muông thú: chim xanh, gà rừng, khỉ, sự hùng vĩ của núi non, hang động, sự tĩnh lặng của rừng xanh, sự quấn quít của ba con khỉ đối lập với tiếng súng săn dữ dội, tiếng kêu buồn thảm của khỉ đực, tiếng rú kinh hoàng của khỉ con đã đánh thức ông: “Ông Diểu sợ hãi run lên.”, “Chân tay ông rủn ra, giống cảm giác như người vừa mới làm xong việc nặng.”. Nhận ra thiên nhiên giản dị và đẹp cũng là lúc ông ý thức được hành động vừa làm điều ác của chính mình. Rõ ràng cái đẹp của thiên nhiên không chỉ đánh thức mĩ quan mà còn khơi dậy nhận thức, suy nghĩ tích cực của ông Diểu về vẻ đẹp của chính nó. Vẻ đẹp của sự hướng thiện Đi săn vào một ngày xuân đối với ông Diểu là điều đáng sống, là cơ hội để ông Diểu “khoe” cái sự dẻo dai, nhanh nhẹn và lòng dũng cảm của mình ở tuổi sáu mươi. Thế nhưng khi hạ gục được con mồi, ông Diểu lại hoảng sợ nghĩ mình đang làm điều ác. Chứng kiến sự hoảng loạn của đàn khỉ, khỉ cái liều mạng quay lại cứu khỉ đực ông Diểu day dứt: “Ông sẽ chết trước hai năm nếu bắn khỉ cái.”. Ông Diểu đã tha cho khỉ cái vì sự cuồng nhiệt hi sinh, bởi lòng cao thượng của nó. Gặp lại con khỉ đực ông vừa mới bắn đang nằm trên ngọn đá phẳng lì và khá chông chênh, nhìn khỉ đực bị thương giương ánh mắt cầu khẩn về phía mình, ông Diểu thương hại vơ nắm cỏ Lào vò nát, nhai kĩ đắp vết thương, cởi quần lót bó vết thương cho khỉ đực. Ông Diểu vừa bế khỉ đực vừa tìm đường xuống núi với ý nghĩ sẽ bắt con khỉ đực về, mặc cho ông phải bỏ lại quần áo. Nhưng khi thấy khỉ cái lẽo đẽo đằng sau, lầm lũi xuyên rừng, ông Diểu thấy lòng buồn tê tái, sống mũi cay cay. Ông đã quyết định phóng sinh khỉ đực, rẽ sang lối đi khác. Điều gì đã khiến nhân vật hướng thiện nếu không phải là tình yêu? Cái đẹp của thiên nhiên có khả năng gợi cho nhân vật thấy được bản chất của chính mình nơi thiên nhiên, gợi cho nhân vật những rung cảm trước tạo vật và ý thức trách nhiệm của mình trước thiên nhiên. Hành động tha cho khỉ cái, phóng sinh khỉ đực của ông Diểu là minh chứng cho sự hướng thiện, tình yêu đối với thiên nhiên và tình yêu cuộc sống của nhân vật. Cái đẹp hài hòa giữa thiên nhiên và con người Truyện kết thúc bằng hình ảnh ông Diểu trở về nhà qua lối đi khác: “Lối đi đầy bụi gai, nhưng loài hoa tử huyền nhiều không kể xiết.”, “Hoa tử huyền màu trắng, vị mặn, nhỏ như đầu tăm ba chục năm kết muối một lần, điềm báo may mắn, đất nước thanh bình.”. Lối đi khác mang ý nghĩa biểu tượng cho sự thay đổi nhận thức và hành động của nhân vật. Loài hoa tử huyền mang ý nghĩa biểu tượng cho những điều tốt đẹp. Một người như ông Diểu khao khát chinh phục tự nhiên, ý thức được vẻ đẹp của thiên nhiên, có tấm lòng hướng thiện sẽ đón nhận những điều tốt lành trong cuộc đời. Khép lại trang truyện “Muối của rừng” (Nguyễn Huy Thiệp) người đọc không còn ám ảnh bởi cảnh đi săn của ông Diểu mà chỉ thấy quá trình thay đổi nhận thức và vẻ đẹp trong tâm hồn của của nhân vật yêu thiên nhiên, hướng thiện, có niềm tin vào những điều tốt đẹp. Vẻ đẹp trong tâm hồn ông Diểu xét cho cùng cũng là vẻ đẹp trong tâm hồn người kể chuyện. Đó cũng là ý nghĩa vẻ đẹp trong truyện ngắn “Muối của rừng”. Câu 1. Xác định luận đề của văn bản trên. Câu 2. Dẫn ra một câu văn thể hiện rõ tính khẳng định trong văn bản. Câu 3. Nhận xét về mối quan hệ giữa nội dung và nhan đề của văn bản. Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê được sử dụng trong câu văn sau: Sự đa dạng của các loài muông thú: chim xanh, gà rừng, khỉ, sự hùng vĩ của núi non, hang động, sự tĩnh lặng của rừng xanh, sự quấn quít của ba con khỉ đối lập Câu 1. Luận đề: Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp. Câu 2. – HS dựa vào đặc điểm của câu khẳng định để dẫn ra một câu văn thể hiện rõ tính khẳng định trong văn bản. – Ví dụ: Nhận ra thiên nhiên giản dị và đẹp cũng là lúc ông ý thức được hành động vừa làm điều ác của chính mình. Câu 3. – HS chỉ ra được nhan đề và các luận điểm trong văn bản. – HS nêu được mối quan hệ giữa nội dung và nhan đề của văn bản: Ví dụ: – Nhan đề của văn bản: Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp. – Các luận điểm trong văn bản: + Luận điểm 1: Sự thức tỉnh của nhân vật trước vẻ đẹp bình dị của thiên nhiên. + Luận điểm 2: Vẻ đẹp của sự hướng thiện. + Luận điểm 3: Cái đẹp hài hòa giữa thiên nhiên và con người. – Nhận xét: Nhan đề có mối quan hệ chặt chẽ với nội dung văn bản: + Nhan đề là sự khái quát hóa của những luận điểm, nội dung được triển khai trong văn bản. + Các luận điểm đều hướng đến việc làm rõ chủ đề của văn bản – Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng. Câu 4. – HS chỉ ra biểu hiện cụ thể của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn: chim xanh, gà rừng, khỉ, sự hùng vĩ của núi non, hang động, sự tĩnh lặng của rừng xanh, sự quấn quít của ba con khỉ; tiếng súng săn dữ dội, tiếng kêu buồn thảm của khỉ đực, tiếng rú kinh hoàng của khỉ con. – HS phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê: Việc liệt kê hàng loạt các dẫn chứng về sự đa dạng của các loài muông thú có tác dụng khẳng định vẻ đẹp thiên nhiên trong sự đối lập với sự can thiệp, tác động của con người đến thiên nhiên. Qua đó, tác giả nhấn mạnh sự thức tỉnh của con người trước vẻ đẹp bình dị của thiên nhiên. Câu 5. – HS phân tích được mục đích của người viết được thể hiện qua văn bản: Thông qua hệ thống luận đề, luận điểm, lí lẽ, bằng chứng cụ thể, rõ ràng; cách lập luận chặt chẽ, giàu sức thuyết phục, có thể thấy mục đích của tác giả Chu Thị Hảo qua bài viết này là nhằm phân tích, đánh giá về “cái đẹp” trong truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp. – HS đánh giá được quan điểm, tình cảm của người viết qua văn bản: Dựa trên mục đích của bài viết, chúng ta có thể nhận thấy tác giả Chu Thị Hảo là người yêu, trân trọng thiên nhiên. Bên cạnh đó, thông qua nội dung bài phân tích, tác giả cũng nhằm khẳng định tư tưởng, thông điệp của truyện ngắn Muối của rừng, rằng con người cần có một cái nhìn bình đẳng và biết sống chan hòa với thiên nhiên