Hoàng Thị Mai Anh
Giới thiệu về bản thân
Câu 1.
Luận đề: Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp.
Câu 2.
– Đặc điểm của câu khẳng định để dẫn ra một câu văn thể hiện rõ tính khẳng định trong văn bản.
– Ví dụ: Nhận ra thiên nhiên giản dị và đẹp cũng là lúc ông ý thức được hành động vừa làm điều ác của chính mình.
Câu 3.
– Nhan đề của văn bản: Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp.
– Các luận điểm trong văn bản:
+ Luận điểm 1: Sự thức tỉnh của nhân vật trước vẻ đẹp bình dị của thiên nhiên.
+ Luận điểm 2: Vẻ đẹp của sự hướng thiện.
+ Luận điểm 3: Cái đẹp hài hòa giữa thiên nhiên và con người.
– Nhận xét: Nhan đề có mối quan hệ chặt chẽ với nội dung văn bản:
+ Nhan đề là sự khái quát hóa của những luận điểm, nội dung được triển khai trong văn bản.
+ Các luận điểm đều hướng đến việc làm rõ chủ đề của văn bản – Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng.
Câu 4.
– Biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn: chim xanh, gà rừng, khỉ, sự hùng vĩ của núi non, hang động, sự tĩnh lặng của rừng xanh, sự quấn quít của ba con khỉ; tiếng súng săn dữ dội, tiếng kêu buồn thảm của khỉ đực, tiếng rú kinh hoàng của khỉ con.
– Tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê: Việc liệt kê hàng loạt các dẫn chứng về sự đa dạng của các loài muông thú có tác dụng khẳng định vẻ đẹp thiên nhiên trong sự đối lập với sự can thiệp, tác động của con người đến thiên nhiên. Qua đó, tác giả nhấn mạnh sự thức tỉnh của con người trước vẻ đẹp bình dị của thiên nhiên.
Câu 5.
– Mục đích của người viết được thể hiện qua văn bản: Thông qua hệ thống luận đề, luận điểm, lí lẽ, bằng chứng cụ thể, rõ ràng; cách lập luận chặt chẽ, giàu sức thuyết phục, có thể thấy mục đích của tác giả Chu Thị Hảo qua bài viết này là nhằm phân tích, đánh giá về “cái đẹp” trong truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp.
– Quan điểm, tình cảm của người viết qua văn bản: Dựa trên mục đích của bài viết, chúng ta có thể nhận thấy tác giả Chu Thị Hảo là người yêu, trân trọng thiên nhiên. Bên cạnh đó, thông qua nội dung bài phân tích, tác giả cũng nhằm khẳng định tư tưởng, thông điệp của truyện ngắn Muối của rừng, rằng con người cần có một cái nhìn bình đẳng và biết sống chan hòa với thiên nhiên.
Câu 1:
Nguyễn Du đề cập đến những kiếp người nhỏ bé, đáng thương. Đó là những người đàn ông bị bắt đi lính, phải chịu cái chết oan uổng vì tên rơi đạn lạ. Đó là những người phụ nữ không may phiêu bạt tới chốn lầu xanh. Cuộc đời họ cũng giống như nàng Kiều, đầy ngang trái, éo le, lận đận mà không được hưởng hạnh phúc. Khi về già cũng không nơi nương tựa. Đó là những người hành khất, lang thang nằm cầu gối đất, sống nhờ vào sự bố thí của người đời. Qua đó, chúng ta không chỉ cảm nhận được tấm lòng thương cảm, xót xa mà Nguyễn Du dành cho những con người khốn cùng ấy, mà còn thấy được truyền thống nhân đạo của dân tộc được thể hiện rất sâu sắc trong đoạn trích. Về nghệ thuật: Các tác phẩm văn tế thường viết theo lối văn biền ngẫu, với quy định chặt chẽ về niêm, luật, vần, đối. Nhưng ở đây, Nguyễn Du đã không viết theo lối văn biền ngẫu với những quy định khắt khe trên mà sử dụng thể thơ dân dã, gần gũi với nhân dân ta hơn là thể song thất lục bát. Bên cạnh đó, ngôn ngữ thơ, hình ảnh thơ cũng hết sức dân dã, quen thuộc với đời sống của nhân dân ta.
Nguyễn Du đã xuất phát từ nhu cầu thực tế của quần chúng nhân dân trong bốicảnh xã hội lúc bấy giờ để sáng tác bài văn tế này để bày tỏ tấm lòng thương cảm và tinh thần nhân đạo của nhân dân ta đối với những kiếp người nhỏ bé, đáng thương.
Câu 1.
Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích trên là: Biểu cảm, tự sự, miêu tả.
Câu 2.
Những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích là:
- Những người đàn ông bị bắt đi lính, chẳng may gặp cảnh buổi chiến trận mạng người như rác, mà bỏ mạng nơi sa trường.
- Những người đàn bà vì dòng đời lận đận mà phiêu bạt tới chốn lầu xanh.
- Những người hành khất, lang thang, phải sống cảnh màn trời chiếu đất, sống nhờ vào sự bố thí của người đời.
Câu 3.
- Từ láy được sử dụng trong hai câu thơ: lập lòe (từ láy tượng hình), văng vẳng (từ láy tượng thanh).
- Hiệu quả của việc sử dụng từ láy trong hai câu thơ:
+ Khắc họa trạng thái của sự vật: lập lòe gợi ánh sáng khi mờ khi tỏ (ý chỉ linh hồn của những người lính chết trận); văng vẳng gợi âm thanh vọng lại từ xa, không rõ ràng (ý chỉ tiếng ai oán của những vong linh ấy).
+ Nhấn mạnh lòng thương xót của Nguyễn Du dành cho những người lính chết oan uổng nơi sa trường lạnh lẽo.
Câu 4.
- Chủ đề: Sự đáng thương của những kiếp người nhỏ bé.
- Cảm hứng chủ đạo: Xuyên suốt đoạn trích là tấm lòng thương cảm, xót xa của Nguyễn Du đối với những kiếp người nhỏ bé, đáng thương, khổ sở.
Câu 5.
- Truyền thống nhân đạo là truyền thống quý báu và lâu đời của dân tộc ta.
- Biểu hiện:
+ Thành ngữ, tục ngữ, ca dao: Thương người như thể thương thân, Lá lành đùm lá rách, Nhiễu điều phủ lấy giá gương/Người trong một nước phải thương nhau cùng,...
+ Trong Văn tế thập loại chúng sinh: Truyền thống nhân đạo được thể hiện qua tình yêu thương, sự đồng cảm, xót xa mà Nguyễn Du dành cho những kiếp người khốn cùng, khổ sở.
+ Biểu hiện của truyền thống nhân đạo trong đời sống hiện nay: Các chương trình, hoạt động quyên góp, thiện nguyện hàng năm của các tổ chức, tập thể; tinh thần tương trợ giúp đỡ người gặp nạn của nhân dân ta.
- Ý nghĩa của truyền thống nhân đạo:
+ Giúp con người thấu hiểu, đồng cảm với nhau hơn.
+ Giúp cho cuộc đời thêm ý nghĩa, đẹp đẽ.
- Cho đến ngày hôm nay, truyền thống này vẫn tiếp tục được duy trì và phát huy.