Bùi Thanh Mai

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Bùi Thanh Mai
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

câu 1 :

Vở kịch "Chén thuốc độc" của Vũ Đình Long là tác phẩm đặt nền móng cho kịch nói Việt Nam, trong đó đoạn trích thể hiện rõ nét bi kịch của gia đình ông Thông Thu. Qua ngòi bút hiện thực, tác giả đã khắc họa sự sụp đổ tan tành của một gia đình trung lưu do thói ăn chơi, phù phiếm. Nhân vật Thông Thu hiện lên với tâm trạng bấn loạn, tuyệt vọng khi nhận ra mọi tài sản đã tiêu tan theo những cuộc ăn chơi vô độ. Ngôn ngữ kịch giàu kịch tính, nhịp điệu dồn dập diễn tả sự bế tắc đến mức nhân vật phải tìm đến cái chết ("chén thuốc độc") như một sự giải thoát cực đoan. Qua đó, Vũ Đình Long không chỉ phê phán lối sống hưởng thụ, thiếu trách nhiệm mà còn cảnh báo về sự băng hoại đạo đức và sự rạn nứt của các giá trị gia đình truyền thống trước sự xâm nhập của lối sống đô thị kệch cỡm thời bấy giờ. Đoạn trích để lại bài học sâu sắc về sự tỉnh ngộ muộn màng và cái giá đắt của sự phù phiếm.

câu 2 :


câu 1 : văn bản " chén thuốc độc " thuộc thể loại bi kịch

Câu 2.

Hình thức ngôn ngữ chủ yếu: Độc thoại (nhân vật nói với chính mình để bộc lộ nội tâm).

Câu 3.

- Các chỉ dẫn sân khấu trong văn bản:

+ "Bóp trán nghĩ ngợi".

+ "Nâng cốc nâng lên sắp uống lại đặt xuống.".

+ "Lấy dao mở hộp thuốc phiện, rót vào cốc, lấy que khuấy."

+ "Đứng dậy lấy chai dấm thanh giấu ở dưới gầm tủ, rót vào cốc. Thò tay vào tủ lấy hộp thuốc phiện.".

- Tác dụng của các chỉ dẫn sân khấu:

+ Giúp người đọc hình dung được hành động, cử chỉ và trạng thái cảm xúc cụ thể của nhân vật.

+ Thể hiện xung đột nội tâm, giẳng xé gay gắt của Thông Thu (sự do dự giữa sống và chết qua hành động nâng cốc lên rồi lại đặt xuống).

Câu 4.

- Tâm lí thầy Thông Thu trong hồi thứ Hai:

Tâm lí hối hận và tự sỉ vả. Thông Thu nhận thức được sai lầm của bản thân sau khi tiêu tán gia sản, cảm thấy nhục nhã vì không làm được gì ích quốc lợi dân mà lại làm "nhơ nhuốc" thanh danh gia đình.

- Tâm lí thầy Thông Thu trong hồi thứ Ba:

Tâm lí tuyệt vọng và bế tắc. Khi đối mặt với cảnh tù tội, Thông Thu vô cùng sợ hãi. Hăn quyết định tìm đến cái chết để giải thoát ("Thà rằng một thác cho xong!").

- Sự thay đổi: Từ việc hối hận về quá khứ (Hồi

II) chuyển sang sự hoảng loạn trước tương lai và đi đến hành động cực đoan (Hồi III). Tuy nhiên, trong sự tuyệt vọng vẫn nhen nhóm chút trách nhiệm muộn màng với gia đình (dừng lại để viết thư cho em trai).

Câu 5.

Học sinh đưa ra quan điểm không đồng tình với quyết định của thầy Thông Thu và giải thích hợp lí. Gợi ý:

  • Tự tử là một hành động trốn chạy hèn nhát trước sai lầm của chính mình thay vì đối mặt để sửa chữa.
  • Cái chết không giải quyết được vấn đề mà đôi khi còn gây ảnh hưởng và liên luy đến những người thân xung quanh.
  • Thầy Thông Thu nên chọn cách sống trách nhiệm hơn, lao động để trả nợ và làm lại cuộc đời, như vậy mới thực sự là "thác trong còn hơn sống đục". Cái chết trong sự bế tắc này chỉ là sự kết thúc của một nhân cách bạc


Câu 1 :

Nhân vật Thứ trong Sống mòn của Nam Cao tiêu biểu cho bi kịch của người trí thức tiểu tư sản trước Cách mạng. Thứ từng có nhiều ước mơ, hoài bão và khát vọng cống hiến, nhưng cuộc sống nghèo đói, thất nghiệp đã dần vùi lấp tất cả. Trong đoạn trích, những suy nghĩ đầy tuyệt vọng cho thấy Thứ ý thức sâu sắc về một tương lai mòn mỏi, vô nghĩa, nơi con người sống lay lắt và mất dần nhân phẩm. Tuy vậy, Thứ lại không đủ bản lĩnh để thoát khỏi hoàn cảnh, đành cam chịu để cuộc đời trôi qua trong bế tắc. Qua nhân vật Thứ, Nam Cao bày tỏ niềm xót thương sâu sắc và lên án xã hội đã đẩy con người vào cảnh sống mòn đau đớn.

Câu 2:

Có người từng nói: “Không phải người ta ngừng theo đuổi ước mơ vì họ già đi, mà họ già đi vì ngừng theo đuổi ước mơ.” Lời nói ngắn gọn nhưng hàm chứa một chân lí sâu sắc về mối quan hệ giữa tuổi trẻ và ước mơ – hai giá trị làm nên ý nghĩa đích thực của đời người.

Ước mơ là khát vọng tốt đẹp hướng con người tới tương lai, là động lực thôi thúc ta sống, học tập và hành động. Tuổi trẻ, về mặt sinh học, được đo bằng năm tháng, nhưng về tinh thần, tuổi trẻ được nuôi dưỡng bằng ước mơ. Khi con người còn biết mơ ước, còn khát khao vươn lên, họ vẫn giữ trong mình sự trẻ trung, nhiệt huyết và niềm tin vào cuộc sống. Ngược lại, khi từ bỏ ước mơ, con người dễ rơi vào trạng thái sống mòn, cam chịu, lặp lại và mất dần sinh khí, dù tuổi đời còn rất trẻ.

Thực tế cho thấy, không ít người “già đi” rất sớm vì đánh mất ước mơ. Họ hài lòng với hiện tại, sợ thay đổi, sợ thất bại và dần chấp nhận một cuộc sống tẻ nhạt, vô nghĩa. Khi không còn mục tiêu để hướng tới, con người trở nên thụ động, tinh thần trì trệ, đánh mất niềm vui sống. Trái lại, có những con người dù tuổi đã cao nhưng vẫn tràn đầy năng lượng bởi họ luôn nuôi dưỡng ước mơ, dám học hỏi và không ngừng tiến về phía trước. Chính ước mơ đã giữ cho họ một tâm hồn trẻ trung, một ý chí bền bỉ trước thử thách.

Đối với tuổi trẻ, ước mơ càng có ý nghĩa quan trọng. Tuổi trẻ là quãng thời gian đẹp nhất để mơ ước, dấn thân và thử thách bản thân. Ước mơ giúp người trẻ xác định hướng đi, biết mình sống vì điều gì và cần nỗ lực ra sao. Có ước mơ, người trẻ sẽ không dễ dàng gục ngã trước khó khăn, bởi mỗi lần vấp ngã là một bước tiến gần hơn đến mục tiêu. Tuy nhiên, ước mơ chỉ thực sự có giá trị khi đi kèm với hành động, sự kiên trì và tinh thần trách nhiệm. Ước mơ viển vông, thiếu nỗ lực sẽ chỉ là những suy nghĩ thoáng qua, không đủ sức nâng đỡ con người trước cuộc đời nhiều thử thách.

Từ lời nói trên, mỗi người trẻ cần biết trân trọng ước mơ của mình, dám mơ những điều tốt đẹp và dám theo đuổi đến cùng. Đồng thời, cũng cần tỉnh táo để biến ước mơ thành mục tiêu cụ thể, thành hành động thiết thực trong học tập và cuộc sống hằng ngày. Tuổi trẻ chỉ thực sự có ý nghĩa khi được sống hết mình với khát vọng.

Tóm lại, con người không già đi vì thời gian mà già đi vì đánh mất ước mơ. Giữ gìn và theo đuổi ước mơ chính là cách để tuổi trẻ luôn hiện hữu trong mỗi chúng ta, bất kể năm tháng có trôi qua như thế nào

Câu 1:

Điểm nhìn của người kể chuyện là điểm nhìn bên trong, hạn tri, người kể ở ngôi thứ ba.

Câu 2:

Ước mơ của Thứ khi còn ngồi trên ghế nhà trường là: đỗ bằng Thành chung, đỗ tú tài, vào đại học, sang Tây và trở thành một vĩ nhân, đem lại những thay đổi lớn lao cho đất nước.

Câu 3:

Biện pháp tu từ nổi bật trong đoạn trích là điệp ngữ kết hợp liệt kê (“y sẽ…”, “sẽ mốc lên, sẽ gỉ đi, sẽ mòn, sẽ mục…”).
→ Tác dụng: nhấn mạnh nỗi tuyệt vọng, bế tắc, cảm giác đời sống mòn mỏi, vô nghĩa của Thứ; đồng thời bộc lộ nỗi sợ hãi trước một tương lai tăm tối, bị chà đạp cả nhân phẩm lẫn ước mơ.

Câu 4:

Qua đoạn trích, cuộc sống của Thứ hiện lên nghèo túng, bế tắc, tù đọng, không lối thoát.
Con người Thứ là một trí thức có hoài bão, ý thức về nhân phẩm, nhưng yếu đuối, thiếu bản lĩnh, không đủ dũng khí để thoát khỏi vòng “sống mòn”, nên rơi vào bi kịch tinh thần đau đớn.

Câu 5:
Văn bản gợi ra một triết lí nhân sinh sâu sắc: sống không chỉ là tồn tại, mà phải sống có ý nghĩa, có khát vọng và dám thay đổi. Nếu con người cam chịu, sợ hãi, không dám vượt lên hoàn cảnh thì cuộc đời sẽ dần mòn đi trong vô nghĩa.