Nguyễn Khánh Vy

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Khánh Vy
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)
Trước hết, nhân vật ếch được xây dựng trong một hoàn cảnh sống đặc biệt. Vì sống lâu ngày trong một cái giếng cạn, nơi chỉ có vài con cua, ốc, nhái nhỏ bé, ếch nghiễm nhiên coi mình là "chúa tể". Môi trường nhỏ hẹp đã giới hạn tầm nhìn của nó, khiến nó nhìn bầu trời chỉ bằng chiếc vung. Từ sự hạn hẹp đó, ếch hình thành nên thói quen kiêu ngạo, nghênh ngang, coi thường mọi vật xung quanh. Tiếng kêu "ồm ộp" của ếch vang vọng, làm hoảng sợ các loài vật bé nhỏ, khiến nó lầm tưởng vào sức mạnh ảo của bản thân.  Khi hoàn cảnh thay đổi, ếch ra khỏi giếng sau một trận mưa lớn, nhưng tính cách cố hữu không thay đổi. Dù môi trường xung quanh đã trở nên rộng lớn, bao la, ếch vẫn giữ thói quen "nhâng nháo đưa cặp mắt nhìn lên bầu trời", quen thói kiêu ngạo cũ. Ếch vẫn xem bầu trời nhỏ bé, coi trời bằng vung, đi lại nghênh ngang, không thèm quan sát xung quanh. Chính thói quen kiêu ngạo và sự chủ quan này đã dẫn đến hậu quả bi thảm: ếch bị một con trâu giẫm bẹp.  Cái chết của ếch là kết cục tất yếu cho một lối sống thiếu khiêm tốn, không biết mở rộng kiến thức và thích huênh hoang. Nhân vật ếch không chỉ đơn thuần đáng thương mà còn đáng trách vì không chịu học hỏi, không dám bước ra khỏi "giếng" tri thức của riêng mình.  Tóm lại, thông qua nhân vật ếch trong "Ếch ngồi đáy giếng", tác giả dân gian đã gửi gắm một thông điệp vô cùng quý báu: Dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, chúng ta cũng cần phải khiêm tốn, không ngừng học hỏi để mở rộng tầm nhìn, tránh thái độ chủ quan, kiêu ngạo dẫn đến những hậu quả không đáng có.

Bài học rút ra từ câu chuyện "Con lừa và bác nông dân" là bài ca về ý chí, sự dũng cảm và tư duy tích cực khi đối mặt với khó khăn. Thay vì tuyệt vọng (than khóc), hãy biến nghịch cảnh (đất đổ xuống) thành bệ phóng để tự cứu mình, vượt lên trên nghịch cảnh và tìm ra cơ hội trong thử thách. 


Sự khác biệt cốt lõi giữa bác nông dân và con lừa nằm ở thái độ trước khó khăn: bác nông dân bi quan, thờ ơ muốn buông bỏ, còn con lừa thông minh, lạc quan và nỗ lực tự cứu mình. Bác nông dân chọn cách lấp giếng chôn sống con vật, trong khi lừa biến nguy thành cơ, bước lên từng xẻng đất để thoát hiểm. 

a) Tập hợp \(M\) gồm các kết quả có thể xảy ra khi bút màu được rút ra là:

\(M =\) xanh, đỏ, vàng, da cam, tím, trắng, hồng

b) Số phần tử của tập hợp \(M\) là \(7\).

Xác suất biến cố "Màu được rút ra là vàng" là: \(\frac{1}{7}\)

a) P(x) = 2x³ - 3x + 5x² + 2 + x

= 2x³ + 5x² + (-3x + x) + 2

= 2x³ + 5x² - 2x + 2

Q(x) = -x³ - 3x² + 2x + 6 - 2x²

= -x³ + (-3x² - 2x²) + 2x + 6

= -x³ - 5x² + 2x + 6

b) P(x) + Q(x) = (2x³ + 5x² - 2x + 2) + (-x³ - 5x² + 2x + 6)

= 2x³ + 5x² - 2x + 2 - x³ - 5x² + 2x + 6

= (2x³ - x³) + (5x² - 5x²) + (-2x + 2x) + (2 + 6)

= x³ + 8

P(x) - Q(x) = (2x³ + 5x² - 2x + 2) - (-x³ - 5x² + 2x + 6)

= 2x³ + 5x² - 2x + 2 + x³ + 5x² - 2x - 6

= (2x³ + x³) + (5x² + 5x²) + (-2x - 2x) + (2 - 6)

= 3x³ + 10x² - 4x - 4

Biểu thức \(A\) lớn nhất khi và chỉ khi \(x^{2022} + 2023\) nhỏ nhất.

Ta có: \(x^{2022} \geq 0\) với mọi \(x\). Dấu bằng xảy ra khi và chỉ khi \(x = 0\).

Vậy khi \(x = 0\)\(A\) đạt giá trị lớn nhất bằng \(2023\).

a) Xét \(\Delta B A D\) và \(\Delta B E D\) lần lượt vuông tại \(A\) và \(E\).

    \(B D\) chung.

    \(\hat{A B D} = \hat{E B D}\) (\(B D\) là tia phân giác).

Suy ra \(\Delta B A D = \Delta B E D\) (cạnh huyền - góc nhọn).

b) Vì \(\Delta B A D = \Delta B E D \left(\right. c / m\) phần a) nên \(A D = E D ; B A = B E\) (2)

Xét \(\Delta A F D\) vuông tại \(A\) và \(\Delta E C D\) vuông tại \(E\) có:

    \(A D = E D \left(\right. c m t \left.\right)\)

    \(\hat{A D F} = \hat{E D C}\) (đối đỉnh)

Suy ra \(\Delta A F D = \Delta E C D\) (cạnh góc vuông - góc nhọn)

Nên \(A F = E C\) (2).

Từ (1) và (2) suy ra \(A F + B A = B E + E C\)

Hay \(B F = B C\)

Vậy \(\Delta B C F\) cân tại \(B\).

c) Giả sử \(B D\) kéo dài cắt \(F C\) tại \(K\)

Xét \(\Delta B K F\) và \(\Delta B K C\) có:

    \(B K\) là cạnh chung

    \(\hat{K B F} = \hat{K B C}\) (Vì \(B D\) là phân giác của \(\hat{A B C}\) )

     \(B F = B C\) ( chứng minh phần \(b \left.\right)\)

Suy ra \(\Delta B K F = \Delta B K C \left(\right.\) c.g.c \(\left.\right)\)

Suy ra \(K F = K C\) (hai cạnh tương ứng)

Vậy \(B K\) hay \(B D\) là đường trung tuyến của \(\Delta B C F\).

Tổ chức chính quyền thời Lê:

- Trung ương:

+ Vua đứng đầu chính quyền.

+ Phong vương cho các con, trấn giữ nơi quan trọng.

+ Thái sư, đại sư, quan văn, quan võ giúp vua.

- Địa phương: 

+ Lộ, phủ, châu, rồi đến giáp. Đơn vị cơ sở là xã. 

+ Quân đội: cấm quân và quân địa phương.

Nhận xét:

- Bộ máy nhà nước thời Đinh còn chưa hoàn chỉnh, sơ sài. 

- Sang đến thời Tiền Lê, bộ máy nhà nước được hoàn thiện, cải cách hành chính các cấp ở địa phương.

b) Giả sử em là Đinh Tiên Hoàng, em có chọn đặt kinh đô ở Hoa Lư không? Vì sao?

- Phương án 1: Nếu em là Đinh Tiên Hoàng, em sẽ chọn đặt kinh đô ở Hoa Lư. Vì:

+ Hoa Lư là quê hương và là nơi khởi nghiệp của Đinh Tiên Hoàng.

+ Hoa Lư là nơi địa hình hiểm trở, núi non trùng điệp, núi trong sông, sông trong núi. Sau lưng là rừng, trước là đồng bằng, xa nữa là biển... Căn cứ thủy bộ rất thuận tiện, đây là điều kiện thuận lợi để tạo thế phòng thủ đất nước, tránh sự xâm lược từ bên ngoài của kẻ thù vào những buổi đầu độc lập dân tộc.

- Phương án 2: Nếu em là Đinh Tiên Hoàng em sẽ không chọn Hoa Lư làm kinh đô vì:

+ Hoa Lư là nơi có địa hình hiểm trở, xung quanh đều là núi non bao bọc nên nếu bị quân địch bao vây chúng ta sẽ không thể thoát ra ngoài. Như vậy sẽ rất nguy hiểm cho nhân dân và triều đình.

+ Mặt khác, địa thế hiểm trở của Hoa Lư cũng hạn chế sự phát triển của đất nước.

a. Địa hình Bắc Mỹ phân hoá thành ba khu vực rõ rệt:

- Miền núi Coóc-đi-e ở phía tây, là một trong những hệ thống núi lớn trên thể giới. Miền núi có độ cao trung bình 3 000 - 4 000m, kéo dài khoảng 9 000km theo chiều bắc - nam, gồm nhiều dãy núi chạy song song, xen giữa là các cao nguyên và sơn nguyên.

- Miền đồng bằng ở giữa bao gồm đồng bằng Ca-na-đa, đồng bằng Lớn, đồng bằng Trung Tâm và đồng bằng Duyên Hải, độ cao từ 200 - 500m, thấp dần từ bắc xuống nam.

- Sơn nguyên trên bán đảo La-bra-đo và dãy núi A-pa-lát ở phía đông, có hướng đông bắc - tây nam. Dãy A-pa-lát gồm 2 phần: phần bắc có độ cao từ 400 - 500m; phần nam cao từ 1 000 - 1 500m.

b. Sự phân hóa tự nhiên theo chiều cao ở Nam Mỹ: 

- Sự phân hoá tự nhiên theo chiều cao ở Nam Mỹ thể hiện rõ nét nhất ở miền núi An-đét:

+ Ở dưới thấp, vùng Bắc và Trung An-đét thuộc các đới khí hậu nóng và ẩm ướt, có rừng mưa nhiệt đới; vùng Nam An-đét thuộc khí hậu ôn hòa, phát triển rừng cận nhiệt và ôn đới.

+ Càng lên cao, thiên nhiên càng thay đổi tương ứng với sự thay đổi của nhiệt độ và độ ẩm.

Bài thơ là một thước phim chậm bằng thơ, ghi lại những rung cảm tinh tế và sâu sắc nhất về tình mẫu tử trong không gian làng quê yên bình nhưng cũng đầy khắc khoải. Ngay từ những dòng thơ đầu tiên, tác giả đã đặt đứa trẻ vào một tâm thế chờ đợi mòn mỏi: "Em bé ngồi nhìn ra ruộng lúa". Hình ảnh "nửa vầng trăng non" hiện lên như một chứng nhân cho thời gian đang trôi đi chậm chạp. Trăng mới chỉ là "trăng non" – mỏng manh và nhỏ bé – cũng giống như chính hình hài của em bé đang đơn côi giữa buổi chiều tà. Nỗi đợi chờ ấy càng lúc càng trở nên mênh mang khi bóng tối phủ xuống. Tác giả sử dụng thủ pháp nghệ thuật cực kỳ tinh tế qua từ "lẫn": "Mẹ lẫn trên cánh đồng. Đồng lúa lẫn vào đêm". Sự nhòe đi của hình ảnh người mẹ trong bóng đêm không chỉ đặc tả sự vất vả, lam lũ của người phụ nữ nông thôn phải làm việc khi trời đã tối mịt, mà còn diễn tả cái nhìn bất lực, đầy lo âu của đứa trẻ. Khi không thấy mẹ, thế giới xung quanh em trở nên trống trải đến lạ thường. Hình ảnh "Ngọn lửa bếp chưa nhen" và "Căn nhà tranh trống trải" gợi lên một cảm giác lạnh lẽo, thiếu vắng hơi ấm bàn tay chăm sóc của người mẹ. Những chú đom đóm "bay ngoài ao" rồi lại "vào nhà" như những đốm sáng nhỏ nhoi thắp lên niềm hy vọng, nhưng cũng càng làm tăng thêm cái tĩnh lặng đáng sợ của đêm khuya. Điểm chạm cảm xúc mạnh mẽ nhất nằm ở thính giác của đứa trẻ: "chờ tiếng bàn chân mẹ". Giữa cái im ắng của đồng quê, âm thanh "ì oạp" lội bùn từ phía "đồng xa" vang lên thật sống động. Đó là âm thanh của sự nhọc nhằn, của mồ hôi nước mắt, nhưng với đứa trẻ, đó lại là âm thanh hạnh phúc nhất trần đời vì nó báo hiệu mẹ đã về. Kết thúc bài thơ là một hình ảnh vừa thực vừa ảo: "Mẹ đã bế vào nhà nỗi đợi vẫn nằm mơ". Câu thơ này thật giàu sức gợi; dù đã được mẹ bế, được che chở trong hơi ấm quen thuộc, nhưng nỗi ám ảnh về sự chờ đợi vẫn còn len lỏi cả vào giấc chiêm bao. Điều này chứng tỏ tình yêu và sự gắn bó của đứa trẻ dành cho mẹ là vô cùng lớn lao. Qua những vần thơ hàm súc chúng ta không chỉ ca ngợi tình mẫu tử thiêng liêng mà còn khơi gợi trong lòng người đọc sự thấu hiểu cho nỗi vất vả của những người mẹ tần tảo sớm hôm. Bài thơ như một nốt lặng dịu dàng, nhắc nhở chúng ta về giá trị của sự đoàn viên và hơi ấm gia đình.