Nguyễn Phương Thảo

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Phương Thảo
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Hồ Chí Minh hai tiếng gọi thân thương ấy từ lâu đã trở thành nhịp đập trong trái tim mỗi người con đất Việt. Viết về Bác, lòng ta lại bâng khuâng một niềm thành kính, biết ơn vô hạn. Đặc biệt, hình ảnh người thanh niên trẻ tuổi Nguyễn Tất Thành rời bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước năm xưa vẫn luôn là một biểu tượng rực rỡ nhất về lòng yêu nước và ý chí sắt đá của một bậc vĩ nhân.

Lật lại những trang sử vàng của dân tộc, ta như thấy hiện ra trước mắt bến cảng Nhà Rồng của một chiều hè năm 1911. Giữa lúc đất nước đang đắm chìm trong đêm trường nô lệ, khi những cuộc khởi nghĩa của các bậc tiền bối liên tiếp thất bại, một người thanh niên với hai bàn tay trắng, mang theo lòng yêu nước nồng nàn và một nhãn quan chính trị sắc bén, đã quyết định dấn thân vào một hành trình vạn dặm.

Sự kiện Bác dời quê hương không chỉ là một chuyến đi đơn thuần, đó là một cuộc chia ly đầy trăn trở. Bác ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ, bỏ lại sau lưng gia đình, quê nhà xứ Nghệ với những hàng cau, lũy tre xanh ngắt. Nhưng trên vai Người lúc ấy là nỗi đau mất nước, là tiếng khóc than của đồng bào lầm than. Câu nói đầy quyết tâm: "Tôi muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta" đã thể hiện một tâm thế chủ động, một khát vọng tìm tòi con đường mới khác với lối mòn của lịch sử.

Nhìn vào hình ảnh người thợ bếp trên con tàu Đô đốc Latouche-Tréville, ta không khỏi xúc động. Một bàn tay trí thức lại chấp nhận làm những công việc nặng nhọc nhất, đối mặt với sóng gió trùng khơi và sự khắc nghiệt của xứ người. Đó chính là sự hy sinh thầm lặng nhưng vĩ đại. Bác đi không phải để mưu cầu hạnh phúc riêng, mà để tìm "hình của nước", tìm ánh sáng chân lý cho dân tộc đang tối tăm.

Tình cảm của chúng ta dành cho Bác không chỉ là sự ngưỡng mộ một vị lãnh tụ tài ba, mà còn là tình yêu thương dành cho một người cha già tận tụy. Bác là hiện thân của sự giản dị, từ đôi dép cao su đến bộ quần áo kaki bạc màu, nhưng bên trong con người ấy là một ý chí thép, một tâm hồn lộng gió thời đại. Càng hiểu về sự kiện Người ra đi tìm đường cứu nước, ta càng thấm thía giá trị của độc lập, tự do mà hôm nay ta đang thừa hưởng.

Dù thời gian có trôi qua, hình ảnh Bác Hồ đứng trên boong tàu nhìn lại quê hương lần cuối vẫn mãi là một thước phim xúc động nhất trong tâm khảm mỗi người dân Việt Nam. Sự ra đi ấy đã mở ra con đường về cho dân tộc, đưa đất nước từ lầm than đến huy hoàng.

Bác ơi, lòng chúng con vẫn luôn hướng về Người với lời hứa sẽ tiếp nối hành trình dựng xây đất nước, để xứng đáng với những hy sinh vô bờ bến mà Người đã dành trọn cả cuộc đời mình. Nguyện đời đời ghi nhớ công ơn của vị lãnh tụ vĩ đại,người đã đem lại mùa xuân vĩnh cửu cho Tổ quốc Việt Nam.

Từ xưa đến nay, người phụ nữ Việt Nam được biết đến với những phẩm chất tốt đẹp. Điều đó được thể hiện qua nhiều tác phẩm văn học, trong đó có “Người ngồi đợi trước hiên nhà” của Huỳnh Như Phương.

Nội dung của tác phẩm kể về cuộc đời của nhân vật chính - dì Bảy. Dượng Bảy và dì Bảy cưới nhau được một tháng, thì dượng phải lên đường ra Bắc tập kết. Ra miền Bắc rồi vào lại miền Nam chiến đấu, dượng Bảy vẫn liên lạc với gia đình. Dượng Bảy ngã xuống trong trận đánh ở Xuân Lộc, trên đường tiến vào Sài Gòn. Ngày hòa bình, dì Bảy đã qua tuổi bốn mươi. Vẫn có người đàn ông để ý đến dì, nhưng lòng dì không còn rung động. Dì Bảy năm nay tròn tám mươi tuổi, đang ngồi một mình đợi Tết.

Có thể thấy rằng, nhân vật dì Bảy mang những vẻ đẹp phẩm chất của người phụ nữ Việt Nam - giàu đức hy sinh, tấm lòng thủy chung son sắc. Dượng Bảy và dì Bảy chỉ mới kết hôn được một tháng, đây là giai đoạn tình cảm vợ chồng vẫn còn mặn nồng, gắn bó. Dù vậy, dì Bảy vẫn chấp nhận để chồng tập kết ra Bắc, đôi người đôi ngả. Ở đây, có thể thấy được sự hy sinh của dì xuất phát từ tấm lòng yêu quê hương, đất nước. Dì đã đặt lợi ích của đất nước lên trên hạnh phúc của cá nhân. Điều đó khiến người đọc thêm cảm phục trước tấm lòng của nhân vật này.

Không chỉ vậy, dì Bảy còn là một người phụ nữ hết mực thủy chung. Trong những năm xa cách, dì Bảy luôn giữ liên lạc với dượng Bảy, đợi chờ chồng trở về. Mỗi khi nhận được thư của chồng, dì lại cảm thấy hạnh phúc, hy vọng đến ngày được đoàn tụ. Hình ảnh khiến cho người đọc cảm thấy ấn tượng nhất đó chính là mỗi ngày, sau khi đi làm đồng về, dì lại ngồi trên bộ phản gỗ ngoài hiên nhìn ra con ngõ, nơi ngày xưa dượng Bảy cùng đồng đội đến nhà xin trú quân. Dượng Bảy đã hy sinh, ngày hòa bình lặp lại, dì đã bốn mươi tuổi, nhưng vẫn có người đàn ông để ý đến dì. Dù vậy, lòng dì Bảy đã không còn rung động. Dì đã giữ tấm lòng thủy chung như vậy cho đến hết đời.

Có thể thấy rằng, dì Bảy chỉ là một trong rất nhiều người phụ nữ Việt Nam thuở còn chiến tranh cho chúng ta thấy rằng sự hy sinh thầm lặng, cao cả của những người phụ nữ trong các cuộc kháng chiến thật đáng ngưỡng mộ và trân trọng. Từ đó, mỗi người cần có thái độ tôn trọng, biết ơn những người phụ nữ như dì Bảy.

Qua nhân vật dì Bảy trong Người ngồi đợi trước hiên nhà, tôi đã học được thêm bài học quý giá về phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Đặc biệt, tôi cũng cảm thấy vô cùng yêu mến và cảm phục nhân vật dì Bảy.

Một trong những truyện ngụ ngôn mà tôi cảm thấy yêu thích nhất là “Đẽo cày giữa đường”. Nổi bật trong truyện là nhân vật người thợ mộc được xây dựng với đặc điểm của một nhân vật trong truyện ngụ ngôn.

Nội dung của truyện kể về một người thợ mộc. Anh ta đã dốc hết vốn để mua gỗ làm nghề đẽo cày. Cửa hàng của anh ta nằm ngay bên vệ đường. Nhiều người thường ghé vào xem. Có ông cụ nói rằng phải đẽo cày cho cao, cho to mới dễ cày. Người thợ mộc liền làm theo. Lại có bác nông dân ghé vào bảo phải đẽo cày thấp hơn, nhỏ hơn mới dễ cày. Người thợ mộc cũng cho là có lí. Một lần, một người đến nói với người thợ mộc, ở miền núi người ta phá hoang toàn cày bằng voi, phải đẽo cày to gấp đôi, gấp ba kiểu gì cũng bán hết được nhiều lãi. Người thợ mộc nghe được nhiều lãi, liền đem hết số gỗ còn lại đẽo thành loại cho voi cày. Chẳng có ai đến mua cày của anh ta. Tất cả vốn liếng của người thợ mộc đều mất hết.

Ở đây, nhân vật người thợ mộc được xây dựng không có tên tuổi, lai lịch hay được miêu tả qua ngoại hình mà chủ yếu khắc họa qua hành động, ngôn ngữ. Từ đó, tác giả dân gian muốn làm nổi bật lên nét tính cách của người thợ mộc. Anh ta là một người không có chính kiến, thiếu hiểu biết. Bởi vậy dù người thợ mộc cũng có chí làm ăn, tự dùng vốn liếng của bản thân để tự mở cửa hàng đẽo cày. nhưng kết quả đạt được lại không như mong muốn. Mỗi khi có người ghé vào cửa hàng, đưa ra một ý kiến nào đó, người thợ mộc đều cho lại phải, không biết suy xét đúng sai mà đã quyết định làm theo

Qua nhân vật người thợ mộc, tác giả dân gian cũng muốn đưa ra lời khuyên, khi làm việc gì cũng cần phải có chính kiến, nếu không sẽ gặp phải thất bại. Anh chàng thợ mộc trong truyện chỉ vì thiếu hiểu biết mà nghe theo lời khuyên của mọi người, đẽo ra những chiếc cày không thể sử dụng được. Cuối cùng, mọi vốn liếng, của cải đều “đi đời nhà ma”.

Có thể khẳng định rằng, nhân vật người thợ mộc đã được khắc họa trong truyện nhằm gửi gắm bài học giá trị cho mỗi người.

Một trong những truyện ngụ ngôn mà tôi cảm thấy yêu thích nhất là “Đẽo cày giữa đường”. Nổi bật trong truyện là nhân vật người thợ mộc được xây dựng với đặc điểm của một nhân vật trong truyện ngụ ngôn.

Nội dung của truyện kể về một người thợ mộc. Anh ta đã dốc hết vốn để mua gỗ làm nghề đẽo cày. Cửa hàng của anh ta nằm ngay bên vệ đường. Nhiều người thường ghé vào xem. Có ông cụ nói rằng phải đẽo cày cho cao, cho to mới dễ cày. Người thợ mộc liền làm theo. Lại có bác nông dân ghé vào bảo phải đẽo cày thấp hơn, nhỏ hơn mới dễ cày. Người thợ mộc cũng cho là có lí. Một lần, một người đến nói với người thợ mộc, ở miền núi người ta phá hoang toàn cày bằng voi, phải đẽo cày to gấp đôi, gấp ba kiểu gì cũng bán hết được nhiều lãi. Người thợ mộc nghe được nhiều lãi, liền đem hết số gỗ còn lại đẽo thành loại cho voi cày. Chẳng có ai đến mua cày của anh ta. Tất cả vốn liếng của người thợ mộc đều mất hết.

Ở đây, nhân vật người thợ mộc được xây dựng không có tên tuổi, lai lịch hay được miêu tả qua ngoại hình mà chủ yếu khắc họa qua hành động, ngôn ngữ. Từ đó, tác giả dân gian muốn làm nổi bật lên nét tính cách của người thợ mộc. Anh ta là một người không có chính kiến, thiếu hiểu biết. Bởi vậy dù người thợ mộc cũng có chí làm ăn, tự dùng vốn liếng của bản thân để tự mở cửa hàng đẽo cày. nhưng kết quả đạt được lại không như mong muốn. Mỗi khi có người ghé vào cửa hàng, đưa ra một ý kiến nào đó, người thợ mộc đều cho lại phải, không biết suy xét đúng sai mà đã quyết định làm theo

Qua nhân vật người thợ mộc, tác giả dân gian cũng muốn đưa ra lời khuyên, khi làm việc gì cũng cần phải có chính kiến, nếu không sẽ gặp phải thất bại. Anh chàng thợ mộc trong truyện chỉ vì thiếu hiểu biết mà nghe theo lời khuyên của mọi người, đẽo ra những chiếc cày không thể sử dụng được. Cuối cùng, mọi vốn liếng, của cải đều “đi đời nhà ma”.

Có thể khẳng định rằng, nhân vật người thợ mộc đã được khắc họa trong truyện nhằm gửi gắm bài học giá trị cho mỗi người.