Vũ Thanh Hương
Giới thiệu về bản thân
Trong dòng chảy của lịch sử dân tộc Việt Nam, có những con người đã trở thành huyền thoại, và có những bước chân đã làm thay đổi cả một số phận của một quốc gia. Với tôi, hình ảnh người thanh niên Nguyễn Tất Thành bước chân xuống con tàu Amiral Latouche-Tréville vào ngày 5/6/1911 tại bến cảng Nhà Rồng chính là một khoảnh khắc thiêng liêng và xúc động nhất.
Đứng trước hình ảnh ấy, lòng tôi trào dâng một niềm cảm phục xen lẫn sự xót xa khôn tả. Hãy thử tưởng tượng, một chàng trai chỉ mới đôi mươi, tuổi trẻ đầy hoài bão, lại dám rời xa vòng tay gia đình, rời xa hương vị quê nhà xứ Nghệ để dấn thân vào đại dương mênh mông. Bác ra đi khi trong tay không có một tấc sắt, không một đồng vốn lận lưng, chỉ có duy nhất một hành trang: Lòng yêu nước nồng nàn và đôi bàn tay lao động.
Sự kiện Bác dời quê hương không đơn thuần là một cuộc ra đi, mà đó là một cuộc dấn thân đầy cô độc nhưng kiên cường. Giữa lúc thực dân Pháp đang siết chặt xiềng xích, khi các bậc cha chú còn đang trăn trở giữa những lối đi cũ, Bác đã chọn cho mình một hướng đi khác biệt: sang phương Tây để tìm hiểu kẻ thù. Đó là một tư duy vượt thời đại, một bản lĩnh phi thường của một người con ưu tú.
Càng ngẫm nghĩ, tôi càng xúc động trước sự hy sinh của Người. Bác đi để tìm "hình của nước", tìm ánh sáng cho một dân tộc đang chìm trong đêm trường nô lệ. Suốt ba mươi năm bôn ba, qua bao châu lục, làm đủ mọi nghề từ phụ bếp, quét tuyết đến bồi bàn... Bác đã nếm trải đủ đắng cay của kiếp người mất nước để rồi thấu hiểu và sẻ chia với nỗi đau của mọi dân tộc bị áp bức trên thế giới.
Tình cảm của tôi dành cho Bác không chỉ là sự tôn thờ một vị lãnh tụ, mà còn là sự kính trọng một nhân cách lớn – một con người đã hy sinh toàn bộ hạnh phúc cá nhân, không gia đình, không tài sản, chỉ để dành trọn vẹn tình yêu cho hai chữ "Đồng bào". Bác giản dị đến lạ thường, nhưng tâm hồn Bác lại bao la như biển Thái Bình Dương mà Người đã từng băng qua.
Ngày nay, khi được sống dưới bầu trời hòa bình, đứng giữa lòng thành phố mang tên Bác, tôi vẫn như nghe thấy tiếng sóng vỗ rì rào tại bến Nhà Rồng năm ấy. Tiếng sóng như nhắc nhở thế hệ trẻ về một thời khắc lịch sử, về một người thanh niên đã dám từ bỏ tất cả để mang về cho dân tộc ta sự sống và tự do.
Hồ Chí Minh – Người không chỉ là một cái tên, mà là một niềm tin, là ánh sao dẫn đường trong trái tim mỗi người dân Việt Nam. Chúng con nguyện khắc ghi công ơn của Người và hứa sẽ giữ gìn ngọn lửa yêu nước mà Người đã thắp lên từ những ngày đầu bôn ba nơi xứ lạ.
Bạn thấy bản này thế nào? Nếu bạn muốn tập trung vào một chi tiết cụ thể nào hơn (ví dụ như lúc Bác làm việc trên tàu hay lúc Bác tìm thấy luận cương của Lenin), hãy cho mình biết nhé!
Gợi ý dàn ý viết bài văn biểu cảm về lãnh tụ Hồ Chí Minh và sự việc ra đi tìm đường cứu nước của Người.
1. Mở bài: Nêu ấn tượng chung về lãnh tụ Hồ Chí Minh và sự việc ra đi tìm đường cứu nước của Người.
2. Thân bài: Lần lượt trình bày nội dung bài viết theo một trình tự nhất định. Ví dụ:
- Tóm tắt thông tin về lãnh tụ Hồ Chí Minh và sự việc dời quê hương để ra đi tìm đường cứu nước của Người:
+ Hồ Chí Minh (1890-1969): sinh ra một gia đình nhà nho, nguồn gốc nông dân, ở làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An - nơi có truyền thống đấu tranh kiên cường chống ách thống trị của thực dân phong kiến.
+ Với tinh thần yêu nước nồng nàn, thương dân sâu sắc, sự nhạy bén về chính trị, Người đã bắt đầu suy nghĩ về những nguyên nhân thành bại của các phong trào yêu nước lúc bấy giờ và quyết tâm ra đi tìm con đường để cứu dân, cứu nước.
+ Ngày 5-6-1911, trên con tàu Amiral Latouche Tréville, từ cảng Sài Gòn, Người bắt đầu cuộc hành trình 30 năm tìm con đường giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước.
- Phát biểu tình cảm, cảm xúc trước lòng yêu nước nồng nàn và sự hi sinh thầm lặng của Người:
+ Xúc động trước tình yêu nước, thương dân sâu nặng.
+ Biết ơn sự hi sinh thầm lặng, vì dân, vì nước.
3. Kết bài: Nêu lên suy nghĩ và bài học của em được gợi lên từ hình ảnh lãnh tụ Hồ Chí Minh và sự việc ra đi tìm đường cứu nước của Người:
- Biết ơn công lao của chủ tịch Hồ Chí Minh.
- Tự ý thức được trách nhiệm của bản thân với cộng đồng, đất nước.
Gợi ý dàn ý viết bài văn biểu cảm về sự hi sinh thầm lặng của nhân vật dì Bảy trong bài tản văn "Người ngồi đợi trước hiên nhà" (Huỳnh Như Phương):
1. Mở bài: Nêu ấn tượng chung về những sự việc cao đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong các tác phẩm kháng chiến bảo vệ Tổ quốc và của nhân vật dì Bảy trong bài tản văn "Người ngồi đợi trước hiên nhà" (Huỳnh Như Phương).
2. Thân bài: Lần lượt trình bày bài viết theo một trình tự nhất định. Ví dụ:
- Tóm tắt câu chuyện về người phụ nữ chờ chồng hai chục năm trong văn bản "Người ngồi đợi trước hiên nhà" (Huỳnh Như Phương).
+ Dì dượng Bảy mới lấy nhau được một tháng thì dượng Bảy đã phải tập kết ra Bắc.
+ Hai người rơi vào cảnh chia li, kẻ Bắc người Nam.
+ Không lâu sau dì nhận được tin dượng Bảy đã hi sinh nơi chiến trường.
+ Mặc dù tình cảnh đáng thương, cô đơn như vậy nhưng dì Bảy vẫn luôn thủy chung, son sắt với dượng quyết không đi bước nữa mà chỉ ở vậy.
- Phát biểu tình cảm, cảm xúc, thái độ của em về sự hi sinh thầm lặng của dì Bảy:
+ Xót xa trước tình cảnh và sự hi sinh thầm lặng của dì Bảy.
+ Khâm phục nét đẹp thuỷ chung, nghĩa tình của dì Bảy.
- Phát biểu suy nghĩ về sự hi sinh thầm lặng, cao cả của những người phụ nữ trong cuộc kháng chiến và trách nhiệm của xã hội trong việc ứng xử với những người như dì Bảy:
+ Thương cảm, trân quý sự hi sinh thầm lặng, cao cả của những người phụ nữ trong cuộc kháng chiến.
+ Xã hội cần có cái nhìn cảm thông trước những mất mát, hi sinh của những người phụ nữ như dì Bảy.
3. Kết bài: Nêu lên bài học và suy nghĩ của cá nhân em về sự hi sinh thầm lặng của dì Bảy và phẩm chất của người phụ nữ trong văn bản "Người ngồi đợi trước hiên nhà":
- Trân trọng những phẩm chất tốt đẹp của những người phụ nữ như dì Bảy.
- Biết ơn những người đã hi sinh thầm lặng cho sự nghiệp chung của đất nước.
Bài thơ "Mùa thu và mẹ" của Lương Đình Khoa đã để lại trong lòng em những rung động nghẹn ngào về tình mẫu tử thiêng liêng. Xuyên suốt bài thơ, hình ảnh người mẹ hiện lên thật nhỏ bé nhưng đầy nghị lực giữa đất trời mùa thu. Tác giả đã khéo léo sử dụng những từ ngữ giàu sức gợi như "rong ruổi", "chắt chiu" để lột tả sự tần tảo, vất vả suốt cuộc đời mẹ chỉ vì mong cho con có được sự "ngọt ngào". Em đặc biệt xúc động trước hình ảnh "đôi vai gầy nghiêng nghiêng" dưới nắng và nỗi lo âu của mẹ qua tiếng ho "thao thức" trong đêm. Tình yêu thương của mẹ không ồn ào mà lặng lẽ, sâu nặng như hơi thở của mùa thu. Đọc bài thơ, em tự nhắc nhở bản thân phải biết yêu thương và hiếu thảo với mẹ nhiều hơn, bởi mẹ chính là báu vật lớn nhất trong cuộc đời mỗi người con
+ Bài thơ đã để lại cảm xúc buồn man mác khi em bắt gặp được hình ảnh mẹ của mình trong hình ảnh người mẹ của tác giả; cảm xúc xót xa cho những nỗi vất vả của mẹ; biết ơn vì mình còn có mẹ,...
+ Bài học: yêu thương, kính trọng mẹ,...
- Các từ láy: rong ruổi, lặng lẽ, ngọt ngào, chắt chiu, mong manh, nghiêng nghiêng, xao xác, thao thức, rưng rưng.
- Hiệu quả: góp phần giúp người đọc hình dung rõ hình dáng, sự tảo tần và vất vả của mẹ. Đồng thời mô tả, nhấn mạnh cảm xúc, tâm trạng của người con, góp phần diễn tả sinh động và sâu sắc tình cảm của người con dành cho mẹ.
a. Đảm bảo đúng hình thức bài văn.
b. Xác định đúng yêu cầu của đề bài: phân tích đặc điểm nhân vật trong một tác phẩm văn học mà em yêu thích.
c. Triển khai nội dung:
* Mở bài: Giới thiệu về tác phẩm văn học và nhân vật.
* Thân bài:
+ Phân tích đặc điểm của nhân vật.
+ Đánh giá nghệ thuật xây dựng nhân vật (Nhân vật đó xuất hiện như thế nào? Các chi tiết miêu tả hành động của nhân vật đó ra sao? Ngôn ngữ của nhân vật thế nào?)
+ Những cảm xúc suy nghĩ của nhân vật đó như thế nào?
+ Mối quan hệ của nhân vật đó với các nhân vật khác.
* Kết bài: Thể hiện tình cảm dành cho nhân vật và bài học rút ra từ nhân vật.
d. Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.
e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề, có cách diễn đạt mới mẻ.
Học sinh đọc kĩ truyện và chọn một bài học mà mình tâm đắc nhất.
- Có thể tham khảo một vài bài học sau:
+ Cần bình tĩnh, khôn ngoan trong những tình huống nguy hiểm.
+ Cần sống có tình nghĩa.
- Bác nông dân: Lúc đầu định giúp lừa ra khỏi giếng, nhưng sau nghĩ lừa già và cái giếng cũng cần được lấp. Vì thế, nhanh chóng buông xuôi, bỏ cuộc, quyết định lấp giếng.
- Con lừa: Lúc đầu kêu la thảm thiết muốn thoát khỏi giếng nhưng rồi đã khôn ngoan, dùng chính những xẻng đất muốn vùi lấp mình để tự giúp mình thoát ra khỏi cái giếng.
Biểu thức \(A\) lớn nhất khi và chỉ khi \(x^{2022} + 2023\) nhỏ nhất.
Ta có: \(x^{2022} \geq 0\) với mọi \(x\). Dấu bằng xảy ra khi và chỉ khi \(x = 0\).
Vậy khi \(x = 0\), \(A\) đạt giá trị lớn nhất bằng \(2023\).