Dương Quốc Trung
Giới thiệu về bản thân
- Khu vực bán đảo: Đại Cồ Việt, Champa, Chân Lạp (Campuchia), Pagan, Sri Ksetra, Thaton (Myanmar), Dvaravati, Haripunjaya (Thái Lan).
- Khu vực hải đảo: Sri Vijaya (đảo Sumatra), Kalinga (đảo Java), Butuan (Philippines), Tumasek (Singapore).
- Lưu vực sông Irrawaddy (Myanmar): Sri Ksetra, Pagan, Thaton.
- Lưu vực sông Mê Nam (Thái Lan): Dvaravati, Haripunjaya.
- Lưu vực sông Mê Công (Campuchia/Việt Nam): Chân Lạp (Khơ-me).
- Ven biển miền Trung Việt Nam: Champa.
- Đồng bằng sông Hồng: Đại Cồ Việt.
- Đảo Sumatra (Indonesia): Sri Vijaya.
- Đảo Java (Indonesia): Kalinga.
- Philippines: Butuan.
a, Các nhân tố hình thành đất là: đá mẹ ,khí hậu , sinh vật, địa hình , thời gian .
b, Nguyên nhân chính dân đến tình trạng ô nhiễm đất của nước ta là: biến đổi tự nhiên , canh tác nông nghiệp, ô nhiễm môi trường đất, ...
Tết năm nay, em đã có một trải nghiệm đáng nhớ khi cùng gia đình chuẩn bị bánh chưng. Đó là lần đầu tiên em được tham gia vào công việc mà trước đây em chỉ đứng nhìn từ xa. Sáng sớm, mẹ đã dẫn em ra chợ để mua lá dong, gạo nếp, đậu xanh và thịt ba chỉ. Về đến nhà, cả gia đình cùng nhau ngồi quây quần, vừa làm vừa trò chuyện rôm rả.
Em được giao nhiệm vụ rửa lá dong và lau thật sạch để chuẩn bị gói bánh. Mặc dù công việc có vẻ đơn giản, nhưng em phải cẩn thận để không làm rách lá. Sau đó, bố dạy em cách xếp lá và cho nhân vào giữa. Bố bảo phải gói thật chặt tay để bánh không bị bung khi luộc. Em loay hoay mãi mới gói được chiếc bánh đầu tiên, tuy hơi méo nhưng bố mẹ vẫn khen em làm tốt.
Buổi tối, cả nhà quây quần bên nồi bánh chưng. Hơi nóng bốc lên nghi ngút, tiếng củi lách tách và mùi thơm từ nồi bánh làm em cảm thấy Tết thật ấm áp. Em ngồi bên bà, nghe bà kể chuyện Tết xưa, những ngày còn khó khăn mà bánh chưng vẫn luôn là biểu tượng của sự no đủ, đoàn viên.
Sáng mùng Một, khi mở những chiếc bánh chưng do chính tay mình gói, em cảm thấy rất vui và tự hào. Mặc dù bánh không được vuông vức hoàn hảo như của bố mẹ, nhưng với em, đó là kỷ niệm đẹp nhất trong ngày Tết năm ấy. Tết không chỉ là thời gian để nghỉ ngơi, mà còn là dịp để cả gia đình quây quần bên nhau, chia sẻ những khoảnh khắc hạnh phúc.
Câu 1
Câu văn trên sử dụng biện pháp tu từ nhân hoá (gọi Sáo, kể về hành động, cảm xúc của Sáo như con người: tạt qua, tránh mặt, hối hận, nhớ quê hương).
Câu 2
Qua câu chuyện ngụ ngôn "Chào Mào và Sáo Sậu", bài học sâu sắc nhất mà em tâm đắc là không nên kiêu ngạo, vội vàng đánh giá thấp người khác hay tự đề cao bản thân quá mức. Chào Mào với vẻ ngoài xinh đẹp đã tỏ thái độ khinh thường Sáo Sậu xám xịt, nhưng cuối cùng lại gặp nạn vì quá chủ quan và ham chơi. Câu chuyện nhắc nhở chúng ta rằng vẻ bề ngoài không thể hiện đúng giá trị thực sự của một người, mà sự khiêm tốn và chăm chỉ mới là điều quý giá nhất. Chúng ta cần học cách tôn trọng sự khác biệt, không nên "trông mặt mà bắt hình dong". Hãy luôn sống khiêm nhường, tử tế và giữ đôi chân trên mặt đất để không mắc phải sai lầm như Chào Mào. Bài học này nhắc nhở em biết trân trọng những giá trị bền vững và sống có trách nhiệm hơn.
Câu 1
Bài thơ "Cây đa" của "thần đồng thơ" Trần Đăng Khoa đã để lại trong em những rung động sâu sắc về một hình ảnh làng quê Việt Nam thanh bình và gần gũi. Qua thể thơ 5 chữ mộc mạc, tác giả đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên sống động với cây đa cổ thụ - "linh hồn" của làng, nơi che chở, gọi gió và vẫy gọi muôn chim. Biện pháp nhân hóa đặc sắc khiến cây đa hiện lên không chỉ là một loài cây mà như một người bạn hiền hậu, chứng kiến bao cảnh sinh hoạt đời thường: trâu nằm nghỉ, người nông dân dừng chân dưới bóng mát. Từng từ ngữ gợi hình, gợi cảm như "mênh mông", "thong thả" đã làm nổi bật không gian yên bình, êm ả. Đọc bài thơ, em cảm thấy yêu mến, tự hào hơn về cảnh sắc quê hương.
Câu 5
Kỉ niệm đáng nhớ nhất của em cùng với mẹ, chắc chắn chính là lần mà em và mẹ cùng nhau trồng vườn hoa ở trước sân.
Lúc ấy, gia đình em vừa chuyển về ngôi nhà này. Phần đất nhỏ trước sân trơ trọi và trống trải. Thế là mẹ đã quyết định trồng một hàng hoa thật xinh đẹp ở đó. Nghe mẹ kể, em liền thích thú xin được “hỗ trợ”. Thế là, cả hai mẹ con cùng bàn bạc xem nên trồng hoa gì, như thế nào. Cuối cùng, mẹ và em quyết định sẽ trồng hai cây mai lớn ở hai góc vườn. Ở giữa trồng xen kẽ các bụi hoa thược dược và đồng tiền với nhau.
Hôm sau, bố chở hai mẹ con đi mua cây hoa rồi chở sẵn về nhà, sau đó mới đi làm. Em và mẹ mặc trang phục làm vườn, rồi bắt đầu cuốc đất cho tơi, nhặt hết lá khô, cỏ dại cho đất sạch. Rồi mẹ đánh dấu vị trí các hố cần đào để trồng cây. Mệt nhất là hai chiếc hố trồng cây mai, em và mẹ loay hoay mãi mới có chiếc hố vừa gốc cây. Rồi em cẩn thận xúc từng chút phân trong chiếc túi đổ vào hố và trộn ít đất ở trên.
Cuối cùng là cho cây vào hố và lấp đất lại. Trong lúc làm, em còn bị trầy hết bàn tay vì xách xô đựng cây nặng quá. Tuy nhiên vết thương ấy chẳng hề hấn gì cả. Em và mẹ vẫn hăng hái trồng hết vườn cây. Cuối cùng là tưới nước cho chúng, lúc ấy em cảm thấy vui sướng lắm.
Đến nay, vườn hoa nhỏ đã tươi tốt, nở hoa rực rỡ rồi. Chờ thêm hai tháng nữa, mùa xuân về, hoa mai cũng sẽ nở rộ. Mỗi khi nhìn ngắm vườn hoa, em lại sung sướng nhớ về trải nghiệm tuyệt vời ngày hôm đó với mẹ
Câu 1
Vần được gieo trong khổ đầu tiên là vần chân
Câu 2
Con người , động vật , cùng hệ sinh thái nhỏ và đền miếu.
Câu 3
Bức tranh làng quê hiện lên với vẻ đẹp cổ kính, yên bình
Câu 4
- Biện pháp tu từ so sánh : rễ cây như những con rắn
-Tác dụng :
+Tang sức gợi hình ,gợi cảm
+Nhấn mạnh sự trường tồn
+Thể hiện tình cảm
Câu 5
Hình ảnh cây đa cổ thụ xum xuê bên khung cảnh làng quê yên bình trong bài thơ gợi cho em cảm xúc yêu thương, gắn bó sâu sắc và niềm tự hào về cội nguồn. Cây đa không chỉ là chứng nhân lịch sử chứng kiến sự đổi thay của quê hương mà còn là biểu tượng của sự bình dị, tâm linh và sức sống bền bỉ của làng quê Việt Nam. Nơi ấy, em nhớ về những kỷ niệm tuổi thơ bên bạn bè và tình cảm gia đình ấm áp. Để giữ gìn những vẻ đẹp đáng quý này, em sẽ tích cực tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường, trồng thêm cây xanh và giữ gìn vệ sinh cảnh quan xóm làng luôn sạch đẹp. Bên cạnh đó, em hứa sẽ chăm chỉ học tập để mai này góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, hiện đại nhưng vẫn giữ được nét đẹp truyền thống. Em sẽ luôn trân trọng và lan tỏa tình yêu quê hương đến mọi người xung quanh.
Câu 1:
Bài thơ "Chợ quê" của Nguyễn Đức Mậu vẽ nên bức tranh quê hương bình dị, thân thương, khắc họa một không khí chợ phiên đậm đà bản sắc văn hóa, nơi giao hòa giữa con người và cảnh vật, tạo nên cảm giác yên bình, ấm áp, gợi nhớ về cội nguồn, nơi tình yêu thương giản dị được sẻ chia qua từng gánh hàng, từng lời hỏi thăm.
Câu 2;
Trong đời sống tinh thần đa dạng và phong phú của con người thì tình cha con là tình cảm máu thịt thiêng liêng, sâu đậm nhất. Công lao to lớn của người cha được nhắc đến rất nhiều trong ca dao, dân ca: Công cha như núi Thái Sơn,.., Con có cha như nhà có nóc, Phụ tử tình thâm…
Người cha đóng vai trò trụ cột trong gia đình, là chỗ dựa đáng tin cậy cho vợ con. Mọi việc lớn như làm nhà, tậu ruộng, tậu trâu, dựng vợ gả chồng cho con cái… thường là do người cha quyết định. Trách nhiệm của người cha rất nặng nề. Con cái ngoan hay hư, chủ yếu là tùy thuộc vào sự bảo ban dạy dỗ của người cha. Bên cạnh người mẹ dịu dàng là người cha nghiêm khắc. Dẫu cách thức biểu hiện tình thương yêu có khác nhau nhưng bậc cha mẹ nào cũng mong muốn nuôi dạy con cái trưởng thành về mọi mặt, đúng như dân gian đã nói: Con hơn cha là nhà có phúc. Trong lúc mẹ hằng ngày chẳng quản vất vả nhọc nhằn, lo lắng cho các con từ bát cơm, tấm áo thì người cha, ngoài những thứ đó ra còn phải nghĩ đến việc dạy dỗ, truyền kinh nghiệm sống mà mình đã đánh đổi bằng mồ hôi nước mắt, để các con học được những bài học thiết thực khi bước vào đời. Thật hạnh phúc cho những đứa con được sống trong vòng tay yêu thương của cha mẹ!
Có biết bao người cha chấp nhận thiệt thòi về mình, dành tất cả thuận lợi cho con cái. Em đọc trên báo và xem truyền hình thấy những người cha lam lũ, quần quật làm những việc như: quét rác, đội than, đội trấu, đạp xích lô… không từ nan bất cứ chuyện gì, miễn là lương thiện đế kiếm tiền nuôi đàn con ăn học đến nơi đến chốn. Gần nhà em có một bác người Quảng Ngãi, tuổi hơn năm chục, làm nghề mài dao kéo. Ngày ngày, bác rong ruổi khắp nơi trên chiếc xe đạp cà tàng với vài hòn đá mài và thùng nước nhỏ. Bác vào thành phố đã hơn ba năm, kể từ khi anh con trai lớn thi đậu đại học Bách khoa. Mỗi lúc kể về những đứa con ngoan, bác cười rất mãn nguyện, đôi mắt ánh lên vẻ tự hào: – Nhà bác nghèo lắm! Được mấy đứa con, đứa nào cũng ham học và học giỏi. Năm nay, cô con gái thứ hai cũng đậu Đại học Sư phạm. Bác ráng làm kiếm ngày vài chục ngàn, cha con đùm túm nuôi nhau. Mình chẳng có chi cho các con thì cho chúng cái chữ, cái nghề!
Em thấy ở bác có những nét rất giống cha em, một người thợ cơ khí bình thường, quanh năm làm việc với máy móc, dầu mỡ. Đôi bàn tay cha chai sần, thô ráp, mạnh mẽ nhưng ấm áp lạ thường. Có thể nói rằng trong gia đình em, cha làm nhiều nhất và hưởng thụ ít nhất; Cha giống mẹ ở chỗ nhường nhịn hết cho đàn con những miếng ngon miếng lành, còn mình chỉ cơm dưa cơm mắm qua ngày.
ức tính nổi bật của cha em là cần cù chịu khó, hết lòng vì vợ con. Tuy công việc thường xuyên bận bịu, cha vẫn cố dành thời gian quan tâm săn sóc đến việc học hành của các con. Cha em ít lời, chỉ nói những câu nào đáng nói như nhắc nhở, uốn nắn khuyết điểm hay động viên, khen ngợi khi các con làm được điều tốt, điều hay. Cha dạy chúng em lòng tự trọng và tính tự lập. Có lần cha bảo: – Đã là người thì phải có ý chí, không được ngại khó ngại khổ.
Càng khó càng phải làm bằng được. Em quý nhất cha em ở thái độ tôn trọng mọi người, tôn trọng vợ con. Có việc gì không vừa ý, cha bình tĩnh phân tích chứ không la lối, chửi bới. Bởi thế nên dù tính cha nghiêm khắc mà vẫn dễ gần, từ vợ con đến hàng xóm láng giềng đều nể phục. Cứ nghe những lời cha nói, nhìn những việc cha làm, em học được rất nhiều điều hay, điều tốt. Cha thường bảo con cái lấy bố mẹ làm gương nên cha rất giữ gìn ý tứ.
Chúng em yêu kính cha, cố gắng chăm học, chăm làm để cha mẹ vui lòng. Đó cũng là cách đáp đền chữ hiếu cụ thể và thiết thực nhất. Cảm ơn nhạc sĩ Phạm Trọng cầu đã nói giúp tuổi thơ chúng em những suy nghĩ tốt đẹp về cha mẹ: Cha sẽ là cánh chim, đưa con đi thật xa. Mẹ sẽ là cành hoa, cho con cài lên ngực. Cha mẹ là lá chắn, che chở suốt đời con… Ngày mai con khôn lớn, bay đi khắp mọi miền. Con đừng quên con nhé, ba mẹ là quê hương!
Câu 1:
Ngôi kể thứ nhất
Cau 2:
Trước khi vào Trường Yên Phụ, nhân vật "tôi"có hoàn cảnh học tập khó khăn và thiêu thốn
Cau 3:
Bài Tựa "Thế hệ ngày mai" kể về sự trưởng thành, bỡ ngỡ của người con lần đầu đi học và tình cảm gắn bó giữa hai thế hệ (cha mẹ - con cái), qua đó khẳng định giá trị của tình yêu thương, sự hy sinh, trách nhiệm và lòng tự hào dân tộc, đặc biệt nhấn mạnh sự kế thừa và phát triển truyền thống tốt đẹp của thế hệ trẻ - "hai thế hệ một tấm lòng, một tinh thần" thể hiện sự đồng nhất, sẻ chia, gắn kết sâu sắc để cùng xây dựng tương lai đất nước.
Câu 4 :
Nhân vật người cha thường hiện lên với những phẩm chất cao đẹp như,tình yêu thương sâu sắc qua những hành động nhỏ nhưng ý nghĩa, dạy con bài học về biết ơn, yêu thiên nhiên, và sự kiên nhẫn
Cau 5 :
Qua câu chuyện, em nhận thấy ,cha mẹ đã hy sinh rất nhiều vì con cái , từ công việc, sức khỏe đến những lo lắng hằng ngày. Vì vậy, mỗi người con cần quan tâm chăm soc cha mẹTrách nhiệm ấy thể hiện qua việc lắng nghe, chia sẻ, giúp đỡ cha mẹ trong công việc, học tập và cuộc sống. Ngoài ra, con cái cũng cần , không để họ phải buồn phiền hay lo lắng vô ích. Như vậy, việc thực hiện trách nhiệm với cha mẹ không chỉ là bổn phận mà còn là cách bày tỏ tình cảm chân thành và sự trưởng thành của mỗi người.
Vào thời giặc Minh xâm lược nước ta, chúng coi nhân dân ta như cỏ rác, làm nhiều điều bạo ngược. Bấy giờ ở vùng núi Lam Sơn, nghĩa quân nổi dậy chống lại chúng, nhưng buổi đầu thế lực còn non yếu nên nhiều lần thất bại. Thấy vậy, đức Long Quân quyết định cho nghĩa quân mượn gươm thần để giết giặc.
Hồi ấy, ở Thanh Hóa, có một người làm nghề đánh cá tên là Lê Thận. Một đêm nọ, Thận thả lưới ở một bến vắng như thường lệ. Đến khi kéo lưới lên thấy nằng nặng, nghĩ rằng sẽ kéo được mẻ cá to. Nhưng khi thò tay vào bắt cá thì chỉ thấy một thanh sắt. Chàng vứt xuống sông, rồi lại thả lưới ở chỗ khác. Kì lạ thay, liên tiếp ba lần đều vớt được thanh sắt nọ. Thận liền đưa thanh sắt lại mồi lửa thì phát hiện ra đó là một thanh gươm.
Về sau, Thận gia nhập vào nghĩa quân Lam Sơn. Một lần nọ, chủ tướng Lê Lợi cùng tùy tùng đến thăm nhà Thận. Bỗng nhiên thấy phía góc nhà lóe sáng, Lê Lợi tiến đến gần xem là cầm lên xem là vật thì gì thì thấy hai chữ “Thuận Thiên”. Song lại không ai nghĩ đó là lưỡi gươm thần.
Một hôm, bị giặc đuổi, Lê Lợi và các tướng rút mỗi người một ngả. Lúc đi ngang qua một khu rừng, Lê Lợi thấy có ánh sáng trên ngọn cây đa. Ông trèo lên mới biết đó là một cái chuôi gươm nạm ngọc quý giá. Bỗng nhớ đến lưỡi gươm nhà Lê Thận, ông mang chuôi về tra vào lưỡi gươm thì vừa như in.
Một năm trôi qua, nhờ có gươm thần giúp sức, nghĩa quân của Lê Lợi đánh đến đâu thắng đến đó. Thanh thế ngày một vang xa. Quân Minh được dẹp tan. Lê Lợi lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Lê Thái Tổ. Vua cho cưỡi thuyền trên hồ Tả Vọng thì thấy Rùa Vàng nổi lên đòi lại thanh gươm thần:
- Việc lớn đã thành. Xin bệ hạ trả lại gươm báu cho đức Long Quân.
Sau khi nghe Rùa Vàng nói, Lê Lợi bèn đem gươm báu trả lại rồi nói:
- Xin cảm tạ ngài cùng đức Long Quân đã cho mượn gươm báu để đánh tan quân giặc, bảo vệ nước nhà.
Nghe xong, Rùa Vàng gật đầu rồi lặn xuống hồ. Từ đó, người dân đổi tên hồ Tả Vọng thành hồ Gươm hay còn gọi là hồ Hoàn Kiếm.
Vào thời giặc Minh xâm lược nước ta, chúng coi nhân dân ta như cỏ rác, làm nhiều điều bạo ngược. Bấy giờ ở vùng núi Lam Sơn, nghĩa quân nổi dậy chống lại chúng, nhưng buổi đầu thế lực còn non yếu nên nhiều lần thất bại. Thấy vậy, đức Long Quân quyết định cho nghĩa quân mượn gươm thần để giết giặc.
Hồi ấy, ở Thanh Hóa, có một người làm nghề đánh cá tên là Lê Thận. Một đêm nọ, Thận thả lưới ở một bến vắng như thường lệ. Đến khi kéo lưới lên thấy nằng nặng, nghĩ rằng sẽ kéo được mẻ cá to. Nhưng khi thò tay vào bắt cá thì chỉ thấy một thanh sắt. Chàng vứt xuống sông, rồi lại thả lưới ở chỗ khác. Kì lạ thay, liên tiếp ba lần đều vớt được thanh sắt nọ. Thận liền đưa thanh sắt lại mồi lửa thì phát hiện ra đó là một thanh gươm.
Về sau, Thận gia nhập vào nghĩa quân Lam Sơn. Một lần nọ, chủ tướng Lê Lợi cùng tùy tùng đến thăm nhà Thận. Bỗng nhiên thấy phía góc nhà lóe sáng, Lê Lợi tiến đến gần xem là cầm lên xem là vật thì gì thì thấy hai chữ “Thuận Thiên”. Song lại không ai nghĩ đó là lưỡi gươm thần.
Một hôm, bị giặc đuổi, Lê Lợi và các tướng rút mỗi người một ngả. Lúc đi ngang qua một khu rừng, Lê Lợi thấy có ánh sáng trên ngọn cây đa. Ông trèo lên mới biết đó là một cái chuôi gươm nạm ngọc quý giá. Bỗng nhớ đến lưỡi gươm nhà Lê Thận, ông mang chuôi về tra vào lưỡi gươm thì vừa như in.
Một năm trôi qua, nhờ có gươm thần giúp sức, nghĩa quân của Lê Lợi đánh đến đâu thắng đến đó. Thanh thế ngày một vang xa. Quân Minh được dẹp tan. Lê Lợi lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Lê Thái Tổ. Vua cho cưỡi thuyền trên hồ Tả Vọng thì thấy Rùa Vàng nổi lên đòi lại thanh gươm thần:
- Việc lớn đã thành. Xin bệ hạ trả lại gươm báu cho đức Long Quân.
Sau khi nghe Rùa Vàng nói, Lê Lợi bèn đem gươm báu trả lại rồi nói:
- Xin cảm tạ ngài cùng đức Long Quân đã cho mượn gươm báu để đánh tan quân giặc, bảo vệ nước nhà.
Nghe xong, Rùa Vàng gật đầu rồi lặn xuống hồ. Từ đó, người dân đổi tên hồ Tả Vọng thành hồ Gươm hay còn gọi là hồ Hoàn Kiếm.