Trịnh Thanh Trúc

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Trịnh Thanh Trúc
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

A)

Nguyên nhân của việc T sử dụng thuốc lá điện tử là do bị bạn bè rủ rê, lôi kéo, nhận thức chưa đầy đủ về tác hại của thuốc lá điện tử và muốn “xả stress” sau giờ học. Bên cạnh đó, T còn thiếu sự tự chủ và sự quan tâm, quản lí từ gia đình, nhà trường. Hành vi này gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng như ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, dễ dẫn đến nghiện, làm sa sút kết quả học tập, vi phạm nội quy trường học và bị kỉ luật, đồng thời ảnh hưởng đến danh dự của bản thân và gia đình.

B)

Học sinh cần có trách nhiệm nói không với thuốc lá điện tử và các tệ nạn xã hội, đồng thời tự giác chấp hành nội quy trường lớp và pháp luật. Mỗi học sinh phải tích cực học tập, rèn luyện lối sống lành mạnh, biết tự bảo vệ bản thân trước những cám dỗ. Bên cạnh đó, cần tuyên truyền, nhắc nhở bạn bè cùng tránh xa tệ nạn và kịp thời báo cho thầy cô, gia đình khi phát hiện những hành vi vi phạm


là câu tục ngữ khẳng định sức mạnh của sự đoàn kết, đồng lòng trong hôn nhân. Nó nhấn mạnh khi vợ chồng yêu thương, thấu hiểu và chung sức, mọi khó khăn lớn lao (ví như tát cạn biển Đông) đều có thể vượt qua, mang lại hạnh phúc và thành công bền vững.

Trong hành trình trưởng thành của mỗi người, chắc hẳn ai cũng có một người thầy, người cô để lại dấu ấn sâu đậm trong trái tim. Với em, đó là cô giáo dạy Ngữ văn – người đã thắp lên trong em niềm yêu thích học tập và những rung động đẹp đẽ với cuộc sống.

Cô không phải là người có vẻ ngoài quá nổi bật, nhưng ở cô luôn toát lên sự dịu dàng và gần gũi. Mái tóc dài buộc gọn, ánh mắt ấm áp cùng nụ cười hiền hậu khiến mỗi khi cô bước vào lớp, không khí dường như trở nên nhẹ nhàng hơn. Giọng nói của cô trầm ấm, rõ ràng, lúc thì tha thiết, lúc lại sôi nổi, cuốn chúng em vào từng bài giảng.

Điều em yêu quý nhất ở cô không chỉ là cách giảng bài hay mà còn là tấm lòng tận tụy. Cô luôn kiên nhẫn giảng lại những chỗ khó, sẵn sàng ở lại sau giờ học để giúp đỡ những bạn chưa hiểu bài. Có những hôm trời mưa lớn, cô vẫn đến lớp đúng giờ, áo còn vương những giọt nước, nhưng nụ cười thì vẫn luôn nở trên môi. Nhìn cô, em hiểu rằng nghề giáo không chỉ là công việc mà còn là một sự hi sinh thầm lặng.

Những giờ học của cô chưa bao giờ khô khan. Cô không chỉ dạy chúng em kiến thức mà còn dạy cách cảm nhận cuộc sống. Qua từng trang văn, cô giúp chúng em biết yêu cái đẹp, biết trân trọng tình cảm gia đình, bạn bè, và biết sống tử tế hơn. Có lần cô nói: “Học văn là học cách làm người.” Câu nói ấy đến giờ vẫn luôn ở trong tâm trí em.

Đối với em, cô không chỉ là một người giáo viên mà còn như một người mẹ thứ hai. Cô quan tâm đến chúng em từ những điều nhỏ nhất: một lời hỏi han khi thấy em buồn, một ánh mắt động viên khi em chưa làm tốt. Chính những điều giản dị ấy lại khiến em cảm thấy ấm áp vô cùng.

Thời gian có thể trôi qua, chúng em rồi sẽ lớn lên và rời xa mái trường, nhưng hình ảnh cô – người thầy tận tụy, dịu dàng và đầy yêu thương – sẽ mãi ở lại trong trái tim em. Em luôn biết ơn cô vì đã dìu dắt, chắp cánh cho những ước mơ của em bay cao hơn.

Em chỉ mong rằng mình sẽ luôn cố gắng học tập thật tốt, sống thật tốt để không phụ lòng cô – người mà em luôn yêu quý và kính trọng.

Trong hình ảnh của vị lãnh tụ dân tộc Việt Nam mọi người đều nhớ đến Bác Hồ vì bác có lỗi sống giản dị. Khi nhắc đến Bác em không khỏi nhớ đến những dòng lịch sử về Bác, ngày 5/6/1911 chàng trai Nguyễn Tất Thành Thành với một niềm khao khát và mãnh liệt mang trong mình hy vọng tìm ra con đường cứu nước, Bác rời khỏi bến nhà rồng để mở đầu cho cuộc hành trình tìm ra con đường cứu nước . Năm 1911 khi đất nước còn chìm trong cảnh bị ép làm nô lệ , chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành mang trong tim mình trái tim sắt đá và dòng máu Việt Nam ,em vô cùng khâm phục Bác vì lúc đó Bác chỉ ra đi với hai bàn tay trắng , chấp nhận làm mọi công việc nặng nhọc trên tàu đô đốc Latouche - Treville, đó không chỉ là một cuộc hành trình đi tìm đường để cứu nước mà còn là một hành trình để người dân Việt Nam thoát khỏi nạn nô lệ ,dù cho gian khổ nhưng Bác vẫn quyết tâm vì tình yêu nước, đồng bào và quê hương . Đứng trước biển cả mênh mông chắc hẳn Bác rất nhớ quê nhà của mình, nhưng vì đất nước vì đồng bào và vì độc lập dân tộc Bác đã dũng cảm bước đi để tìm đường cứu nước dù cho hành trình có khó khăn và gian nan đến mấy dù hành trình đó xa xôi vạn dặm và , trắc trở nhưng trái tim và lòng yêu nước của Bác đã chiến thắng tất cả . Nhờ có bước trân khiên cường bất khuất đầu tiên và dũng cảm ấy chúng ta mới có được một cuộc sống như ngày hôm nay dân ta mới tìm thấy ánh sáng của tự do và thoát khỏi xiềng xích không cần phải làm nô lệ. Dù trải qua những năm tháng lịch sử dài hàng trăm năm nhưng sự hy sinh và dấu ấn lịch sử của Bác đã in sâu vào trong trái tim của con người Việt Nam

Dân tộc Việt Nam để có được hòa bình như hôm nay đã phải trải qua biết bao nhiêu cuộc chiến. Trong những cuộc chiến đó, luôn có sự hi sinh của các anh hùng, liệt sĩ. Họ là những chiến sĩ trên chiến trường, nói cách khác là nơi tiền tuyến. Ở hậu phương, trong những năm tháng chiến tranh, cũng có biết bao là sự hi sinh thầm lặng của người phụ nữ. Nhắc đến đây, tôi nghĩ tới nhân vật dì Bảy trong bài tản văn Người ngồi đợi trước hiên nhà của Huỳnh Như Phương.

Nhân vật Dì Bảy là một người phụ nữ để lại trong tôi nhiều sự thương mến và cảm phục khó nói thành lời. Khi mới 20 tuổi, độ tuổi xuân thì nhất, dì đã được gả đi. Dượng Bảy lại phải đi tập kết và chiến đấu. Vậy là từ ngày cưới, cả hai vợ chồng dì chưa được ở cạnh nhau bao lâu. Họ gặp nhau chỉ qua những cánh thư. 20 năm sau, Dượng Bảy mới có thể nhờ người gửi chiếc nón bài thơ cho dì làm quà và để chứng tỏ tình cảm của mình, để an ủi những người đang chờ mong. Thế nhưng, trước khi chiến tranh kết thúc khoảng mươi ngày, dì Bảy đã chở thành người phụ nữ góa chồng. Vậy là suốt hơn 20 năm chờ đợi, biết bao thương nhớ, biết bao buồn tủi, biết bao là những nỗi lo lắng, bồn chồn, cuối cùng dượng Bảy đã không thể cho dì được một hạnh phúc trọn vẹn.

Đến khi nghe tin bản thân trở thành góa phụ, dì Bảy vẫn cứ lầm lũi ngồi bên bậc thềm, nhìn ra xa như trông đợi điều gì. Dì Bảy đã phải hi sinh hạnh phúc cá nhân mình vì nghĩa lớn. Tôi biết, không chỉ có dì Bảy, mà còn có rất nhiều người phụ nữ trên dải đất hình chữ S này cũng chung cảnh ngộ như dì. Họ đều đã hi sinh thầm lặng, cao cả cho cuộc kháng chiến, để đất nước được thống nhất và phát triển. Chúng ta, những thế hệ hôm nay phải biết ơn và làm được điều gì để đền đáp được công ơn đó.

Dì Bảy đã cho tôi hiểu về đức hi sinh của con người. Tôi tin rằng thế hệ tôi và những thế hệ mai sau sẽ đều ghi nhớ công ơn của các thế hệ trước. Nhưng tôi cũng mong sẽ không còn ai phải chịu cảnh ngộ, phải hi sinh như dì Bảy.

Trong kho tàng truyện dân gian Việt Nam, có rất nhiều nhân vật để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. Mỗi nhân vật mang một vẻ đẹp riêng, gửi gắm những ước mơ, khát vọng và quan niệm sống của nhân dân. Trong số đó, nhân vật Thánh Gióng trong truyền thuyết cùng tên là nhân vật mà em yêu thích nhất, bởi hình tượng vừa kì vĩ, vừa thiêng liêng, tượng trưng cho tinh thần yêu nước và sức mạnh quật cường của dân tộc Việt Nam.

Trước hết, Thánh Gióng là một nhân vật có nguồn gốc thần kì. Mẹ Gióng mang thai sau khi ướm chân vào vết chân khổng lồ ngoài ruộng, rồi sinh ra một cậu bé ba tuổi vẫn chưa biết nói, biết cười, biết đi. Chi tiết này khiến người đọc cảm nhận rõ yếu tố kì ảo, cho thấy Gióng không phải là người bình thường mà là một nhân vật do trời đất sinh ra để gánh vác sứ mệnh lớn lao. Sự ra đời đặc biệt ấy cũng thể hiện ước mơ của nhân dân về một vị anh hùng phi thường, có thể cứu dân, cứu nước khi lâm nguy.

Điểm nổi bật tiếp theo của Thánh Gióng là sự trưởng thành thần tốc khi đất nước gặp giặc ngoại xâm. Nghe tiếng sứ giả tìm người tài cứu nước, Gióng bỗng cất tiếng nói đầu tiên, xin được ra đánh giặc. Từ một cậu bé không biết nói, Gióng lớn nhanh như thổi, ăn bao nhiêu cũng không no, thân hình vươn vai thành tráng sĩ khổng lồ. Chi tiết này cho thấy sức mạnh của Gióng chính là sức mạnh của nhân dân, của lòng yêu nước. Khi Tổ quốc cần, sức mạnh tiềm ẩn trong con người Việt Nam sẽ được đánh thức và bùng lên mãnh liệt.

Thánh Gióng còn là biểu tượng rực rỡ của tinh thần chiến đấu anh dũng. Gióng mặc áo giáp sắt, cưỡi ngựa sắt, cầm roi sắt xông thẳng vào quân thù. Khi roi sắt gãy, Gióng nhổ tre ven đường làm vũ khí tiếp tục đánh giặc. Hình ảnh ấy vừa mạnh mẽ, vừa quen thuộc, thể hiện ý chí kiên cường, không lùi bước trước khó khăn. Qua đó, nhân dân gửi gắm niềm tin rằng: chỉ cần có quyết tâm và lòng yêu nước, con người có thể biến những vật bình thường thành sức mạnh phi thường để bảo vệ quê hương.

Sau khi đánh tan giặc, Thánh Gióng không nhận công danh, phú quý mà cưỡi ngựa bay về trời. Chi tiết này làm cho hình tượng Gióng trở nên cao đẹp, trong sáng. Gióng chiến đấu không vì lợi ích cá nhân mà chỉ vì dân, vì nước. Đây chính là vẻ đẹp tiêu biểu của người anh hùng trong quan niệm dân gian: vô tư, cao thượng và gắn bó sâu sắc với vận mệnh dân tộc.

Tóm lại, nhân vật Thánh Gióng là hình tượng anh hùng lí tưởng, kết tinh ước mơ, khát vọng và tinh thần yêu nước của nhân dân Việt Nam. Qua nhân vật này, em càng thêm tự hào về truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc và tự nhắc nhở bản thân phải cố gắng học tập, rèn luyện để sau này trở thành người có ích cho đất nước.

Truyện ngụ ngôn “Đẽo cày giữa đường” đã gửi gắm một bài học ý nghĩa trong cuộc sống. Nhân vật người thợ mộc trong truyện được xây dựng để gửi gắm bài học đó.

Nội dung của truyện kể về một người thợ mộc dốc hết vốn trong nhà ra mua gỗ để làm nghề đẽo cày. Cửa hàng anh ta ở ngay bên vệ đường. Người qua, kẻ lại thường ghé vào xem anh ta đẽo cày. Mỗi người góp ý khác nhau, người thợ mộc liền nghe theo. Ngày qua tháng lại, chẳng có ai đến mua cày của anh ta. Cuối cùng, bao nhiêu gỗ của anh ta đẽo hỏng hết, cái thì bé quá, cái thì to quá. Tất cả vốn liếng đều đi đời nhà mà.

Đầu tiên, người thợ mộc trong truyện là một một người có chí lớn, ham làm giàu. Anh đã dốc hết vốn trong nhà ra mua gỗ để làm nghề đẽo cày. Tuy nhiên, cái chí lớn của anh ta lại không tương xứng với tầm hiểu biết. Vốn kiến thức hạn hẹp khiến cho anh ta trở thành người không có chính kiến. Bất cứ người nào góp ý, người thợ mộc cũng nghe theo mà không quan tâm chiếc cày được đẽo cần phải có những đặc điểm phù hợp với công việc sử dụng. Kết cục là bao nhiêu gỗ của anh ta đẽo hỏng hết, cái thì bé quá, cái thì to quá. Tất cả vốn liếng đều đi đời nhà mà.

Không chỉ thiếu kiến thức, người thợ mộc cũng thiếu bản lĩnh. Trước những lời góp ý, người thợ mộc không đủ bản lĩnh phản bác những điều sai mà điều góp ý nào cũng thấy phải. Hơn nữa, không phải lời góp ý nào cũng mang tính xây dựng, có những lời góp ý nhằm mục đích phá hoại. Nhưng người thợ mộc không nhìn nhận được điều đó, để rồi nhận lại hậu quả xấu.

Như vậy, với nhân vật người thợ mộc, truyện ngụ ngôn “Đẽo cày giữa đường” đã khái quát được đặc điểm của một kiểu người trong xã hội. Đó là những người thiếu hiểu biết, thiếu bản lĩnh nên dễ thay đổi chính kiến của mình và kết quả không được như ý muốn. Từ đó, truyện nhắc nhở mỗi người khi tiếp nhận những góp ý của người khác nhưng phải biết cân nhắc, chọn lọc được ý kiến phù hợp, đúng đắn.Nhân vật người thợ mộc được xây dựng trong truyện đã gửi gắm được bài học giá trị đến mỗi người.