Dương Quốc Huy

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Dương Quốc Huy
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1:

Phương thức biểu đạt chính: tự sự.

Câu 2:

Ngôi kể của văn bản là: ngôi kể thứ 3.

Câu 3:

Văn bản kể về việc một anh học trò nghèo nuôi một con chó. Khi anh đi vắng, nó đã trông phòng cho anh. Nhiều khi bọn trẻ lãng quên, không cho con chó ăn. Trong làng có một phú ông họ Trương, thấy thương hai con chó đói nên mang cơm cho nó ăn nhưng khi đem cơm đến thì bị nó cắn, đặc biệt con chó còn biết nói tiếng người và nói đúng lẽ. Lấy làm lạ, phú ông bèn muốn dụ dỗ con chó đổi chủ nhưng con chó không đồng ý. Khi anh học trò trở về thấy căn phòng còn y nguyên nên thán phục con chó và muốn ghi lại câu chuyện của nó cho đời sau.

Câu 4:

- Yếu tố kì ảo: con Hàn Lư biết nói tiếng người.

- Tác dụng:

+ Giúp cốt truyện hay hơn, hấp dẫn hơn, sinh động hơn.

+ Làm nổi bật chủ đề, tư tưởng của tác phẩm. Đó là ca ngợi những con người trung thành với đất nước.

+ Giúp thể hiện sự trung thành của con vật với con người hay con người với đất nước.

Câu 5:

Bài học mà em rút ra từ văn bản là : phải biết trung thành với đất nước.

+ Ta nên phê phán, lên án những con người bán nước cầu vinh.

+ Ta cần chăm chỉ học hành để giúp đỡ cho đất nước.

+ Ta cần tuyên truyền về vẻ đẹp của lòng trung thành với người thân, gia đình và bạn bè.



Câu 1:

Thể loại của văn bản: truyện truyền kì.

Câu 2:

Khi trở về quê cũ, Từ Thức đã rơi vào tình huống: "vật đổi sao dời, thành quách nhân gian, hết thảy đều không như trước nữa, duy có những cảnh núi khe là vẫn không thay đổi sắc biếc màu xanh thuở nọ."

Câu 3:

- Không gian nghệ thuật: động tiên thứ 6 trong 36 động tiên bồng bềnh ngoài biển cả.

- Thời gian nghệ thuật: ở động tiên trôi qua 1 năm nhưng thực tế đã trôi qua hơn 80 năm.

=> Thời gian và không gian nghệ thuật mang yếu tố kì ảo đan xen.

Câu 4:

- Yếu tố kì ảo: Từ Thức lạc vào động tiên, ở động tiên mới trôi qua 1 năm nhưng thực tế đã trôi qua hơn 80 năm, xe mây hóa thành chim loan rồi bay mất.

- Tác dụng:

+ Giúp cốt truyện hay hơn, hấp dẫn hơn, sinh động hơn.

+ Làm nổi bật chủ đề, tư tưởng của tác phẩm. Đó là phê phán những con người không biết trân trọng cuộc sống hiện tại

+ Thể hiện việc sống một cuộc an nhàn là không bao giờ có nên chúng ta phải biết trân trọng cuộc sống hiện tại.

Câu 5

Việc Từ Thức mặc áo cừu, đội nón lá ngắn, vào núi Hoành Sơn, rồi sau không biết đi đâu mất thể hiện nỗi cô đơn, lạc lõng của Từ Thức khi trên thế gian không còn người quen nào.

Câu 1:

thể loại của văn bản: truyện truyền kì

Câu 2:

Chủ đề của văn bản là: ca ngợi tình yêu trong sáng, chung thủy, vĩnh cửu của các cặp đội.

Câu 3:

- Người cha ngăn cản hôn sự của con mình vì: chàng trai quá nghèo

- Cách hành xử của người cha thể hiện những suy nghĩ hủ tục thời phong kiến

Câu 4:

- Chi tiết kì ảo của đoạn 2 là: khi hai dòng lệ của chàng trai nhỏ vào hòn đá thì hòn đá tan thành nước, giọt giọt đều đều hóa thành máu tươi.

- Tác dụng:

+ Giúp cốt truyện hay hơn, hấp dẫn hơn, sinh động hơn.

+ Làm nổi bật chủ đề, tư tưởng của tác phẩm. Đó là ca ngợi tình yêu trong sáng, chung thủy, vĩnh cửu của các cặp đôi.

+ Giúp bộc lộ phẩm chất chung thủy của nhân vật.
Câu 5:

Câu chuyện tình của Nguyễn Sinh và cô gái nhà giàu họ Trần đã gợi cho em suy nghĩ về khát vọng tình yêu thời phong kiến là một tình yêu trong sáng, thuần khiết, chung thủy:

- Ta cần phê phán những hành đọng ngăn cắm những tình yêu đẹp thời phong kiến.