Nguyễn Thị Thùy Trang
Giới thiệu về bản thân
a. Bảo tồn đa dạng sinh học là vấn đề cấp thiết ở nước ta hiện nay do đa dạng sinh học ở nước ta đang bị suy giảm nghiêm trọng:
- Suy giảm số lượng cá thể, loài sinh vật:
+ Số lượng cá thể các loài thực, động vật hoang dã suy giảm nghiêm trọng.
+ Một số loài thực, động vật có nguy cơ tuyệt chủng: gỗ quý (đinh, lim, sến, táu...); động vật hoang dã quí hiếm (voi, hổ, bò tót...).
- Suy giảm hệ sinh thái:
+ Các hệ sinh thái rừng nguyên sinh bị phá hoại gần hết, chỉ còn rừng thứ sinh.
+ Các hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái biển cũng bị tàn phá bởi con người.
- Suy giảm nguồn gen:
+ Suy giảm số lượng cá thể và số lượng loài đã làm suy giảm nguồn gen.
b. Giải pháp bảo vệ đa dạng sinh học:
- Xây dựng các khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia.
- Tăng cường trồng rừng và bảo vệ tự nhiên.
- Ngăn chặn nạn phá rừng, săn bắn động vật hoang dã trái phép, khai thác và đánh bắt thủy sản quá mức.
- Xử lí các chất thải nông nghiệp, công nghiệp và sinh hoạt.
- Nâng cao ý thức của người dân về bảo vệ đa dạng sinh học.
a. Giá trị sử dụng của đất phù sa:
- Trong ngành nông nghiệp: thích hợp phát triển các loại cây lương thực (lúa, ngô,...), cây công nghiệp hằng năm (dâu tằm, thuốc lá, bông, đậu tương,...) và các loại cây ăn quả.
- Trong ngành thuỷ sản:
+ Vùng đất mặn, đất phèn: thuận lợi đánh bắt thuỷ sản như tôm, cua, cá.
+ Ở các rừng ngập mặn ven biển, các bãi triều ngập nước và cửa sông lớn: thuận lợi nuôi trồng nhiều loại thuỷ sản nước lợ và nước mặn khác nhau, nhiều nhất là cá và tôm.
b. Hiện trạng và nguyên nhân thoái hoá đất:
* Hiện trạng:
- Diện tích đất bị thoái hóa: 10 triệu ha, chiếm 30% diện tích nước ta
- Đất ở trung du và miền núi bị khô cằn, nghèo dinh dưỡng.
- Nguy cơ hoang mạc hoá ở duyên hải Nam Trung Bộ.
- Đất ở vùng cửa sông, ven biển bị suy thoái.
- Diện tích đất mặn, đất phèn tăng lên.
* Nguyên nhân:
- Tự nhiên:
+ Địa hình đồi núi, mưa lớn và theo mùa gây xói mòn, rửa trôi đất.
+ Biến đổi khí hậu làm gia tăng hạn hán, ngập lụt.
+ Nước biển dâng khiến đất bị nhiễm mặn, nhiễm phèn, ngập úng.
- Con người:
+ Phá rừng lấy gỗ, đốt nương làm rẫy.
+ Chưa quan tâm đến cải tạo đất, lạm dụng các chất hóa học trong sản xuất nông nghiệp.
1. Nếu gặp lại một người bạn như "anh gầy":
"Anh gầy" thường đại diện cho kiểu người quá coi trọng địa vị, dễ trở nên khúm núm, tự ti hoặc đánh mất bản sắc cá nhân khi thấy bạn mình thành đạt hơn.- Hãy cư xử tự nhiên, chân thành như những ngày đầu còn là bạn bè. Đừng mang chức vụ hay sự giàu sang vào cuộc trò chuyện.
- Nếu họ cảm thấy tự ti, đừng cố hỏi sâu về những khó khăn của họ. Hãy tập trung vào những kỷ niệm chung để khơi dậy sự gắn kết.
- Tránh khoe khoang để đối phương không cảm thấy bị lép vế hay bị xúc phạm.
- Một người bạn thực sự không nhìn vào cấp bậc xã hội. Dù bạn có là "ngài nọ bà kia", trước mặt bạn cũ, bạn vẫn chỉ là chính mình.
- Anh béo đã cảm thấy buồn nôn và thất vọng khi thấy anh gầy khúm núm. Điều này dạy chúng ta rằng : Sự nịnh nọt và tự ti quá có thể giết chết một tình bạn đẹp
- Hãy đối xử với người khác bằng trái tim. Nếu đối phương không thể vượt qua được rào cản tâm lý của chính họ (như anh gầy), thì ít nhất bạn cũng đã sống trọn vẹn với tư cách một người bạn
Bài thơ "Mẹ" của Viễn Phương là một nốt nhạc trầm buồn nhưng đầy dư ba, khơi dậy trong lòng người đọc niềm xúc động nghẹn ngào về tình mẫu tử thiêng liêng. Xuyên suốt bài thơ, hình ảnh " hoa sen " được dùng làm biểu tượng xuyên thấu để khắc họa cuộc đời mẹ: một cuộc đời "âm thầm lặng lẽ", thanh cao mà đầy hy sinh. Em đặc biệt xúc động trước sự tương phản khắc nghiệt giữa sự trưởng thành của con và sự tàn phai của mẹ. Khi con trở thành "đoá hoa thơm", bước đi giữa "chân trời gió lộng" thì cũng là lúc mẹ chỉ còn là "chiếc bóng lắt lay", đơn độc dưới "nắng quải chiều hôm". Những câu thơ cuối như một sự an ủi tâm linh, dù mẹ đã "lìa xa cõi đời" nhưng đức hy sinh của mẹ không mất đi, mẹ hóa thành "ngôi sao lên trời" để mãi soi sáng hành trình của con. Bài thơ không chỉ là lời tri ân mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về lòng hiếu thảo khi mẹ còn bên cạnh.
Phân tích truyện ngắn "Lão Hạc" của Nam Cao Nam Cao là bậc thầy trong việc khai thác bi kịch của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám. Trong đó , '' Lão Hạc '' không chỉ là một câu chuyện về cái nghèo, mà còn là bản tình ca đau đớn về phẩm giá con người tỏa sáng giữa bùn lầy tăm tối. Vợ mất sớm, con trai vì nghèo không cưới được vợ nên phẫn chí đi phu đồn điền cao su, lão sống cô độc cùng "Cậu Vàng". Mọi tình yêu thương lão dành cho con đều dồn cả vào con chó. Nhưng cái đói, cái khổ bủa vây đã dồn lão vào bước đường cùng. Việc lão quyết định bán chó không chỉ là bán một con vật, mà là cắt bỏ niềm an ủi duy nhất để giữ lại mảnh vườn cho con. Lời văn của Nam Cao khi miêu tả cảnh lão Hạc khóc sau khi bán chó " mặt lão đột nhiên co rúm lại....lão khó huhu " đã chạm đến tận cùng nỗi đau của một tâm hồn già nua bị tổn thương. Dù đói khát, lão kiên quyết từ chối mọi sự giúp đỡ từ ông Giáo vì không muốn làm phiền hàng xóm. Đỉnh điểm của lòng tự trọng chính là cái chết bằng bả chó. Đó là một sự lựa chọn khốc liệt: lão chọn cái chết để bảo toàn nguyên vẹn tài sản cho con và để giải thoát bản thân khỏi sự giày vò vì đã "trót lừa một con chó". Cái chết của lão đau đớn, dữ dội như chính cuộc đời lão, nhưng nó lại sáng rực vẻ đẹp đạo đức. Nam Cao đã rất khéo léo khi lựa chọn nhân vật ông Giáo làm người trần thuật. Cách nhìn của ông Giáo không chỉ mang tính khách quan mà còn chứa đựng sự thấu cảm, xót thương, giúp độc giả có cái nhìn đa chiều về những người nông dân bị coi thường trong xã hội cũ. Tóm lại , qua "Lão Hạc", Nam Cao đã khẳng định một triết lý nhân sinh sâu sắc: cái nghèo có thể hủy hoại thể xác nhưng không thể vùi lấp được thiên lương. Tác phẩm vẫn mãi là một nốt lặng đầy giá trị, nhắc nhở chúng ta về tình yêu thương và sự trân trọng phẩm giá con người giữa những nghịch cảnh cuộc đời.
Sau nội dung bài thơ em rút ra được bài học . Sống là dâng tặng, biết cho đi, biết cống hiến những điều tốt đẹp cho cuộc đời. Sống dâng tặng sẽ giúp cuộc đời có được nhiều điều tốt đẹp, con người hạnh phúc. Người sống biết dâng tặng sẽ giúp bản thân để lại những giá trị tốt đẹp, giúp bản thân hạnh phúc, vì cho đi là còn mãi. Sự cho đi không nhất thiết phải là vật chất to lớn, mà đôi khi chỉ là một lời an ủi đúng lúc hay một hành động giúp đỡ nhỏ bé giữa đời thường. Chính tinh thần dâng hiến ấy đã gắn kết con người lại với nhau, tạo nên một xã hội ấm áp tình thân và sự thấu hiểu.
Mỗi người nên có những khát vọng riêng, biết nuôi dưỡng khát vọng cho riêng mình. Khát vọng chính là hoài bão của con người, là mơ ước, là động lực để con người vượt lên hoàn cảnh, đi đến thành công.
. Tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa trong lớp phủ thổ nhưỡng nước ta:
- Tính chất nóng ẩm của khí hậu nước ta khiến quá trình phong hóa diễn ra mạnh mẽ, tạo nên một lớp phủ thổ nhưỡng dày.
- Quá trình feralit là quá trình hình thành đất đặc trưng ở nước ta:
+ Khí hậu nhiệt đới gió mùa với lượng mưa lớn và mưa tập trung theo mùa làm cho quá trình rửa trôi các chất badơ dễ hòa tan xảy ra mạnh, dẫn đến tích lũy các ôxít sắt và ôxít nhôm, hình thành các loại đất feralit điển hình ở Việt Nam.
+ Một số nơi ở trung du và miền núi có sự phân mùa mưa - khô sâu sắc đã làm tăng cường tích lũy ôxít sắt và ôxít nhôm, tạo thành các tầng kết von hoặc đá ong.
- Lượng mưa lớn, tập trung chủ yếu vào 4-5 tháng mùa mưa đã làm gia tăng hiện tượng xói mòn rửa trôi ở vùng đồi núi. Đất bị xói mòn sẽ theo dòng chảy ra sông ngòi và bồi tụ ở vùng đồng bằng hình thành đất phù sa.
b. Nguyên nhân dẫn đến suy giảm tài nguyên sinh vật ở nước ta:
- Do tự nhiên: Biến đổi khí hậu với những hệ quả như bão, lũ lụt, hạn hán, cháy rừng,...
- Do hoạt động của con người:
+ Khai thác lâm sản.
+ Đốt rừng làm nương rẫy.
+ Nạn du canh, du cư.
+ Sử dụng động - thực vật hoang dã cho nhu cầu đời sống.
+ Đánh bắt thủy sản quá mức.
+ Ô nhiễm môi trường do chất thải sinh hoạt và sản xuất.
+ Sự xâm nhập của các loài ngoại lai.
a.
- Về nông nghiệp:
+ Nhà nước cho khai hoang, di dân lập ấp, lập đồn điền,… Tuy nhiên do địa chủ, cường hào bao chiếm ruộng đất nên nông dân không có ruộng cày cấy.
+ Hạn hán, lụt lội, mất mùa xảy ra thường xuyên.
- Về thủ công nghiệp, thương nghiệp:
+ Có điều kiện phát triển, kĩ thuật được cải tiến.
+ Nghề khai mỏ được đẩy mạnh.
+ Hoạt động buôn bán trong và ngoài nước ngày càng phát triển.
- Nhiều trung tâm đô thị bị sa sút: Thăng Long, Phố Hiến, Thanh Hà, Hội An.
- Quy định nhà nước như: bế quan toả cảng, tập trung thợ giỏi vào quan xưởng làm cho kinh tế gặp nhiều khó khăn.
b. Về tình hình xã hội:
- Đời sống nhân dân cơ cực, mâu thuẫn xã hội gia tăng.
- Mâu thuẫn xã hội làm bùng nổ nhiều cuộc khởi nghĩa chống triều đình nhà Nguyễn. Lực lượng tham gia vào đấu tranh gồm có: nông dân, thợ thuyền, binh lính, nhà nho, nhân dân các dân tộc thiểu số…
- Các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu: khởi nghĩa của Phan Bá Vành (1821 – 1927) ở Nam Định, Thái Bình; của Lê Duy Lương (1833 – 1838) ở Ninh Bình, Thanh Hoá; của Nông Văn Vân (1833 – 1835) ở Cao Bằng; của Cao Bá Quát (1854 – 1856) ở Hà Nội,… Tính từ năm 1802 – 1862, có khoảng 405 cuộc nổi dậy của nông dân.
=> Chứng tỏ bộ máy nhà nước chưa chăm lo tốt cho đời sống nhân dân, không nhận được sự ủng hộ của nhân dân, đời sống nhân dân khổ cực, khó khăn, tình hình chính trị đất nước không ổn định.
- Chi tiết trên gợi tả xã hội Nga bị bao trùm bởi nỗi sợ, sự e dè quyền lực.
- Bóng tối ấy không chỉ xuất hiện ở con người từ thế hệ lớn tuổi đến thế hệ mầm non mà ngay cả cảnh vật cũng bị nhuốm màu.
- Dường như cả xã hội Nga đang bị ngập chìm trong đó, không có ánh sáng của sự chân thành.