Nguyễn Văn Tiến
Giới thiệu về bản thân
Tác giả Nguyễn Thành Long là một cây bút chuyên về truyện ngắn xuất sắc, các tác phẩm nổi tiếng của ông như: Giữa trong xanh (1972), Lý Sơn mùa tỏi (1980). Và đoạn trích “Lặng lẽ Sa Pa” được rút ra từ tập truyện “Giữa trong xanh”. Truyện được viết vào một chuyến nhà văn đi công tác lại Lào Cai, ca ngợi những con người sống ở nơi non xanh lặng lẽ đang ngày đêm cống hiến thầm lặng cho Tổ quốc. Mở đầu tác phẩm là bức tranh thiên nhiên đầy chất thơ của mảnh đất Lào Cai - nơi miền Tây Bắc của Tổ quốc, nơi đây không hề mang vẻ hoang vu mà trái lại còn rất hữu tình và tráng lệ. Xe của đoàn vừa “trèo lên núi” đã thấy “mây hắt từng chiếc quạt trắng lên từ các thung lũng”, trạm dừng là nơi “con suối có thác trắng xóa”, những cây thông “rung tít trong nắng”,…Trên nền của bức tranh thiên nhiên ấy, hiện lên hình ảnh cuộc sống của con người, làm cho bức tranh càng thêm nồng nàn, ý vị “nắng chiều làm cho bó hoa càng thêm rực rỡ và làm cho cô gái cảm thấy mình rực rỡ theo”. Trong chuyến xe lên Lào Cai ấy, có bác lái xe vui tính, cởi mở và nhiệt tình với hành khách; có ông họa sĩ già nhưng vì tình yêu nghệ thuật nên vẫn khao khát những chuyến đi thực tế tìm kiếm cái đẹp, lúc nào ông cũng trăn trở một điều “phải vẽ được một cái gì suốt đời mình thích”; bên cạnh đó là cô kĩ sư trẻ mới ra trường, tinh thần hăng hái xung phong lên Lào Cai công tác, bước vào cuộc sống bát ngát sau những năm tháng đại học khiến cho cô rất háo hức. Tại Sa Pa đoàn khách của tác giả đã được biết đến ông kĩ sư ở vườn rau, suốt đời làm việc nghiên cứu và lai tạo giống cây trồng phục vụ dân sinh và xuất khẩu. Đồng chí ấy đã mười một năm không một ngày xa cơ quan, bỏ mặc hạnh phúc riêng tư. Tiêu biểu nhất cho con người nơi đây chính là anh thanh niên 27 tuổi làm công tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu tại đỉnh núi Yên Sơn cao 2600 mét. Sống một mình trên đỉnh núi, anh thanh niên theo lời giới thiệu của bác lái xe là “người cô độc nhất thế gian”. Công việc của anh là đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất” phục vụ cho sản xuất và chiến đấu. Hoàn cảnh làm việc một mình, đôi lúc thời tiết khắc nghiệt như bão tuyết, mưa rét nhưng anh vẫn một mình xách đèn bão ra vườn lấy số liệu. Chẳng cần có người giám sát, thúc giục, anh thanh niên vẫn làm việc với tinh thần trách nhiệm cao. Anh còn là một người rất lạc quan, yêu đời và có lối sống khoa học, sống một mình nhưng vẫn trồng hoa, chăn gà và đọc sách. Anh cũng rất nhiệt thành và chu đáo với mọi người, đồng thời rất khiêm tốn. Anh là tấm gương về một con người có lý tưởng sống đẹp, vì quê hương đất nước mà quên đi bản thân mình. Tóm lại những nhân vật trên đã tạo nên bức chân dung về những con người sống đẹp, hy sinh thầm lặng và cống hiến hết mình vì sự nghiệp của đất nước. Có thể thấy, truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa” như một bài thơ trữ tình bằng văn xuôi rất trong sáng và nhẹ nhàng. Trên nền cảnh của thiên nhiên núi rừng Sa Pa, những con người hiện lên thật đáng yêu, đáng quý và đáng trân trọng.
Qua bài thơ "Chim yến làm tổ", ta thấy được một lẽ sống vô cùng cao đẹp: "Sống là dâng tặng". Dâng tặng không nhất thiết phải là những điều lớn lao, mà đôi khi chỉ là sự nỗ lực hết mình để hoàn thành trách nhiệm như con chim yến âm thầm chắt máu làm tổ. Khi chúng ta biết sống vì người khác, biết trao đi yêu thương và sự tử tế, cuộc đời sẽ trở nên ý nghĩa và ấm áp hơn. Sự dâng tặng giúp con người vượt qua cái tôi ích kỷ, tạo nên sợi dây gắn kết giữa người với người. Mỗi hành động dâng hiến lặng lẽ đều góp phần làm cho thế gian này trở nên tốt đẹp và rực rỡ hơn. Vì vậy, hãy sống và dâng hiến bằng tất cả trái tim mình như hình ảnh con chim nhỏ kiên cường trước sóng gió.
Ta hoá phù sa: Hình ảnh hoán dụ nhân hóa, tượng trưng cho việc mỗi người nguyện hiến dâng sức lực, tuổi trẻ (phù sa) để bồi đắp, làm giàu cho mảnh đất quê hương. Mỗi bến chờ: Tượng trưng cho những nơi, những thời điểm đất nước cần, thể hiện sự sẵn sàng, âm thầm đợi chờ để cống hiến. => Ý thơ ca ngợi tình yêu quê hương sâu sắc, tinh thần trách nhiệm và sự gắn bó máu thịt với đất nước.
a,
Đất phù sa có giá trị vô cùng quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp và thủy sản ở nước ta. Đối với nông nghiệp: Là loại đất màu mỡ nhất, thích hợp cho việc thâm canh, tăng vụ các loại cây trồng, đặc biệt là cây lúa nước. Phù hợp để phát triển các vùng chuyên canh cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả và rau màu. Đối với thủy sản: Các vùng đất phù sa ven biển và cửa sông tạo điều kiện thuận lợi để nuôi trồng thủy sản nước lợ, nước mặn (như nuôi tôm, cua). Phù sa bồi đắp cung cấp nguồn thức ăn tự nhiên phong phú cho các loài thủy sinh.
b,
Hiện trạng thoái hóa đất ở nước ta đang diễn ra nghiêm trọng, chủ yếu là tình trạng đất bị bạc màu, xói mòn và ô nhiễm.
Hiện trạng: Đất đồi núi: Bị xói mòn, rửa trôi mạnh, trở nên bạc màu, trơ sỏi đá (đặc biệt ở vùng trung du và miền núi Bắc Bộ, Tây Nguyên). Đất đồng bằng: Bị ô nhiễm do sử dụng quá nhiều phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật; đất bị nhiễm mặn, nhiễm phèn (đặc biệt ở Đồng bằng sông Cửu Long). Nguyên nhân: Tự nhiên: Do địa hình dốc, mưa lớn tập trung vào mùa mưa gây xói mòn; biến đổi khí hậu gây nước biển dâng làm tăng diện tích đất nhiễm mặn. Con người: Chặt phá rừng phòng hộ đầu nguồn làm mất lớp phủ thực vật; canh tác không hợp lý, thâm canh quá mức; sử dụng hóa chất nông nghiệp vô tội vạ; rác thải công nghiệp và sinh hoạt chưa qua xử lý làm ô nhiễm đất.
a,
Đất phù sa có giá trị vô cùng quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp và thủy sản ở nước ta. Đối với nông nghiệp: Là loại đất màu mỡ nhất, thích hợp cho việc thâm canh, tăng vụ các loại cây trồng, đặc biệt là cây lúa nước. Phù hợp để phát triển các vùng chuyên canh cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả và rau màu. Đối với thủy sản: Các vùng đất phù sa ven biển và cửa sông tạo điều kiện thuận lợi để nuôi trồng thủy sản nước lợ, nước mặn (như nuôi tôm, cua). Phù sa bồi đắp cung cấp nguồn thức ăn tự nhiên phong phú cho các loài thủy sinh.
b,
Hiện trạng thoái hóa đất ở nước ta đang diễn ra nghiêm trọng, chủ yếu là tình trạng đất bị bạc màu, xói mòn và ô nhiễm.
Hiện trạng: Đất đồi núi: Bị xói mòn, rửa trôi mạnh, trở nên bạc màu, trơ sỏi đá (đặc biệt ở vùng trung du và miền núi Bắc Bộ, Tây Nguyên). Đất đồng bằng: Bị ô nhiễm do sử dụng quá nhiều phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật; đất bị nhiễm mặn, nhiễm phèn (đặc biệt ở Đồng bằng sông Cửu Long). Nguyên nhân: Tự nhiên: Do địa hình dốc, mưa lớn tập trung vào mùa mưa gây xói mòn; biến đổi khí hậu gây nước biển dâng làm tăng diện tích đất nhiễm mặn. Con người: Chặt phá rừng phòng hộ đầu nguồn làm mất lớp phủ thực vật; canh tác không hợp lý, thâm canh quá mức; sử dụng hóa chất nông nghiệp vô tội vạ; rác thải công nghiệp và sinh hoạt chưa qua xử lý làm ô nhiễm đất.
- Theo bài đọc, khi hai người bạn gặp nhau, họ ôm nhau và hôn đến ba lần. Điều này thể hiện sự quan tâm và hạnh phúc khi gặp lại người bạn cũ. Do đó, nếu bạn gặp lại người bạn gầy, có thể chào hỏi bằng cách tương tự và thể hiện sự vui mừng với cuộc gặp gỡ.
- Anh gầy hỏi về cuộc sống hiện tại của anh béo, như công việc, gia đình, và mức độ thành đạt. Điều này thể hiện sự quan tâm và muốn biết về người khác. Bạn cũng có thể hỏi về những thành tựu và trải nghiệm của người bạn gặp lại.
- Trong trường hợp này, anh béo là viên chức bậc ba và anh gầy là viên chức bậc tám. Tuy nhiên, anh béo không đánh giá anh gầy qua vẻ bề ngoài hay thành công trong công việc. Do đó, khi gặp lại người bạn, hãy tránh đánh giá họ dựa trên ngoại hình hay vị thế xã hội.
- Anh béo ban đầu có ý định quở trách anh gầy, nhưng khi thấy anh gầy thể hiện sự kính cẩn, anh béo quyết định không làm điều đó. Điều này thể hiện tôn trọng và khả năng chấp nhận sự khác biệt trong cuộc sống của người khác.
- Những gợi ý trên có thể giúp bạn ứng xử một cách tự tin và tôn trọng khi gặp lại người bạn gầy. Hãy nhớ rằng, quan trọng nhất là thể hiện sự quan tâm và tôn trọng đối với người khác.
Bài thơ "Mẹ" của Viễn Phương đã mang đến cho em những cảm xúc nghẹn ngào về sự hy sinh vô điều kiện của người mẹ. Hình ảnh người mẹ hiện lên thật đẹp nhưng cũng đầy gian truân qua phép so sánh "Mẹ nghèo như đóa hoa sen". Cả cuộc đời mẹ âm thầm lặng lẽ, chắt chiu từng giọt máu và nước mắt để "ướp" cho con hương vị ngọt ngào nhất của cuộc đời. Em đặc biệt xúc động trước sự đối lập giữa hình ảnh "con đi chân trời gió lộng" và "mẹ về nắng quải chiều hôm". Khi con trưởng thành, bay cao bay xa thì cũng là lúc mẹ già yếu, đơn chiếc trong bóng chiều. Dù bài thơ kết thúc bằng sự chia lìa sinh tử khi "Mẹ đã lìa xa cõi đời", nhưng hình ảnh mẹ không mất đi mà "thành ngôi sao lên trời", mãi mãi soi sáng và sưởi ấm tâm hồn con. Bài thơ là lời nhắc nhở sâu sắc về lòng hiếu thảo, khiến em càng thêm trân trọng và yêu thương mẹ của mình hơn.
Sự thay đổi đột ngột trong thái độ, tâm trạng của anh gầy khi biết anh béo là người có địa vị cao. Nó làm nổi bật vẻ khúm núm, sợ sệt, tự ti, đến mức không chỉ con người mà cả đồ vật xung quanh cũng như “co rúm”, “nhăn nhó”. Ý nghĩa của chi tiết: Là một biện pháp nhân hoá, khiến cảnh vật như mang tâm trạng của con người. Nhấn mạnh sự hèn yếu, xu nịnh của anh gầy trước quyền thế. Qua đó, tác giả phê phán thói trọng chức quyền, coi thường tình bạn chân thành trong xã hội.
Trong chương trình Ngữ văn, em đặc biệt ấn tượng với truyện ngắn “Lão Hạc” của Nam Cao. Tác phẩm không chỉ kể về cuộc đời bất hạnh của một người nông dân nghèo mà còn thể hiện sâu sắc vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách cao quý của họ trong xã hội cũ.
Trước hết, truyện xoay quanh nhân vật lão Hạc – một người nông dân nghèo sống cô đơn cùng con chó Vàng sau khi vợ mất, con trai bỏ đi làm đồn điền cao su. Vì nghèo đói và bệnh tật, lão buộc phải bán cậu Vàng – người bạn thân thiết nhất của mình. Chi tiết bán chó là nút thắt quan trọng của câu chuyện. Lão Hạc đau đớn, dằn vặt và tự trách mình đã “lừa một con chó”. Qua đó, Nam Cao đã khắc họa một con người giàu lòng yêu thương
Bài thơ Khi mùa mưa đến của Trần Hòa Bình chan chứa cảm hứng yêu thương và gắn bó sâu nặng với quê hương. Mùa mưa trong thơ không chỉ là hiện tượng thiên nhiên mà còn là biểu tượng của sự sống, của hi vọng và no ấm. Nhà thơ đón mưa bằng tâm thế háo hức, “xoà tay ta mải đón”, như đón nhận nguồn phù sa bồi đắp cho làng quê, cho những mùa màng tươi tốt. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là niềm vui trước sự hồi sinh của thiên nhiên, là tình yêu tha thiết với đất bãi, bãi bờ nhân hậu và cuộc sống lao động bình dị. Đặc biệt, câu thơ “Ta hoá phù sa mỗi bến chờ” thể hiện ước nguyện được hoà mình, được cống hiến cho quê hương như phù sa lặng lẽ bồi đắp cho đời. Qua đó, ta cảm nhận được một tâm hồn giàu yêu thương, chan chứa niềm tin và hi vọng vào tương lai.