Lê Thu Thủy
Giới thiệu về bản thân
Em nghĩ “Ta hoá phù sa mỗi bến chờ” là hình ảnh ẩn dụ đẹp, thể hiện ước nguyện hoà mình vào thiên nhiên và quê hương, trở thành nguồn bồi đắp âm thầm cho cuộc sống, gửi gắm tình yêu đất đai, làng bãi và niềm tin vào những mùa no ấm.
Sau kì thi cuối kì đầy căng thẳng, trường chúng em có tổ chức đi tham quan Bạch Đằng Giang với mục đích giúp các bạn học sinh hiểu hơn về lịch sử nước nhà. Chuyến đi rất bổ ích và giúp em cùng các bạn biết thêm nhiều kiến thức mới.
Nằm ngay cửa sông Bạch Đằng, cách trung tâm thành phố Hải Phòng khoảng 20km, di tích Bạch Đằng Giang (Tràng Kênh-Thủy Nguyên) xứng đáng là quần thể hội tụ những dấu ấn lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng lớn bậc nhất Hải Phòng, một trong những điểm đến hấp dẫn du khách thập phương. Vùng cửa sông Bạch Đằng thực sự là một địa danh đặc biệt bởi trong một không gian không mấy rộng nhưng lại gắn liền với 3 trận thủy chiến. Đó là những trận chiến biểu tượng cho tinh thần của một dân tộc anh hùng, chống lại những thế lực ngoại xâm lớn mạnh gấp bội lần.
Xe khởi hành từ 5 giờ 20 phút sáng, vượt hơn hơn 100km để đến Bạch Đằng Giang. Khoảng gần 9 giờ sáng, chúng em có mặt tại khu di tích Bạch Đằng Giang. Khí trời mát mẻ lạ thường, khung cảnh nơi đây thật đẹp. Thỉnh thoảng có những tia nắng ấm áp làm những tán lá xanh mướt lấp lánh như dát bạc. Dưới sự hướng dẫn của các anh chị hướng dẫn viên, chúng em lần lượt được tham quan toàn cảnh khu di tích. Trước hết là quần thể 3 ngôi đền lần lượt gắn với tên tuổi 3 nhà cầm quân lẫy lừng của dân tộc: Vua Lê Đại Hành, Quốc Công Tiết chế Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và Đức Vương Ngô Quyền. Cả 3 ngôi đền đều được kiến trúc theo dáng cổ, với sự kết hợp kỳ công giữa gỗ và đá tự nhiên, tọa lạc dưới bóng cây cổ thụ, dọc theo triền núi ven sông, tạo thành một vùng sinh thái thơ mộng, trên bến dưới thuyền, sơn thủy hữu tình gắn quyện. Ngoài bến sông Bạch Đằng có thêm con đường rộng thênh thang, dẫn lối tới những cầu đá nổi, được chạm khắc tinh xảo, tôn thêm vẻ hùng tráng đến kỳ vĩ của 3 pho tượng các bậc danh tướng, sừng sững ngự trên mặt sông. Phía dưới là bãi cọc, tái tạo chứng tích lịch sử ấn tượng một thuở non sông vang dội. Chúng em nhìn ngắm toàn cảnh khu di tích mà tưởng như mình đang được chứng kiến thời khắc lịch sử hào hùng của dân tộc.
Sau khi kết thúc chuyến đi em đã biết thêm nhiều về lịch sử kháng chiến của cha ông ta để có được như ngày hôm nay đã phải đổ biết bao nhiêu xương máu để c giành lại độc lập cho đất nước. Chuyến đi hôm nay là một chuyến đi mà em cảm ấy thú vị và bổ ích nhất. Khi đã lên xe những địa điểm mà em đã tham quan, những kiến thức mà em mới được biết thêm,... Tất cả chúng hiện lên trong tâm trí em như một thước phim tua chậm vậy. Em sẽ cố gắng học tập thật tốt để học kì này có thể đạt được kết quả thật tốt để không phụ công những người đã ngã xuống để em có thể học trong một môi trường đầy đủ, một nơi ở không có chiến tranh.
Câu1: Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú luật Đường.
Câu 2. Những hình ảnh thiên nhiên được nhắc đến trong bốn dòng thơ đầu: hoè lục đùn đùn; thạch lựu phun thức đỏ; hồng liên trì tiễn mùi hương.
Câu 3.
– Biện pháp đảo ngữ: từ “lao xao”, “dắng dỏi” được đảo lên đầu các dòng thơ “Lao xao chợ cá làng ngư phủ,/ Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.”.
– Tác dụng:
+ Tạo nhạc điệu, gợi sự sôi nổi của đời sống.
+ Nhấn mạnh âm thanh sống động trong đời sống lao động của con người.
+ Làm nổi bật bức tranh mùa hè không chỉ có màu sắc, hương vị mà còn có âm thanh chân thực của con người và thiên nhiên.
Câu 4. Trong hai dòng thơ cuối, tác giả đã bộc lộ tình cảm, cảm xúc:
– Niềm mong ước thái bình: hình ảnh “Ngu cầm” gợi thời Nghiêu – Thuấn, nhân dân sống yên vui, hạnh phúc.
– Tình yêu thương nhân dân: ước muốn “dân giàu đủ khắp đòi phương” cho thấy tác giả lo cho đời sống muôn dân, không nghĩ riêng cho bản thân.
– Khát vọng nhân văn: Nguyễn Trãi gửi gắm tư tưởng “lấy dân làm gốc”, mong mỏi hạnh phúc chung cho xã hội.
=> Hai dòng thơ bộc lộ tình yêu dân, thương dân và khát vọng về một xã hội thái bình, nhân dân ấm no, hạnh phúc.
Câu 5.
– Chủ đề của bài thơ: Ca ngợi vẻ đẹp rực rỡ, sinh động của thiên nhiên ngày hè và thể hiện tấm lòng yêu đời, yêu dân, lo cho dân của Nguyễn Trãi.
– Căn cứ để xác định chủ đề:
+ Nhan đề của văn bản: “Cảnh ngày hè”.
+ Các từ ngữ miêu tả khung cảnh thiên nhiên; bộc lộ tình cảm, cảm xúc của tác giả.
+ Nội dung chính của các phần.
Câu 6.
Trong cuộc sống, tinh thần lạc quan là một yếu tố vô cùng quan trọng giúp tôi vượt qua những khó khăn. Tôi nhận ra rằng, để giữ gìn được tinh thần này, tôi cần biết tận hưởng những điều bình dị xung quanh mình. Mỗi buổi sáng thức dậy, tôi thường dành thời gian ngắm nhìn ánh nắng chiếu qua cửa sổ, hay lắng nghe tiếng chim hót. Những khoảnh khắc nhỏ bé ấy mang lại cho tôi niềm vui và sự bình yên. Tôi cũng học được rằng, việc chia sẻ niềm vui với người khác, dù chỉ là một nụ cười hay một lời chào, cũng có thể lan tỏa tinh thần tích cực. Nhờ vậy, tôi cảm thấy cuộc sống trở nên tươi đẹp hơn và tràn đầy ý nghĩa