Đoàn Thị Lý
Giới thiệu về bản thân
Câu 1
Lối sống chủ động đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của mỗi người. Khi sống chủ động, chúng ta có thể kiểm soát cuộc sống của mình, đưa ra quyết định sáng suốt và đạt được mục tiêu. Lối sống chủ động giúp chúng ta trở nên tự tin, tự lập và có trách nhiệm hơn. Chúng ta không còn bị động trước những sự kiện xảy ra trong cuộc sống mà có thể tạo ra những cơ hội mới và giải quyết vấn đề một cách hiệu quả. Sống chủ động cũng giúp chúng ta quản lý thời gian và nguồn lực một cách hiệu quả, giảm thiểu căng thẳng và tăng cường sức khỏe tinh thần. Khi chúng ta chủ động trong công việc và cuộc sống, chúng ta có thể đạt được thành công và hạnh phúc hơn. Ngược lại, lối sống thụ động có thể khiến chúng ta mất cơ hội, giảm tự tin và cảm thấy bất mãn với cuộc sống. Vì vậy, việc áp dụng lối sống chủ động là điều cần thiết để đạt được thành công và hạnh phúc trong cuộc sống. Hãy bắt đầu bằng việc đặt mục tiêu và lên kế hoạch để sống chủ động ngay từ hôm nay.
Câu 2
Bài làm
Nguyễn Trãi đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên mùa hạ rực rỡ, tràn đầy sức sống, đồng thời gửi gắm trong đó tâm hồn thanh cao và khát vọng vì dân vì nước của nhà thơ. Qua những hình ảnh giàu màu sắc, âm thanh và nhịp điệu, ta cảm nhận được vẻ đẹp của cảnh sắc và tấm lòng của một bậc đại thần luôn đau đáu nỗi niềm với cuộc đời. Mở đầu đoạn thơ là bức tranh thiên nhiên với những gam màu tươi sáng: “Rồi hóng mát thuở ngày trường, Hòe lục đùn đùn tán rợp trương.” Giữa “ngày trường” – ngày hè dài và oi ả – nhà thơ hiện lên trong tư thế ung dung “rồi hóng mát”. Từ “rồi” gợi cảm giác nhàn tản, thư thái, như thể ông đang tạm gác lại những lo toan thường nhật để hòa mình vào thiên nhiên. Hình ảnh “hòe lục đùn đùn tán rợp trương” thật giàu sức gợi. Từ láy “đùn đùn” diễn tả sức sống mãnh liệt của cây hòe khi những tán lá xanh biếc cứ dày lên, vươn rộng, che rợp cả khoảng không gian. Màu xanh của hòe không tĩnh lặng mà như đang chuyển động, dâng trào, thể hiện nhịp sống sôi nổi của mùa hạ. Tiếp đó, bức tranh được điểm xuyết bằng sắc đỏ và hương thơm: “Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ, Hồng liên trì đã tiễn mùi hương.” Nếu sắc xanh của hòe tạo nền cho bức tranh, thì sắc đỏ của thạch lựu lại như những đốm lửa rực cháy giữa không gian. Động từ “phun” khiến hình ảnh hoa lựu trở nên sống động, như đang bắn tung những tia lửa đỏ thắm. Không chỉ có màu sắc, cảnh vật còn có hương thơm dịu nhẹ của “hồng liên” – sen hồng nơi ao trì. Từ “tiễn” gợi cảm giác hương sen lan tỏa, đưa đẩy theo gió. Như vậy, thiên nhiên hiện lên với đầy đủ màu sắc, đường nét và hương vị, tạo nên một bức tranh mùa hè vừa rực rỡ vừa thanh khiết. Không dừng lại ở đó, Nguyễn Trãi còn đưa vào bức tranh âm thanh của cuộc sống: “Lao xao chợ cá làng ngư phủ; Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.” Âm thanh “lao xao” của chợ cá nơi làng chài gợi nhịp sống nhộn nhịp, ấm no. Từ láy “lao xao” diễn tả tiếng người mua bán, trao đổi, hòa quyện với tiếng sóng nước. Bên cạnh đó là tiếng ve “dắng dỏi” vang lên không ngớt dưới ánh chiều tà. Hai âm thanh ấy – một của con người, một của thiên nhiên – hòa quyện, tạo nên bản hòa tấu rộn ràng của mùa hạ. Cảnh không hề tĩnh lặng mà tràn đầy sức sống, cho thấy tâm hồn nhà thơ luôn mở rộng để đón nhận mọi thanh âm của cuộc đời. Đặc biệt, hai câu cuối đã bộc lộ rõ tấm lòng của Nguyễn Trãi: “Lẽ có Ngu cầm đàn một tiếng, Dân giàu đủ khắp đòi phương.” Nhắc đến “Ngu cầm”, nhà thơ gợi điển tích về vua Thuấn – vị minh quân thời cổ đại thường gảy đàn để cầu mong mưa thuận gió hòa, nhân dân ấm no. Ước muốn “dân giàu đủ khắp đòi phương” chính là khát vọng lớn lao của Nguyễn Trãi. Dù đang trong cảnh “hóng mát”, tâm hồn ông không hề xa rời thế sự mà luôn hướng về nhân dân. Ông mong có thể gảy một tiếng đàn như vua Thuấn để đem lại cuộc sống ấm no cho muôn dân. Điều đó cho thấy tư tưởng nhân nghĩa sâu sắc và tấm lòng yêu nước thương dân tha thiết của nhà thơ. Qua đoạn thơ, ta thấy được sự hòa quyện giữa cảnh và tình. Cảnh thiên nhiên mùa hạ rực rỡ chính là tấm gương phản chiếu tâm hồn yêu đời, yêu thiên nhiên của Nguyễn Trãi. Đồng thời, ẩn sau vẻ nhàn tản là nỗi niềm trăn trở về cuộc sống của nhân dân. Dù từng trải qua nhiều biến cố, bị nghi kị và phải lui về ở ẩn, ông vẫn không nguôi khát vọng cống hiến cho đất nước. Về nghệ thuật, đoạn thơ sử dụng nhiều từ láy giàu sức gợi như “đùn đùn”, “lao xao”, “dắng dỏi”, cùng các động từ mạnh như “phun”, “tiễn” đã làm cho bức tranh thiên nhiên trở nên sinh động. Việc kết hợp hài hòa giữa màu sắc, âm thanh và hương vị tạo nên một không gian đa chiều, đầy sức sống. Thể thơ thất ngôn xen lục ngôn trong Quốc âm thi tập cũng góp phần tạo nên nhịp điệu linh hoạt, gần gũi với lời ăn tiếng nói dân tộc. Tóm lại, đoạn thơ trong “Bảo kính cảnh giới” không chỉ là bức tranh thiên nhiên mùa hạ tươi đẹp mà còn là tiếng lòng của Nguyễn Trãi – một con người luôn nặng lòng với dân với nước. Qua đó, ta càng thêm trân trọng tâm hồn thanh cao, lý tưởng nhân nghĩa và tài năng nghệ thuật của ông. Đoạn thơ mãi là minh chứng cho vẻ đẹp của thơ ca trung đại Việt Nam, nơi thiên nhiên và con người hòa quyện trong những rung cảm chân thành và sâu sắc.
Câu 1:
Thể thơ Thất ngôn bát cú Đường luật.
Câu 2:
Dụng cụ lao động: Một mai, một cuốc, một cần câu (những vật dụng gắn liền với công việc đồng áng, đánh cá của người nông dân).
Câu 3:
Biện pháp liệt kê nằm ở câu thơ: "Một mai, một cuốc, một cần câu". Phân tích tác dụng: Về nội dung: Gợi lên hình ảnh cuộc sống lao động chân tay giản dị, vui thú điền viên của một "lão nông" thực thụ. Các số từ "một" được lặp lại khẳng định sự chủ động, sẵn sàng và tư thế thong dong của tác giả. Về nghệ thuật: Tạo nhịp điệu chậm rãi, thong thả cho câu thơ, thể hiện tâm thế nhàn nhã, không chút vướng bận ưu phiền của Nguyễn Bỉnh Khiêm khi về ở ẩn.
Câu 4 : Quan niệm này đặc biệt ở chỗ tác giả đã đảo ngược giá trị thông thường bằng nghệ thuật đối lập và cách nói ngược
Câu 5: Qua văn bản trên, ta thấy hiện lên một nhân cách cao đẹp, sáng ngời của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đó là một con người có lối sống giản dị, thanh cao, biết tìm thấy niềm vui trong lao động và sự hòa hợp tuyệt đối với thiên nhiên. Nhân cách ấy còn thể hiện ở bản lĩnh cứng cỏi, sự tỉnh táo trước những cám dỗ của danh lợi phù hoa (coi phú quý chỉ như một giấc chiêm bao). Ông không chỉ là một trí tuệ bậc thầy mà còn là một tâm hồn tự tại, luôn giữ vững thiên lương giữa một xã hội đầy rẫy những toan tính, bon chen. Lối sống "Nhàn" của ông chính là một minh chứng cho sự lựa chọn giữ gìn nhân cách trong sạch đến cùng.
Câu 1:
Lối sống chủ động đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của mỗi người. Khi sống chủ động, chúng ta có thể kiểm soát cuộc sống của mình, đưa ra quyết định sáng suốt và đạt được mục tiêu. Lối sống chủ động giúp chúng ta trở nên tự tin, tự lập và có trách nhiệm hơn. Chúng ta không còn bị động trước những sự kiện xảy ra trong cuộc sống mà có thể tạo ra những cơ hội mới và giải quyết vấn đề một cách hiệu quả. Sống chủ động cũng giúp chúng ta quản lý thời gian và nguồn lực một cách hiệu quả, giảm thiểu căng thẳng và tăng cường sức khỏe tinh thần. Khi chúng ta chủ động trong công việc và cuộc sống, chúng ta có thể đạt được thành công và hạnh phúc hơn. Ngược lại, lối sống thụ động có thể khiến chúng ta mất cơ hội, giảm tự tin và cảm thấy bất mãn với cuộc sống. Vì vậy, việc áp dụng lối sống chủ động là điều cần thiết để đạt được thành công và hạnh phúc trong cuộc sống. Hãy bắt đầu bằng việc đặt mục tiêu và lên kế hoạch để sống chủ động ngay từ hôm nay.
Câu 2:
Bài làm
Nguyễn Trãi đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên mùa hạ rực rỡ, tràn đầy sức sống, đồng thời gửi gắm trong đó tâm hồn thanh cao và khát vọng vì dân vì nước của nhà thơ. Qua những hình ảnh giàu màu sắc, âm thanh và nhịp điệu, ta cảm nhận được vẻ đẹp của cảnh sắc và tấm lòng của một bậc đại thần luôn đau đáu nỗi niềm với cuộc đời. Mở đầu đoạn thơ là bức tranh thiên nhiên với những gam màu tươi sáng: “Rồi hóng mát thuở ngày trường, Hòe lục đùn đùn tán rợp trương.” Giữa “ngày trường” – ngày hè dài và oi ả – nhà thơ hiện lên trong tư thế ung dung “rồi hóng mát”. Từ “rồi” gợi cảm giác nhàn tản, thư thái, như thể ông đang tạm gác lại những lo toan thường nhật để hòa mình vào thiên nhiên. Hình ảnh “hòe lục đùn đùn tán rợp trương” thật giàu sức gợi. Từ láy “đùn đùn” diễn tả sức sống mãnh liệt của cây hòe khi những tán lá xanh biếc cứ dày lên, vươn rộng, che rợp cả khoảng không gian. Màu xanh của hòe không tĩnh lặng mà như đang chuyển động, dâng trào, thể hiện nhịp sống sôi nổi của mùa hạ. Tiếp đó, bức tranh được điểm xuyết bằng sắc đỏ và hương thơm: “Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ, Hồng liên trì đã tiễn mùi hương.” Nếu sắc xanh của hòe tạo nền cho bức tranh, thì sắc đỏ của thạch lựu lại như những đốm lửa rực cháy giữa không gian. Động từ “phun” khiến hình ảnh hoa lựu trở nên sống động, như đang bắn tung những tia lửa đỏ thắm. Không chỉ có màu sắc, cảnh vật còn có hương thơm dịu nhẹ của “hồng liên” – sen hồng nơi ao trì. Từ “tiễn” gợi cảm giác hương sen lan tỏa, đưa đẩy theo gió. Như vậy, thiên nhiên hiện lên với đầy đủ màu sắc, đường nét và hương vị, tạo nên một bức tranh mùa hè vừa rực rỡ vừa thanh khiết. Không dừng lại ở đó, Nguyễn Trãi còn đưa vào bức tranh âm thanh của cuộc sống: “Lao xao chợ cá làng ngư phủ; Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.” Âm thanh “lao xao” của chợ cá nơi làng chài gợi nhịp sống nhộn nhịp, ấm no. Từ láy “lao xao” diễn tả tiếng người mua bán, trao đổi, hòa quyện với tiếng sóng nước. Bên cạnh đó là tiếng ve “dắng dỏi” vang lên không ngớt dưới ánh chiều tà. Hai âm thanh ấy – một của con người, một của thiên nhiên – hòa quyện, tạo nên bản hòa tấu rộn ràng của mùa hạ. Cảnh không hề tĩnh lặng mà tràn đầy sức sống, cho thấy tâm hồn nhà thơ luôn mở rộng để đón nhận mọi thanh âm của cuộc đời. Đặc biệt, hai câu cuối đã bộc lộ rõ tấm lòng của Nguyễn Trãi: “Lẽ có Ngu cầm đàn một tiếng, Dân giàu đủ khắp đòi phương.” Nhắc đến “Ngu cầm”, nhà thơ gợi điển tích về vua Thuấn – vị minh quân thời cổ đại thường gảy đàn để cầu mong mưa thuận gió hòa, nhân dân ấm no. Ước muốn “dân giàu đủ khắp đòi phương” chính là khát vọng lớn lao của Nguyễn Trãi. Dù đang trong cảnh “hóng mát”, tâm hồn ông không hề xa rời thế sự mà luôn hướng về nhân dân. Ông mong có thể gảy một tiếng đàn như vua Thuấn để đem lại cuộc sống ấm no cho muôn dân. Điều đó cho thấy tư tưởng nhân nghĩa sâu sắc và tấm lòng yêu nước thương dân tha thiết của nhà thơ. Qua đoạn thơ, ta thấy được sự hòa quyện giữa cảnh và tình. Cảnh thiên nhiên mùa hạ rực rỡ chính là tấm gương phản chiếu tâm hồn yêu đời, yêu thiên nhiên của Nguyễn Trãi. Đồng thời, ẩn sau vẻ nhàn tản là nỗi niềm trăn trở về cuộc sống của nhân dân. Dù từng trải qua nhiều biến cố, bị nghi kị và phải lui về ở ẩn, ông vẫn không nguôi khát vọng cống hiến cho đất nước. Về nghệ thuật, đoạn thơ sử dụng nhiều từ láy giàu sức gợi như “đùn đùn”, “lao xao”, “dắng dỏi”, cùng các động từ mạnh như “phun”, “tiễn” đã làm cho bức tranh thiên nhiên trở nên sinh động. Việc kết hợp hài hòa giữa màu sắc, âm thanh và hương vị tạo nên một không gian đa chiều, đầy sức sống. Thể thơ thất ngôn xen lục ngôn trong Quốc âm thi tập cũng góp phần tạo nên nhịp điệu linh hoạt, gần gũi với lời ăn tiếng nói dân tộc. Tóm lại, đoạn thơ trong “Bảo kính cảnh giới” không chỉ là bức tranh thiên nhiên mùa hạ tươi đẹp mà còn là tiếng lòng của Nguyễn Trãi – một con người luôn nặng lòng với dân với nước. Qua đó, ta càng thêm trân trọng tâm hồn thanh cao, lý tưởng nhân nghĩa và tài năng nghệ thuật của ông. Đoạn thơ mãi là minh chứng cho vẻ đẹp của thơ ca trung đại Việt Nam, nơi thiên nhiên và con người hòa quyện trong những rung cảm chân thành và sâu sắc.
Câu 1: thể thơ: thất ngôn bát cú đường luật
Câu 2: những hình ảnh nói về nét Sinh hoạt hàng ngày
Công cụ lao động: một mai, một cuốc, một cần câu thể hiện cuộc sống tự cung tự cấp, gắn bó với ruộng vườn,sông nước như một lão nông thực thụ .
Thức ăn: thu ăn măng trúc,đông ăn giá những món ăn dân dã, cây nhà lá vườn theo mùa.
Sinh hoạt: Xuân tắm hồ sen ,hạ tắm ao hoà mình vào thiên nhiên, tận hưởng sự thanh thản, không màng danh lợi.
Câu 3:
Biện pháp tu từ liệt kê:mai,cuốc, cần câu
Tác dụng:
Về nội dung: gợi ra một cuộc sống lao động chân tay giản dị thong dong của một lão nông tri điền.các danh từ đi kèm vs một số từ "một" cho thấy sự chuẩn bị sẵn sàng,tư thế chủ động và sự hài lòng với cuộc sống ẩn dật
Về nghệ thuật: tạo nhịp điệu thong thả, chậm rãi,nhấn mạnh vẻ đẹp thanh cao và sự tự tại trong tâm hồn của nhà thơ .
Câu 4: quan niệm "dại - khôn" của tác giả có điểm đặc biệt là:
Cách nói ngược ( nghịch lý) : thông thường, người ta cho rằng đến chỗ " lao xao" ( nơi phồn hoa, quyền quý) để cầu danh lợi là "khôn" còn tìm nơi " vắng vẻ" ( nói Tĩnh lặng,ẩn dật) là " dại"
Bản chất: với Nguyễn bỉnh Khiêm, cái "dại" của ông thực chất là cái khôn ngoan đại trí. Ông chủ động tìm về nơi vắng vẻ để giữ gìn nhân cách trong sạch, tránh xa vòng danh lợi tầm thường. Ngược lại, cái " khôn"của người đời thực chất là cái "dại" vì họ đang tự lao mình vào vòng ganh đua, bụi bặm của Trần thế .
Câu 5:
Qua văn bản trên, ta thấy hiện lên một Nguyễn bỉnh Khiêm với nhân cách cao cả và tâm hồn thanh cao ông là người yêu thiên nhiên tha thiết, không tìm thấy niềm vui trong cuộc sống đạm bạc, giản dị chốn thôn quê. Đặc biệt,vẻ đẹp nhân cách của ông còn tỏa sáng ở bản lĩnh kiên cường, giám từ bỏ vinh hoa phú quý để giữ vững Thiên Tính thuần hậu. Quan niệm sống nhàn của ông không phải là lười biếng mà là sự minh triết, là thái độ sống ung dung, tự tại, giữ cho tâm hồn luôn sạch trong giữa một xã hội đầy rẫy những toan tính,bon chen