Lê Duy Anh
Giới thiệu về bản thân
chữ đẹp v
❔
:)))))))
Dạ thưa ban giám khảo, trong một thế giới đầy biến động, em tin rằng tiếng nói của hoa hậu không nằm ở quyền lực chính trị, mà ở khả năng chạm đến trái tim con người. Khi các quốc gia đối đầu vì lợi ích, thì sự chân thành, sự thấu cảm và tinh thần trách nhiệm lại chính là “ngôn ngữ chung” mà sắc đẹp có thể mang đến. Em cho rằng một hoa hậu có thể trở thành cầu nối hòa giải bằng cách dùng hình ảnh của mình để nhắc mọi người nhớ rằng đằng sau những quyết định lớn lao là những con người nhỏ bé, đang mong muốn được sống trong hòa bình và tôn trọng lẫn nhau.
Để không bị lợi dụng như một công cụ tuyên truyền, người đẹp cần xây dựng bản lĩnh rõ ràng: nói những điều đúng, dựa trên giá trị nhân văn và luật pháp quốc tế, không đứng về bất kỳ phe phái nào, mà chỉ đứng về phía người dân và sự thật. Hoa hậu không cần phát biểu những vấn đề vượt quá vai trò của mình, nhưng hoàn toàn có thể lan tỏa thông điệp về đối thoại, về sự khoan dung, và khích lệ các bên tìm đến giải pháp hòa bình thay vì cực đoan.
Em đề xuất rằng hoa hậu có thể tham gia những chương trình giáo dục cộng đồng, các diễn đàn văn hóa – nơi tiếng nói mềm mại nhưng mạnh mẽ có thể tạo không gian an toàn để mọi người lắng nghe nhau. Khi giữ được sự trung lập, tôn trọng luật pháp quốc tế và đặt phẩm giá con người lên trước hết, hoa hậu sẽ không chỉ là biểu tượng sắc đẹp, mà còn là biểu tượng của niềm tin, của hy vọng và của hòa bình.
Nguyễn Khuyến là nhà thơ lớn của văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX, nổi bật với hồn thơ trong sáng, sâu sắc và đặc biệt giàu chất trào phúng. Bên cạnh những vần thơ viết về thiên nhiên, làng quê, nhà thơ còn để lại nhiều tác phẩm thể hiện nỗi đau và sự bất mãn trước thời cuộc rối ren dưới bộ máy cai trị nửa thực dân nửa phong kiến. “Ông phỗng đá” là một bài thơ tiêu biểu, vừa sắc sảo trào phúng, vừa đau xót cho nhân cách con người trong xã hội suy đồi lúc bấy giờ.
1. Hoàn cảnh và hình tượng trung tâm
“Ông phỗng đá” vốn là pho tượng đặt trước cửa đình làng, tượng trưng cho sự trang nghiêm, trung trực; đồng thời cũng là nơi “chưng diện” uy nghiêm của làng xã thời phong kiến. Tuy nhiên, qua cái nhìn của Nguyễn Khuyến, pho tượng ấy trở thành nhân vật trữ tình đặc biệt: một “ông phỗng” bị người đời làm nhục, làm trò cười và trở thành chứng nhân bất lực của sự suy đồi đạo đức xã hội.
Chính hình tượng này giúp Nguyễn Khuyến mượn vật để nói người, để phơi bày những nghịch cảnh của thời đại.
2. Nỗi khổ của “ông phỗng” – lời tố cáo xã hội đương thời
Bài thơ mở đầu bằng hình ảnh ông phỗng đáng thương:
- “Trơ trọi lại còn mang tiếng cười
Làm ông phỗng đá cũng oan đời”
Hình tượng “trơ trọi”, “oan đời” cho thấy ông phỗng vốn là vật vô tri, nhưng lại gánh trên mình nỗi oan khuất của người đời. Ông bị biến thành trò cười, trở thành nơi trút bỏ sự hỗn tạp, tục tĩu của những kẻ vô học, vô lương tâm.
Qua đó, nhà thơ gián tiếp chê trách những kẻ hãnh tiến, quyền lực nhỏ nhen nhưng thích khoe mẽ, vô đạo đức. Tượng đá chịu sự sỉ nhục mà vẫn đứng im, cũng giống như bao người dân lương thiện bất lực trước thời cuộc đen tối.
3. Nghệ thuật trào phúng – tiếng cười mà đắng ngắt
Nguyễn Khuyến nổi tiếng với giọng thơ trào phúng kín đáo. Trong “Ông phỗng đá”, tiếng cười ấy mang ba tầng ý nghĩa:
– Cười kẻ ngu tối, hỗn láo
Những kẻ vô học đã biến nơi linh thiêng thành chỗ “gieo trò”, “khoả thân”, “xả rác” (những hình ảnh thường được diễn giải khi phân tích bài thơ). Chúng làm bẩn chỗ thiêng và làm nhục luôn cả biểu tượng văn hoá.
– Cười xã hội suy đồi
Nguyễn Khuyến phê phán thói đời đảo lộn: kẻ xấu lộng hành; kẻ ngay thẳng bị xem thường. Ông phỗng đá – biểu tượng của sự chính trực – bị chế giễu chính là hình ảnh ẩn dụ cho bậc quân tử bị chà đạp.
– Cười trong nỗi đau của chính nhà thơ
Đằng sau tiếng cười là nỗi xót xa: thời thế đổi thay, đạo lý bị chà đạp, nhân cách bị méo mó. Nguyễn Khuyến, một bậc nho sĩ chân chính, bất lực trước cảnh đời trớ trêu nên chỉ có thể gửi vào thơ tiếng cười cay đắng.
4. Giá trị hiện thực và nhân đạo
“Ông phỗng đá” vừa có giá trị hiện thực sâu sắc khi phơi bày xã hội suy đồi cuối thế kỉ XIX, vừa mang giá trị nhân đạo khi xót thương cho những phẩm chất chân chính bị chà đạp.
Hình tượng ông phỗng cũng là lời tự bạch của chính tác giả – người giữ gìn cốt cách, sống trong sạch nhưng không thể hòa mình với thời thế. Vì vậy, bài thơ không chỉ mang ý nghĩa phê phán mà còn là tiếng khóc thầm cho một thời đoạn đen tối của lịch sử.
5. Nghệ thuật đặc sắc
- Giọng điệu trào phúng sắc sảo, kín đáo, cười mà sâu cay.
- Nghệ thuật nhân hoá làm pho tượng như có linh hồn, có cảm xúc.
- Từ ngữ dân dã, hình ảnh gần gũi nhưng giàu sức tố cáo.
- Lối nói mỉa mai, giễu nhại – nét nổi bật của thơ trào phúng Nguyễn Khuyến.
Nguyễn Khuyến là nhà thơ lớn của văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX, nổi bật với hồn thơ trong sáng, sâu sắc và đặc biệt giàu chất trào phúng. Bên cạnh những vần thơ viết về thiên nhiên, làng quê, nhà thơ còn để lại nhiều tác phẩm thể hiện nỗi đau và sự bất mãn trước thời cuộc rối ren dưới bộ máy cai trị nửa thực dân nửa phong kiến. “Ông phỗng đá” là một bài thơ tiêu biểu, vừa sắc sảo trào phúng, vừa đau xót cho nhân cách con người trong xã hội suy đồi lúc bấy giờ.
1. Hoàn cảnh và hình tượng trung tâm
“Ông phỗng đá” vốn là pho tượng đặt trước cửa đình làng, tượng trưng cho sự trang nghiêm, trung trực; đồng thời cũng là nơi “chưng diện” uy nghiêm của làng xã thời phong kiến. Tuy nhiên, qua cái nhìn của Nguyễn Khuyến, pho tượng ấy trở thành nhân vật trữ tình đặc biệt: một “ông phỗng” bị người đời làm nhục, làm trò cười và trở thành chứng nhân bất lực của sự suy đồi đạo đức xã hội.
Chính hình tượng này giúp Nguyễn Khuyến mượn vật để nói người, để phơi bày những nghịch cảnh của thời đại.
2. Nỗi khổ của “ông phỗng” – lời tố cáo xã hội đương thời
Bài thơ mở đầu bằng hình ảnh ông phỗng đáng thương:
- “Trơ trọi lại còn mang tiếng cười
Làm ông phỗng đá cũng oan đời”
Hình tượng “trơ trọi”, “oan đời” cho thấy ông phỗng vốn là vật vô tri, nhưng lại gánh trên mình nỗi oan khuất của người đời. Ông bị biến thành trò cười, trở thành nơi trút bỏ sự hỗn tạp, tục tĩu của những kẻ vô học, vô lương tâm.
Qua đó, nhà thơ gián tiếp chê trách những kẻ hãnh tiến, quyền lực nhỏ nhen nhưng thích khoe mẽ, vô đạo đức. Tượng đá chịu sự sỉ nhục mà vẫn đứng im, cũng giống như bao người dân lương thiện bất lực trước thời cuộc đen tối.
3. Nghệ thuật trào phúng – tiếng cười mà đắng ngắt
Nguyễn Khuyến nổi tiếng với giọng thơ trào phúng kín đáo. Trong “Ông phỗng đá”, tiếng cười ấy mang ba tầng ý nghĩa:
– Cười kẻ ngu tối, hỗn láo
Những kẻ vô học đã biến nơi linh thiêng thành chỗ “gieo trò”, “khoả thân”, “xả rác” (những hình ảnh thường được diễn giải khi phân tích bài thơ). Chúng làm bẩn chỗ thiêng và làm nhục luôn cả biểu tượng văn hoá.
– Cười xã hội suy đồi
Nguyễn Khuyến phê phán thói đời đảo lộn: kẻ xấu lộng hành; kẻ ngay thẳng bị xem thường. Ông phỗng đá – biểu tượng của sự chính trực – bị chế giễu chính là hình ảnh ẩn dụ cho bậc quân tử bị chà đạp.
– Cười trong nỗi đau của chính nhà thơ
Đằng sau tiếng cười là nỗi xót xa: thời thế đổi thay, đạo lý bị chà đạp, nhân cách bị méo mó. Nguyễn Khuyến, một bậc nho sĩ chân chính, bất lực trước cảnh đời trớ trêu nên chỉ có thể gửi vào thơ tiếng cười cay đắng.
4. Giá trị hiện thực và nhân đạo
“Ông phỗng đá” vừa có giá trị hiện thực sâu sắc khi phơi bày xã hội suy đồi cuối thế kỉ XIX, vừa mang giá trị nhân đạo khi xót thương cho những phẩm chất chân chính bị chà đạp.
Hình tượng ông phỗng cũng là lời tự bạch của chính tác giả – người giữ gìn cốt cách, sống trong sạch nhưng không thể hòa mình với thời thế. Vì vậy, bài thơ không chỉ mang ý nghĩa phê phán mà còn là tiếng khóc thầm cho một thời đoạn đen tối của lịch sử.
5. Nghệ thuật đặc sắc
- Giọng điệu trào phúng sắc sảo, kín đáo, cười mà sâu cay.
- Nghệ thuật nhân hoá làm pho tượng như có linh hồn, có cảm xúc.
- Từ ngữ dân dã, hình ảnh gần gũi nhưng giàu sức tố cáo.
- Lối nói mỉa mai, giễu nhại – nét nổi bật của thơ trào phúng Nguyễn Khuyến.
Kết luận
“Ông phỗng đá” là bài thơ đặc sắc của Nguyễn Khuyến, thể hiện rõ phong cách trào phúng độc đáo của ông. Bằng việc mượn hình tượng pho tượng đá, nhà thơ đã phơi bày sự suy đồi của xã hội đương thời và bộc lộ tâm trạng ngậm ngùi của một người trí thức yêu nước nhưng bất lực trước thời cuộc. Tác phẩm vừa mang giá trị phê phán mạnh mẽ, vừa chan chứa nỗi đau nhân đạo, góp phần làm nên vẻ đẹp tư tưởng của thơ Nguyễn Khuyến.
mk ko
Nguyễn Khuyến là nhà thơ lớn của văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX, nổi bật với hồn thơ trong sáng, sâu sắc và đặc biệt giàu chất trào phúng. Bên cạnh những vần thơ viết về thiên nhiên, làng quê, nhà thơ còn để lại nhiều tác phẩm thể hiện nỗi đau và sự bất mãn trước thời cuộc rối ren dưới bộ máy cai trị nửa thực dân nửa phong kiến. “Ông phỗng đá” là một bài thơ tiêu biểu, vừa sắc sảo trào phúng, vừa đau xót cho nhân cách con người trong xã hội suy đồi lúc bấy giờ.
1. Hoàn cảnh và hình tượng trung tâm
“Ông phỗng đá” vốn là pho tượng đặt trước cửa đình làng, tượng trưng cho sự trang nghiêm, trung trực; đồng thời cũng là nơi “chưng diện” uy nghiêm của làng xã thời phong kiến. Tuy nhiên, qua cái nhìn của Nguyễn Khuyến, pho tượng ấy trở thành nhân vật trữ tình đặc biệt: một “ông phỗng” bị người đời làm nhục, làm trò cười và trở thành chứng nhân bất lực của sự suy đồi đạo đức xã hội.
Chính hình tượng này giúp Nguyễn Khuyến mượn vật để nói người, để phơi bày những nghịch cảnh của thời đại.
2. Nỗi khổ của “ông phỗng” – lời tố cáo xã hội đương thời
Bài thơ mở đầu bằng hình ảnh ông phỗng đáng thương:
- “Trơ trọi lại còn mang tiếng cười
Làm ông phỗng đá cũng oan đời”
Hình tượng “trơ trọi”, “oan đời” cho thấy ông phỗng vốn là vật vô tri, nhưng lại gánh trên mình nỗi oan khuất của người đời. Ông bị biến thành trò cười, trở thành nơi trút bỏ sự hỗn tạp, tục tĩu của những kẻ vô học, vô lương tâm.
Qua đó, nhà thơ gián tiếp chê trách những kẻ hãnh tiến, quyền lực nhỏ nhen nhưng thích khoe mẽ, vô đạo đức. Tượng đá chịu sự sỉ nhục mà vẫn đứng im, cũng giống như bao người dân lương thiện bất lực trước thời cuộc đen tối.
3. Nghệ thuật trào phúng – tiếng cười mà đắng ngắt
Nguyễn Khuyến nổi tiếng với giọng thơ trào phúng kín đáo. Trong “Ông phỗng đá”, tiếng cười ấy mang ba tầng ý nghĩa:
– Cười kẻ ngu tối, hỗn láo
Những kẻ vô học đã biến nơi linh thiêng thành chỗ “gieo trò”, “khoả thân”, “xả rác” (những hình ảnh thường được diễn giải khi phân tích bài thơ). Chúng làm bẩn chỗ thiêng và làm nhục luôn cả biểu tượng văn hoá.
– Cười xã hội suy đồi
Nguyễn Khuyến phê phán thói đời đảo lộn: kẻ xấu lộng hành; kẻ ngay thẳng bị xem thường. Ông phỗng đá – biểu tượng của sự chính trực – bị chế giễu chính là hình ảnh ẩn dụ cho bậc quân tử bị chà đạp.
– Cười trong nỗi đau của chính nhà thơ
Đằng sau tiếng cười là nỗi xót xa: thời thế đổi thay, đạo lý bị chà đạp, nhân cách bị méo mó. Nguyễn Khuyến, một bậc nho sĩ chân chính, bất lực trước cảnh đời trớ trêu nên chỉ có thể gửi vào thơ tiếng cười cay đắng.
4. Giá trị hiện thực và nhân đạo
“Ông phỗng đá” vừa có giá trị hiện thực sâu sắc khi phơi bày xã hội suy đồi cuối thế kỉ XIX, vừa mang giá trị nhân đạo khi xót thương cho những phẩm chất chân chính bị chà đạp.
Hình tượng ông phỗng cũng là lời tự bạch của chính tác giả – người giữ gìn cốt cách, sống trong sạch nhưng không thể hòa mình với thời thế. Vì vậy, bài thơ không chỉ mang ý nghĩa phê phán mà còn là tiếng khóc thầm cho một thời đoạn đen tối của lịch sử.
5. Nghệ thuật đặc sắc
- Giọng điệu trào phúng sắc sảo, kín đáo, cười mà sâu cay.
- Nghệ thuật nhân hoá làm pho tượng như có linh hồn, có cảm xúc.
- Từ ngữ dân dã, hình ảnh gần gũi nhưng giàu sức tố cáo.
- Lối nói mỉa mai, giễu nhại – nét nổi bật của thơ trào phúng Nguyễn Khuyến.
Kết luận
“Ông phỗng đá” là bài thơ đặc sắc của Nguyễn Khuyến, thể hiện rõ phong cách trào phúng độc đáo của ông. Bằng việc mượn hình tượng pho tượng đá, nhà thơ đã phơi bày sự suy đồi của xã hội đương thời và bộc lộ tâm trạng ngậm ngùi của một người trí thức yêu nước nhưng bất lực trước thời cuộc. Tác phẩm vừa mang giá trị phê phán mạnh mẽ, vừa chan chứa nỗi đau nhân đạo, góp phần làm nên vẻ đẹp tư tưởng của thơ Nguyễn Khuyến.
- Viết lại phương trình: x+7=-5+(-3)x plus 7 equals negative 5 plus open paren negative 3 close paren𝑥+7=−5+(−3)
- Tính tổng ở vế phải: x+7=-8x plus 7 equals negative 8𝑥+7=−8
- Chuyển 7 sang vế phải (đổi dấu): x=-8−7x equals negative 8 minus 7𝑥=−8−7
- Tính kết quả: x=-15x equals negative 15𝑥=−15
- Lãi kép (Tài chính): Gửi tiết kiệm Pcap P𝑃 đồng, lãi r%r %𝑟% / kỳ. Số tiền sau nn𝑛 kỳ là P(1+r)ncap P open paren 1 plus r close paren to the n-th power𝑃(1+𝑟)𝑛.
- Tăng trưởng dân số/Tế bào: Dân số/tế bào tăng q%q %𝑞% mỗi năm/giờ. Số lượng sau nn𝑛 kỳ.
- Phân rã phóng xạ: Chất phóng xạ giảm q%q %𝑞% mỗi giờ. Lượng còn lại sau nn𝑛 giờ.
- Giao động (Dao động tắt dần): Biên độ giảm theo cấp số nhân.
- Giải: u1=100(1+0.06)1u sub 1 equals 100 open paren 1 plus 0.06 close paren to the first power𝑢1=100(1+0.06)1, u5=100(1.06)5u sub 5 equals 100 open paren 1.06 close paren to the fifth power𝑢5=100(1.06)5. Tính giá trị.
- Giải: u0=100u sub 0 equals 100𝑢0=100, u7=100×(1.2)7u sub 7 equals 100 cross open paren 1.2 close paren to the seventh power𝑢7=100×(1.2)7.
- Giải: u0=200u sub 0 equals 200𝑢0=200, u4=200×(0.9)4u sub 4 equals 200 cross open paren 0.9 close paren to the fourth power𝑢4=200×(0.9)4.
- Giải: Đây là cấp số nhân với u1=5u sub 1 equals 5𝑢1=5, q=1.1q equals 1.1𝑞=1.1. Cần tính S12=u1q12−1q−1cap S sub 12 equals u sub 1 the fraction with numerator q to the 12th power minus 1 and denominator q minus 1 end-fraction𝑆12=𝑢1𝑞12−1𝑞−1.
- Giải: u1=3,q=2u sub 1 equals 3 comma q equals 2𝑢1=3,𝑞=2. u10=3×29u sub 10 equals 3 cross 2 to the nineth power𝑢10=3×29. S10=3210−12−1cap S sub 10 equals 3 the fraction with numerator 2 to the tenth power minus 1 and denominator 2 minus 1 end-fraction𝑆10=3210−12−1.TÍCH CHO TUI