Ngô Thanh Hằng
Giới thiệu về bản thân
câu 1
Bài thơ “Ảnh Bác” của Trần Đăng Khoa là một tác phẩm giản dị mà sâu sắc, thể hiện tình cảm kính yêu chân thành của em bé đối với Bác Hồ. Hình ảnh Bác hiện lên qua bức ảnh treo trên tường – hiền từ, ấm áp – trở thành nguồn động viên lớn lao cho cậu bé trong học tập và trong cuộc sống. Bác không chỉ là vị lãnh tụ vĩ đại mà còn như một người ông gần gũi, luôn dõi theo, nhắc nhở và khích lệ mỗi khi em thấy mệt hay chán nản. Ngôn ngữ thơ mộc mạc, trong trẻo đúng với tâm hồn trẻ thơ, nhưng vẫn chứa đựng tình cảm thiêng liêng đối với Bác. Qua bài thơ, người đọc cảm nhận được lòng biết ơn, sự kính trọng và tấm lòng trong sáng của thiếu nhi Việt Nam dành cho Bác Hồ kính yêu. Bài thơ vì thế vừa cảm động vừa giàu ý nghĩa giáo dục.
câu 2
Trong rất nhiều kỉ niệm đẹp với bạn bè, chuyến đi dã ngoại ở công viên sinh thái vào cuối năm lớp 4 là điều khiến em nhớ mãi không quên. Hôm ấy, trời trong xanh và có gió nhẹ, ai cũng háo hức. Khi vừa đến nơi, cả lớp nhanh chóng dựng trại, chia nhóm chuẩn bị đồ ăn. Em được phân vào nhóm nấu nướng cùng hai bạn thân là Lan và Minh. Lúng túng mãi bọn em mới nhóm được bếp lửa, vậy mà cuối cùng vẫn bị khói làm cay mắt đến chảy nước mắt, khiến cả nhóm cười vang.
Sau bữa trưa, cô giáo tổ chức trò chơi tập thể. Em nhớ nhất trò “tìm mật thư trong rừng”. Nhóm em chạy khắp nơi, leo lên cả những tảng đá đầy rêu để tìm manh mối. Khi tìm thấy mảnh giấy cuối cùng, cả nhóm ôm nhau reo lên sung sướng. Dù chân tay lấm lem bùn đất, ai cũng rạng rỡ vì đã cùng nhau vượt qua thử thách.
Chuyến dã ngoại không chỉ giúp em hiểu thêm về thiên nhiên mà còn gắn kết tình bạn giữa chúng em. Đến bây giờ, mỗi khi nhớ lại, em vẫn cảm thấy vui và trân trọng kỉ niệm đáng nhớ ấy.
gre


Câu 1.
Văn bản "Chơi Phú Quốc" thuộc kiểu văn bản du kí.
Câu 2.
Khi đặt chân đến bãi biển Hàm Ninh, hình ảnh gây ấn tượng mạnh mẽ với tác giả về sự trong lành của nước biển là "nước trong như nước lọc, thấy tận đáy, những con chang chang sứa biển ngo ngoe đang bò, chúng nó sinh hoạt trong cái thế giới thuỷ tinh.".
Câu 3.
− Văn bản "Chơi Phú Quốc" sử dụng ngôi kể thứ nhất số nhiều, người kể chuyện xưng "chúng tôi".
− Tác dụng của việc sử dụng ngôi kể thứ nhất:
+ Giúp người đọc cảm nhận được câu chuyện một cách chân thực, gần gũi như đang cùng tác giả trải nghiệm.
+ Thể hiện trực tiếp cảm xúc, suy nghĩ của nhóm người trải nghiệm, làm cho bài viết trở nên sinh động và có hồn hơn.
Câu 4.
− Những hoạt động của người dân Phú Quốc được nhắc đến trong văn bản:
+ Đánh cá.
+ Phơi lưới.
+ Đi "thẻ" mực vào ban đêm.
+ Vá lưới, chuốt mây vào buổi tối.
+ Hái trái sim.
− Cuộc sống của những người dân Phú Quốc:
+ Cuộc sống của người dân Phú Quốc gắn liền với biển cả và thiên nhiên, họ làm việc chăm chỉ, cần cù từ sáng đến đêm khuya cả những công việc nặng nhọc lẫn nhẹ nhàng.
+ Người dân vẫn tìm thấy niềm vui, sự sung sướng, ung dung, an vui trong công việc và cuộc sống của mình.
Câu 5.
Qua văn bản “Chơi Phú Quốc”, em nhận ra rằng việc trải nghiệm và khám phá những vùng đất mới giúp mở rộng hiểu biết về thiên nhiên, văn hóa và con người ở mỗi nơi. Những chuyến đi mang lại cảm giác hứng khởi, khơi dậy sự tò mò và tình yêu quê hương đất nước. Khi trực tiếp quan sát và hòa mình vào cảnh sắc, em học được cách trân trọng vẻ đẹp tự nhiên và giữ gìn môi trường. Trải nghiệm mới cũng giúp em trưởng thành hơn, biết lắng nghe, quan sát và cảm nhận cuộc sống bằng nhiều góc nhìn. Nhờ đó, mỗi hành trình trở thành cơ hội để học hỏi và làm giàu thêm tâm hồn.
Câu 1: Bài thơ “Mùa về” của Phạm Xuân Am đã để lại trong em nhiều cảm xúc sâu sắc về vẻ đẹp lao động và tình quê hương. Những hình ảnh chân thực như “sàng rơm, sảy thóc”, “liềm hái ra đồng”, “giòn tan cối vỗ” gợi lên khung cảnh nhộn nhịp, rộn ràng của ngày mùa nơi làng quê. Em cảm nhận được sự vất vả, nhọc nhằn nhưng đầy niềm vui của người nông dân khi gặt hái thành quả sau bao ngày chăm sóc ruộng đồng. Đặc biệt, hai câu thơ “Hai tay dưỡng đất, nuôi trời / Đôi vai gánh cả mảnh trời bão giông” khiến em xúc động bởi sự hy sinh thầm lặng và sức mạnh phi thường của người nông dân. Bài thơ không chỉ là lời ca ngợi lao động mà còn là bản hòa ca của tình yêu quê hương, của niềm tin vào cuộc sống. Em thấy thêm yêu những người nông dân, yêu quê hương và trân trọng giá trị của lao động chân chính.
Câu 2:
Tết Tết Tết Tết đến rồi
Tết Tết Tết Tết đến rồi
Tết Tết Tết Tết đến rồi
Tết đến trong tim mọi người.
Vậy là một năm mới nữa lại đến. Xuân về vén bức màn âm u của mùa đông để đất trời trở nên ấm áp và lòng người không khỏi háo hức, hân hoan. Bởi vì ai cũng mong muốn một năm mới thật nhiều niềm vui và hạnh phúc, nhưng hơn hết là được cùng gia đình chuẩn bị đón một mùccuân sang. Tết đến, gia đình nào cũng sắm sửa , tất bật dọn nhà. Không khí xung quanh thật chộn rộn và náo nức. Bố mẹ ngồi xuống sửa soạn các phông bao lì xì, em thì cùng bà nội soạn mâm bánh mứt. Nào kẹo, nào bánh, rồi thạch, mứt, hạt dưa… Món nào cũng ngon và hấp dẫn. Khi đem đặt lên bàn, cạnh ấm nước chè, bình đào dăm đã nở rộ có quấn sợi dây đèn nhấp nháy, thì trông đẹp vô cùng. Ngẫm cũng lạ, năm nào cái bàn trà này cũng bày biện y như nhau, vậy mà em vẫn hào hứng, mong mọi người cùng xem chương trình âm nhạc chào Tết. Những ca khúc quen thuộc nghe từ năm này sang năm khác, ai cũng thuộc lời. Thế nhưng nếu thiếu nó thì chẳng còn gì là Tết nữa cả. Em buồn ngủ díp cả mắt nhưng vẫn cố thức để chờ đợi một điều gì đó. Bố mẹ, ông bà cũng vậy. Tivi đang mở, nhưng không ai quan tâm đến nó, lòng cứ thổn thức ngó lên cái đồng hồ. Trên tivi lẫn ngoài trời, pháo hoa nở rực rỡ. Từng đợt pháo nổ ầm trời, tỏa ra ánh sáng rực rỡ khiến ai ai cũng say mê ngắm nhìn. Em đứng giữa bố và mẹ, háo hức ngắm pháo hoa. Lúc nhìn bên phải, lúc nhìn bên trái, mãi chẳng hề thấy chán. Khi pháo hoa dần tan, mọi người sẽ lùi lại trong nhà. Em chúc Tết ông bà, bố mẹ bằng những bài thơ đã học thuộc từ trước, sau đó được nhận những bao lì xì đỏ thắm. Cứ thế, mọi người lần lượt chúc tụng nhau những lời tốt đẹp nhất. Tuy ngày Tết không dài nhưng em rất thích ngày đó.
Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản là miêu tả kết hợp biểu cảm
Câu 2.
Ba hoạt động lao động của người nông dân trong ngày mùa được nhắc đến trong văn bản
Nện cối, sàng rơm, sảy thóc
Gặt lúa
Gánh lúa, phơi thóc
Câu 3.
Những dòng thơ "Hai tay dưỡng đất, nuôi trời / Đôi vai gánh cả mảng trời bão giông" cảm nhận rằng là người nông dân chính là những con người cần cù, vững vàng, giàu nghị lực. Họ luôn âm thầm làm việc, gánh vác những nhọc nhằn, khó khăn để làm nên mùa vàng. Tầm vóc của họ được nâng lên lớn lao, mang ý nghĩa biểu tượng cho sức mạnh và sự bền bỉ
Câu 4.
Biện pháp tu từ: Điệp ngữ (thêm)
Tác dụng: Nhấn mạnh sự dồi dào, tăng lên của thành quả lao động (vàng hạt lúa) và niềm vui, sự no đủ, giấc ngủ bình yên của người nông dân. Đồng thời tạo nhịp điệu nhẹ nhàng, giàu cảm xúc cho câu thơ
Câu 5.
Từ tinh thần “Nhọc nhằn không mỏi, mỏi mong mùa về”, em rút ra bài học rằng mỗi thành quả đều đến từ sự cố gắng bền bỉ. Dù công việc có vất vả hay gặp khó khăn, em cần kiên trì, không nản chí. Chỉ khi nỗ lực hết mình, em mới có thể “thu hoạch” được những “mùa vàng” của riêng mình trong học tập và cuộc sống. Em cũng hiểu thêm giá trị của lao động và trân trọng những gì mình đang có.
Bốn biện pháp tiết kiệm năng lượng trong gia đìn
Tắt tất cả thiết bị điện khi không sử dụng
Tận dụng ánh nắng tự nhiên
Dùng các thiết bị tiết kiệm điện
a. Nhà của cô T thuộc kiến trúc nhà chung cư.
b. Các vật liệu xây dựng tương ứng với từng thành phần cấu tạo của kiến trúc nhà chung cư:
+ Tường: Thường được xây bằng bê tông hoặc gạch.
+ Mái: Thường làm bằng bê tông cốt thép.
+ Cửa sổ và cửa ra vào: Thường làm bằng nhôm kính hoặc gỗ.
+ Sàn nhà: Thường lát gạch men hoặc gỗ công nghiệp.
Trong cuộc sống, ai cũng có những trải nghiệm buồn, nhưng đôi khi chính những nỗi buồn ấy lại giúp ta trưởng thành hơn. Với em, kỷ niệm buồn nhất nhưng cũng đầy ý nghĩa là lần em làm mất con mèo nhỏ mà em rất yêu quý.
Con mèo ấy tên là Miu, em nuôi nó từ khi còn bé xíu. Miu rất ngoan và thân thiết với em, ngày nào đi học về em cũng chạy ra sân gọi “Miu ơi!”, nó lại chạy lon ton ra, cọ đầu vào chân em kêu “meo meo” như chào đón. Em coi Miu như người bạn thân, chia sẻ với nó mọi niềm vui, nỗi buồn. Thế nhưng, một ngày nọ, trong lúc mải chơi, em quên đóng cổng. Khi trở ra thì Miu đã biến mất. Em đi tìm khắp nơi, gọi khản cả giọng mà không thấy. Cảm giác trống trải và hối hận tràn ngập trong lòng em suốt nhiều ngày liền.
Sau đó, mẹ nhẹ nhàng bảo em: “Mất mát nào cũng để lại bài học, quan trọng là con rút ra điều gì từ nó.” Câu nói ấy khiến em suy nghĩ rất nhiều. Từ đó, em học được rằng tình yêu thương phải đi đôi với trách nhiệm. Khi yêu quý ai hay điều gì, mình phải biết chăm sóc, bảo vệ, không được lơ là hay xem nhẹ.
Giờ đây, mỗi khi nhớ đến Miu, em vẫn thấy lòng chùng xuống. Nhưng nỗi buồn ấy đã giúp em trưởng thành hơn, biết trân trọng những gì mình có và sống có trách nhiệm hơn với người và vật xung quanh.
Câu 1: Văn bản trên thuộc thể loại truyện đồng thoại
Câu 2 : Theo văn bản, những hạt dẻ gai lớn lên trong hoàn cảnh được mẹ che chở, bao bọc và sau đó phải dũng cảm, tự mình sống tự lập
Câu 3:Lồng lộng: diễn tả không gian rộng lớn, bao la, không có giới hạn, thường là tả về gió.
Ào ạt: diễn tả sự dồn dập, mạnh mẽ, liên tục của một sự vật, hiện tượng nào đó , thường là tả về sóng.
Câu 4: Nhân vật tôi thể hiện đặc điểm là có suy nghĩ, hành động như con người .
Câu 5:Em đã rút ra được bài học là : Bài học rút ra từ văn bản là phải biết yêu thương, trân trọng gia đình, đặc biệt là tình mẹ con. Đồng thời, chúng ta cần phải mạnh mẽ, dũng cảm đối mặt với thử thách, biết tự lập và trưởng thành.
Trong những năm học Tiểu học, em đã tham gia nhiều hoạt động ý nghĩa, nhưng trải nghiệm khiến em nhớ mãi chính là buổi từ thiện do trường em tổ chức vào năm em học lớp 4.
Hôm ấy, ngay từ sáng sớm, sân trường đã trở nên náo nhiệt khác thường. Trên sân khấu, các thầy cô và các lớp đang chuẩn bị bàn ghế, hộp quyên góp và những thùng quà lớn. Cô giáo chủ nhiệm dặn chúng em mang đến đồ dùng học tập,món đồ không cần thiết mà mình không còn dùng nhưng vẫn còn tốt để tặng cho các bạn nhỏ ở vùng cao. Em mang theo một chiếc cặp, cùng vài quyển truyện tranh mà em đã đọc xong.
Khi chương trình bắt đầu, cô hiệu trưởng phát biểu về ý nghĩa của buổi từ thiện, rồi từng lớp lần lượt lên trao quà. Em cùng các bạn bước lên sân khấu, đặt chiếc cặp và những cuốn truyện vào thùng quà chung. Dù đó chỉ món quà nhỏ, nhưng em cảm thấy trong lòng thật là vui và ấm áp. Sau đó, cô phụ trách nói về những bạn nhỏ ở vùng núi xa xôi — nơi các bạn phải đi bộ hàng cây số đến trường, không đủ sách vở và áo ấm.
Buổi từ thiện hôm ấy đã để lại trong em một bài học quý giá. Em nhận ra rằng chia sẻ và giúp đỡ người khác chính là cách để mang niềm vui đến cho mọi người, đồng thời làm cho cuộc sống thêm ý nghĩa. Từ đó, em luôn cố gắng sống nhân ái, biết quan tâm và giúp đỡ những người xung quanh.
Đó thực sự là một kỷ niệm đáng nhớ và ấm áp trong những năm tháng Tiểu học của em.