Nguyễn Tuệ An

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Tuệ An
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1:

Bài thơ "Mùa về" của tác giả Phạm Xuân Am đã chạm đến trái tim người đọc bởi những hình ảnh chân thực, mộc mạc và giàu sức gợi cảm về cuộc sống lao động nơi quê nhà. Cảm xúc chủ đạo của em khi đọc bài thơ là sự thấu hiểu và lòng biết ơn sâu sắc đối với những người nông dân. Mở đầu bài thơ, khung cảnh ngày mùa nhộn nhịp, hối hả hiện lên sống động qua các hoạt động "nện cối", "sàng rơm", "sảy thóc". Tác giả không chỉ tả công việc mà còn lồng ghép niềm vui, niềm hy vọng về một vụ mùa bội thu ("Thêm vàng hạt lúa, thêm xanh giấc nồng"). Những vất vả, lo toan thường nhật của người nông dân được miêu tả rất chân thực: từ việc "tinh mơ liềm hái ra đồng" đến cảnh "sân trôi thóc nổi, áo đầm mồ hôi" khi gặp mưa rào bất chợt. Hình ảnh hoán dụ "Hai tay dưỡng đất, nuôi trời", "Đôi vai gánh cả mảnh trời bão giông" là lời ngợi ca đầy xúc động về sự hy sinh thầm lặng, về sức mạnh và nghị lực phi thường của họ. Qua từng câu chữ, em cảm nhận rõ mồ hôi, công sức và cả niềm mong mỏi giản dị của người dân quê: cốt sao "Cót đầy, thóc đủ, yên lòng". Bài thơ khép lại bằng một cảm xúc lắng đọng: dẫu nhọc nhằn, vất vả nhưng tất cả đều tan biến khi mùa màng bội thu, và họ lại tiếp tục "mỏi mong mùa về". Bài thơ không chỉ là một bức tranh quê mà còn là một thông điệp ý nghĩa về giá trị của lao động, khiến em thêm yêu và trân trọng hạt gạo mình ăn hàng ngày, và biết ơn những người nông dân đã làm nên sự sống.


Câu 2:

Tuổi thơ của mỗi người thường gắn liền với những ký ức đẹp đẽ về những mùa trăng rằm tháng Tám. Nếu như Trung thu ở phố thị thường rực rỡ bởi những ánh đèn điện, những khu vui chơi hiện đại, thì Trung thu ở quê em lại mang một nét đẹp giản dị, mộc mạc và ấm áp tình làng nghĩa xóm.

Khi những cơn mưa tháng Bảy vơi dần, nhường chỗ cho bầu trời cao và xanh vời vợi, đó cũng là lúc không khí Trung thu bắt đầu rộn ràng khắp các ngõ xóm. Ngay từ đầu tháng, cả làng đã nhộn nhịp chuẩn bị. Những ông cụ, bà cụ ngồi chẻ tre, vót nan làm khung đèn ông sao, đèn kéo quân. Trẻ con chúng em thì háo hức chạy đi xin giấy màu, phụ giúp người lớn dán đèn. Mùi hồ dán thơm nồng, mùi giấy màu phảng phất khắp nơi. Đình làng, nơi tổ chức chính của đêm hội, được dọn dẹp sạch sẽ, treo cờ ngũ sắc và những chiếc đèn lồng to do chính tay người dân trong làng làm. Đêm rằm tháng Tám, khung cảnh quê em lung linh hơn bao giờ hết. Bầu trời như được gột rửa sau những ngày mưa, trăng tròn vành vạnh, sáng vằng vặc soi rõ từng mái nhà, từng con đường làng. Sau bữa cơm tối, mọi người, từ cụ già đến em nhỏ, đều tụ họp về sân đình. Ai nấy đều xúng xính trong những bộ quần áo đẹp nhất. Trên tay chúng em là những chiếc đèn lồng tự làm, lấp lánh ánh nến lung linh. Tiếng trống múa lân "tùng... cheng... cạch..." vang lên rộn rã, náo nức cả một vùng quê. Đội lân của làng, gồm các anh thanh niên khỏe mạnh, mặc trang phục sặc sỡ, múa những đường quyền dũng mãnh, uyển chuyển. Con lân vàng dũng mãnh, cái đầu to, mắt lồi, miệng há to, chạy nhảy khắp sân đình, làm cho đám trẻ reo hò không ngớt. Theo sau là ông Địa bụng phệ, tay cầm quạt mo phe phẩy, gương mặt hiền lành, phúc hậu, chọc cười mọi người. Cả sân đình rộn rã tiếng cười nói, tiếng vỗ tay hòa cùng tiếng trống lân. Phần được mong chờ nhất chính là mâm cỗ Trung thu. Mâm cỗ quê em tuy đơn sơ nhưng đầy ắp tình cảm. Đó là những chiếc bánh nướng, bánh dẻo do các bà, các mẹ tự làm, thơm mùi lá chanh, mùi đậu xanh; là những trái bưởi da xanh căng tròn, những quả hồng chín mọng, và không thể thiếu nải chuối tiêu vàng óng. Sau khi phá cỗ, chúng em xếp thành hàng dài, rước đèn vòng quanh làng. Ánh đèn lồng soi sáng những gương mặt trẻ thơ rạng rỡ, tiếng hát đồng dao vang vọng khắp không gian đêm trăng. Trung thu ở quê em không ồn ào náo nhiệt như phố thị, nhưng lại ấm áp, đậm đà tình người. Đó là khoảnh khắc cả cộng đồng gắn kết bên nhau, cùng chia sẻ niềm vui, cùng giữ gìn nét đẹp văn hóa truyền thống. Những ký ức về đêm Trung thu giản dị, chan chứa tình quê ấy sẽ mãi là miền ký ức đẹp nhất trong tâm hồn mỗi người con xa xứ.


Câu 1.

- PTBĐ chính của văn bản là: Biểu cảm

Câu 2.- Ba hoạt động lao động của người nông dân trong ngày mùa được nhắc đến trong văn bản là:

Nện cối (giã lúa): "Lúa còn nện cối".

Sàng sảy (lúa, thóc): "Sàng rơm, sảy thóc nhanh nhanh".

Ra đồng (gặt lúa): "Tinh mơ liềm hái ra đồng".

Câu 3.

- Những dòng thơ "Hai tay dưỡng đất, nuôi trời / Đôi vai gánh cả mảng trời bão giông" gợi cho em cảm nhận: Người nông dân như 1 người bảo vệ, 1 người nuôi nấng người dân qua từng ngày vất vả. Dù công việc của họ luôn vất vả, khó khăn; dù phải lo lắng nhiều thứ nhưng người nông dân vẫn luôn cố gắng và kiên trì. Từ đó, cho em thấy người nông dân như 1 người anh hùng luôn bảo vệ và mang lại cuộc sống tốt đẹp cho người dân.
Câu 4.

Biện pháp tu từ ẩn dụ được sử dụng trong dòng thơ "Thêm vàng hạt lúa, thêm xanh giấc nồng" là:

+ Cảm giác "vàng" (màu sắc của hạt lúa) được cảm nhận bằng thị giác.

+ Cảm giác "xanh" (màu sắc của giấc ngủ) là một sự chuyển đổi từ thị giác sang cảm giác (sự thư thái, no ấm, bình yên của giấc ngủ).

- Tác dụng:
+ Tăng sức gợi hình, gợi cảm; gây ấn tượng với người đọc; tạo nhịp điệu cho thơ.

+ Nhấn mạnh hình ảnh mùa màng bội thu, sự no ấm, sung túc đã đến với quê hương và cảm giác thư thái, dễ chịu, an lành trong tâm hồn người lao động sau những ngày vất vả.
+ Từ đó, cho thấy niềm vui, niềm hạnh phúc trọn vẹn của người nông dân khi thành quả lao động được đền đáp xứng đáng và phản ánh cuộc sống vật chất và tinh thần đều được cải thiện, mang đến sự bình yên, giấc ngủ ngon cho người dân quê.

Câu 5.

Bài thơ " Mùa về" của tác giả Phạm Xuân Am đã ca ngợi vẻ đẹp của lao động, sự vất vả, gian truân nhưng cũng đầy ắp niềm vui và sự lạc quan của người dân quê trước thành quả bội thu. Tinh thần chủ đạo xuyên suốt tác phẩm là sự kiên cường, bền bỉ và tình yêu mãnh liệt với mảnh đất quê hương, với công việc đồng áng.Từ tinh thần "Nhọc nhằn không mỏi, mỏi mong mùa về" của người nông dân, em rút ra được bài học sâu sắc cho bản thân về ý chí, nghị lực và tinh thần lao động bền bỉ: Tinh thần lạc quan, sự kiên trì, chăm chỉ và tình yêu lao động. Dù công việc đồng áng vô cùng vất vả, "hai tay dưỡng đất, nuôi trời", phải đối mặt với "bão giông", da dẻ "hun nước ruộng, đất đồng", người nông dân không hề nản chí. Họ xem niềm mong mỏi một mùa màng bội thu, "cót đầy, thóc đủ", là động lực to lớn giúp họ vượt qua mọi khó khăn, gian khổ. Chính niềm vui và sự hài lòng khi nhìn thấy thành quả lao động đã xua tan đi sự mệt mỏi về thể xác. Tinh thần này nhắc nhở em rằng trong cuộc sống hay học tập, khi đối mặt với thử thách, em cần giữ vững ý chí, không ngại gian khổ. Sự "nhọc nhằn" trong hiện tại chính là cái giá phải trả cho "mùa về" tươi sáng trong tương lai. Em học được rằng phải biết đặt mục tiêu rõ ràng, hướng tới thành quả tốt đẹp phía trước để lấy đó làm động lực cố gắng mỗi ngày. Thành quả ngọt ngào sẽ chỉ đến với những ai biết cố gắng bền bỉ, kiên trì, không chùn bước trước vất vả.



Bài 2:

Bốn biện pháp để tiết kiệm năng lượng trong gia đình là:

1. Tắt đèn khi không sử dụng.

2. Sử dụng thiết bị tiết kiệm điện.

3. Sử dụng đèn LED thay cho đèn huỳnh quang & bóng đèn sợi đốt.

4. Tận dụng tối đa nguồn sáng và gió tự nhiên.

Bài 1:

a. Nhà cô T thuộc kiến trúc nhà ở chung cư ở Việt Nam.

b. 4 loại vật liệu xây dựng tương ứng với từng thành phần cấu tạo của kiến trúc nhà đó là:

+ Tường: bê tông hoặc gạch.

+ Mái: bê tông, cốt thép.

+ Cửa sổ và cửa ra vào: nhôm kính hoặc gỗ.

+ Sàn nhà: gạch men hoặc gỗ công nghiệp.