Nguyễn Ngọc Hân
Giới thiệu về bản thân
Câu 1.
Văn bản thuộc thể loại tùy bút (tản văn).
Câu 2.
“Nghệ thuật” ăn quà của người Hà Nội là ăn đúng giờ, đúng món và chọn đúng người bán, thể hiện sự tinh tế, sành ăn.
Câu 3.
Câu văn sử dụng biện pháp so sánh (“sáng như nước”, “ngọt như đường phèn”).
→ Tác dụng: làm nổi bật sự sạch sẽ, tinh tế, khéo léo của người bán và vẻ ngon lành, hấp dẫn của món ăn.
Câu 4.
Chủ đề: Vẻ đẹp tinh tế của văn hóa quà rong Hà Nội, qua đó thể hiện nếp sống, con người và hồn phố cổ Hà Nội.
Câu 5.
Cái tôi trữ tình của tác giả là cái tôi tinh tế, am hiểu, giàu cảm xúc và tha thiết yêu Hà Nội, trân trọng những vẻ đẹp bình dị của đời sống thường ngày.
Câu 6.
Tình yêu quà ăn Hà Nội trong văn bản cho thấy sự gắn bó sâu nặng của con người với quê hương. Quê hương không chỉ là nơi chôn nhau cắt rốn mà còn hiện diện trong những điều rất đỗi đời thường như món ăn, tiếng rao, con người. Khi yêu những điều bình dị ấy, ta sẽ thấy quê hương gần gũi và đáng trân trọng hơn. Chính sự gắn bó đó nuôi dưỡng bản sắc và tình cảm bền chặt trong mỗi con người. Yêu quê hương cũng là biết giữ gìn những nét đẹp giản dị đã làm nên hồn cốt nơi mình sinh ra.
Căn cứ xác định thể thơ: Bài thơ viết theo thể thơ tự do → không cố định số chữ, số câu
Câu 2:
Nhận xét gieo vần khổ đầu: Vần giản dị, không đều, tạo nhịp nhẹ nhàng, tự nhiên (ví dụ: bầng – đó – nhỏ – im).
Câu 3:
Chủ đề bài thơ:Ca ngợi sự sống mới của mầm non và vẻ đẹp vươn dậy mạnh mẽ của thiên nhiên.
Căn cứ:Hình ảnh mầm non “nép lặng”, rồi “vội bật chiếc vỏ” đứng dậy khoác áo xanh.
Câu 4:
Nhan đề “Mầm non” phù hợp: Vì mầm non là trung tâm hình ảnh, tượng trưng cho sự bắt đầu, sinh sôi, sức sống mãnh liệt đúng nội dung bài.
Câu 5:
Thông điệp từ hình ảnh mầm non:Con người cần kiên trì, mạnh mẽ, biết chờ thời cơ và vươn lên trước khó khăn để trưởng thành.
1.Phở – món ăn truyền thống của dân tộc Việt Nam – không chỉ là một món ăn ngon mà còn là biểu tượng của hồn Việt. Bát phở nóng hổi, tỏa hương thơm dịu từ nước dùng trong veo, thịt bò mềm, sợi phở trắng ngần khiến ai nếm qua cũng khó quên. Mỗi sáng, được ngồi bên bát phở nghi ngút khói, ta cảm nhận được sự tinh tế khéo léo và tình yêu quê hương trong từng thìa nước dùng mà người nấu gửi gắm. Phở không chỉ nuôi dưỡng thân thể, mà còn gợi nhớ những kỷ niệm gia đình, những sáng sớm mẹ ân cần bưng tô phở cho con. Dù đi xa đến đâu, hương vị phở quê hương vẫn là sợi dây níu giữ tâm hồn người Việt, là niềm tự hào giản dị nhưng sâu sắc về ẩm thực dân tộc.
Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính.
*Thuyết minh* (kết hợp miêu tả, biểu cảm).
Câu 2.
Quy luật đặt tên quán phở:
Lấy tên người bán (tên cúng cơm, tên con).
Lấy đặc điểm ngoại hình của người bán (phở Gù, phở Sứt…).
→ Tên mộc mạc, dân dã, thân quen.
Câu 3.
Các phương diện nói về phở:
* Thời gian ăn (ăn được mọi lúc).
* Giá trị với con người (no, ấm, gắn bó).
* Văn hóa ăn phở, tiếng rao, tên quán.
* Hương vị, không gian Hà Nội.
Nhận xét:Tác giả nhìn phở bằng con mắt trân trọng, say mê, am hiểu, coi phở là nét đẹp văn hóa.
Câu 4.
Đề tài – chủ đề:
Ca ngợi món phở Hà Nội như một giá trị văn hóa ẩm thực truyền thống, gắn bó với đời sống và tâm hồn người Việt.
Câu 5.
Tình cảm của tác giả:
->Yêu quý, tự hào, nâng niu món phở-biểu tượng đậm đà tinh thần dân tộc
1.Đọc bài thơ "Mầm non" của Võ Quảng, em cảm nhận được sự sống hồi sinh mạnh mẽ, tràn đầy niềm vui và hy vọng, từ hình ảnh "mầm non nho nhỏ" lim dim chờ đợi mùa xuân đến, đến âm thanh "Chíp chiu chiu" của chim báo hiệu và sự thức tỉnh của vạn vật, khiến em vui mừng, yêu mến thiên nhiên, cảm nhận sự tươi mới của cuộc sống và sự trỗi dậy mạnh mẽ, hồn nhiên của sức sống mới, khơi dậy niềm yêu đời, yêu thiên nhiên thiết tha.