PHẠM ANH THƯ
Giới thiệu về bản thân
a) Khái quát thành tựu Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0)
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tập trung vào sự kết hợp giữa hệ thống thực và ảo, với những thành tựu đột phá trên ba lĩnh vực chính:- Kỹ thuật số: Sự bùng nổ của Trí tuệ nhân tạo (AI), Vạn vật kết nối (IoT), Dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây và công nghệ chuỗi khối (Blockchain). Những công nghệ này giúp máy móc có khả năng học hỏi và tự động hóa thông minh.
- Vật lý: Phát triển các loại robot thế hệ mới linh hoạt, xe tự lái, công nghệ in 3D (tạo ra vật thể từ các lớp vật liệu) và các loại vật liệu mới (siêu nhẹ, siêu bền, có khả năng tự phục hồi).
- Công nghệ sinh học: Những tiến bộ trong giải mã trình tự gen, chỉnh sửa gen (CRISPR), tạo ra các giống cây trồng mới và những đột phá trong y tế giúp điều trị các bệnh hiểm nghèo.
b) Cách xử lý thông tin chưa kiểm chứng trên Internet
Trong kỉ nguyên số, để trở thành một người dùng mạng xã hội thông minh và trách nhiệm, khi nhận được thông tin chưa kiểm chứng, em nên thực hiện các bước sau:- Chậm lại và suy ngẫm: Không vội vã tin ngay hoặc chia sẻ (share) ngay lập tức, đặc biệt là với những tin tức gây sốc, đánh vào tâm lý đám đông hoặc gây hoang mang.
- Kiểm tra nguồn tin: Xem thông tin đó đến từ đâu. Có phải từ các trang báo chính thống, cơ quan chức năng hay chỉ là từ một cá nhân, trang web lạ?
- Xác minh nội dung: Tìm kiếm tiêu đề hoặc nội dung đó trên Google để xem các cơ quan báo chí lớn có đưa tin hay không. Kiểm tra hình ảnh xem có bị cắt ghép hoặc dùng ảnh cũ để "giật tít" không.
- Không lan truyền tin giả: Tuyệt đối không chia sẻ khi chưa biết rõ thực hư. Nếu xác định đó là tin giả, có thể báo cáo (report) với nhà mạng hoặc cảnh báo cho bạn bè, người thân.
- Nâng cao kiến thức: Luôn cập nhật các quy định về Luật An ninh mạng để biết cách bảo vệ mình và người khác trên không gian mạng.
- Hướng dẫn cách nhận biết một trang web giả mạo không?
- Chia sẻ các công cụ kiểm tra ảnh/video đã qua chỉnh sửa?
- Tìm hiểu thêm về Luật An ninh mạng hiện hành tại Việt Nam?
- CMCN 3 (Kỹ thuật số): Chuyển đổi từ sản xuất cơ khí sang tự động hóa nhờ máy tính và internet. Hình thành các ngành công nghiệp công nghệ cao, thương mại điện tử và giúp tối ưu hóa chuỗi cung ứng toàn cầu.
- CMCN 4 (Thông minh): Xóa nhòa ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật số và sinh học (AI, IoT, Big Data). Kinh tế chuyển sang mô hình "nền kinh tế chia sẻ" và "kinh tế tri thức". Năng suất lao động tăng vọt nhưng cũng gây ra nguy cơ thay thế lao động chân tay bằng robot và trí tuệ nhân tạo.
- CMCN 3: Kết nối con người toàn cầu qua internet, tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới trong lĩnh vực dịch vụ và CNTT. Tuy nhiên, nó bắt đầu tạo ra khoảng cách giàu nghèo giữa những người làm chủ công nghệ và những người không có kỹ năng.
- CMCN 4: Thay đổi cấu trúc thị trường lao động sâu sắc. Các kỹ năng về sáng tạo, tư duy phản biện lên ngôi. Tuy nhiên, xã hội đối mặt với các thách thức về bảo mật dữ liệu cá nhân, tin giả và sự lệ thuộc vào thuật toán.
- CMCN 3: Phổ biến văn hóa đại chúng (phim ảnh, âm nhạc, lối sống) xuyên biên giới nhanh chóng. Hình thành thói quen giao tiếp trực tuyến và tiếp cận thông tin tức thời.
- CMCN 4: Cá nhân hóa trải nghiệm văn hóa nhờ AI (gợi ý nội dung theo sở thích). Xuất hiện các hình thái văn hóa mới trên không gian ảo (Metaverse, thực tế ảo tăng cường). Văn hóa đọc và giao tiếp truyền thống bị thách thức bởi các nội dung ngắn và tương tác số liên tục.
Câu 1 (2.0 điểm): Viết một đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về tầm quan trọng của lối sống chủ động trong cuộc sống ngày nay.
Câu 2 (4.0 điểm): Cảm nhận của anh/chị về văn bản sau:
Rồi hóng mát thuở ngày trường.
Hoè lục đùn đùn tán rợp trương.
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ.
Hồng liên trì đã tịn mùi hương.
Lao xao chợ cá làng ngư phủ;
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.
Lẽ có Ngu cầm đàn một tiếng,
Dân giàu đủ khắp đòi phươn
PHẦN I. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN (4.0 điểm )
Đọc văn bản sau:
NHÀN
Một mai(1), một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dầu ai(2) vui thú nào
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn, người đến chốn lao xao
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao
Rượu, đến cội cây(3), ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý, tựa chiêm bao(4).
(Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập II)
* Chú thích:
(1) Mai: dụng cụ đào đất, xới đất.
(2) Dầu ai: mặc cho ai, dù ai có cách vui thú nào cũng mặc, tôi cứ thơ thẩn( giữa cuộc đời này).
(3) Cội cây: gốc cây.
(4) Hai câu 7 và 8: tác giả có ý dẫn điển Thuần Vu Phần uống rượu say nằm ngủ dưới gốc cây hòe, rồi mơ thấy mình ở nước Hòe An được công danh phú quý rất mực vinh hiển. Sau bừng mắt tỉnh dậy thì hóa ra đó là giấc mộng, thấy dưới cánh hoè phía nam chỉ có một tổ kiến mà thôi. Từ đó điển này có ý: Phú quý chỉ là một giấc chiêm bao.
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:
Câu 1 (0.5 điểm): Xác định thể thơ của văn bản trên.
Câu 2 (0.75 điểm): Chỉ ra những hình ảnh nói về nét sinh hoạt hàng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả.
Câu 3 (0.75 điểm): Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê có trong hai câu thơ sau:
Một mai, một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào
Câu 4 (1.0 điểm): Quan niệm dại – khôn của tác giả trong hai câu thơ sau có gì đặc biệt?
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn, người đến chốn lao xao
Câu 5 (1.0 điểm): Từ văn bản trên, anh/chị cảm nhận như thế nào về vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm? (Viết đoạn văn ngắn khoảng 5 – 7 dòng)
(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
CON CHIM VÀNG
(Trích)
[Lược một đoạn: Thằng Bào mười hai tuổi là đứa ở chăn trâu cho nhà thằng Quyên mười tuổi – con nhà chủ. Hai năm trước, mẹ Bào mắc nợ nhà này hai thúng thóc, nó đòi ngặt, Bào phải đến ở đợ. Một hôm nọ, có con chim cánh vàng như nghệ, mỏ đỏ như son, ngày nào cũng sà xuống cây trứng cá trước sân nhà. Thằng Quyên đứng dưới gốc dòm lên, nó yêu con chim và đòi mẹ bắt cho được. Bà chủ bèn sai thằng Bào tìm cách bắt con chim vàng cho cậu chủ. Nhưng bắt làm sao được, nó có cánh, vừa leo lên là nó bay vụt mất. Không bắt được chim, Bào bị bà chủ đánh đập, xỉa xói vô cùng tàn nhẫn. Bào đã phản kháng nhưng rồi nó sợ và vẫn cố gắng tìm cách bắt con chim vàng cho cậu chủ… ]
Quá căm tức thì chống lại, chống rồi Bào lại sợ. Bào đến thằng Quyên:
– Cậu, bữa nay thế nào tôi cũng bắt được con chim vàng cho cậu!
Thằng Quyên ngẩng đầu lên, mắt nó long lanh, ôm lấy Bào, nó hỏi: “Chừng nào?”. Bào đưa nhánh tre có sợi nhợ cho nó coi:
– Đây, bẫy gài đây cậu. Mà cậu cho một trái chuối chín đi!
Thằng Quyên nhảy tưng lên, rồi cắm cổ chạy thẳng vô buồng, bẻ luôn hai quả. Nó đưa hai quả chuối cau chín vàng khoe với Bào. Nó cười híp hai con mắt. Lần đầu tiên nó cúi đầu sát vào Bào, xem Bào buộc quả chuối vào bẫy. Suy nghĩ thế nào, nó quay ra, lắc đầu:
– Chim không ăn chuối đâu!
– Nó ăn chớ cậu! Phải chim hát bội, chim sâu đâu, con chim này nó ăn sâu mà ăn chuối nữa cậu. Tôi coi trâu, tôi thấy nó sà xuống vuờn chuối hoài.
Bỗng mẹ thằng Quyên nện guốc bước tới, nó trố mắt nhìn hai quả chuối cau, nó hét lên:
– Mày gạt con tao ăn cắp chuối hả?
Bào lui luôn mấy bước, nép mình vô tường, mặt lấm lét:
– Dạ thưa bà, con xin chuối chín làm mồi bắt chim cho cậu.
– Chuối tao cúng thổ thần, chuối tiền chuối bạc, chuối gì chuối cho chim ăn. Mày trèo lên cây bắt sống nó cho tao.
Mẹ thằng Quyên vừa chửi vừa nhìn quanh quất kiếm cây. Bào liệng cái bẫy, chạy mất…
Không còn cách nào hơn nữa, Bào quấn cây lá đầy mình, trèo sẵn lên cây từ sáng sớm. Nhánh cây trứng cá mềm quằn xuống. Bào thụt vô, dựa lưng vào cành to. Thằng Quyên đứng dưới hét lên:
– Mày ra ngoài nhánh chớ!
Bào run quá, chân cứ thấy nhột, nhìn xuống thấy chóng mặt. Vòm trời cao vút. Một chấm đen bay tới. Rõ là con chim vàng. Nó lượn mấy vòng, vừa sà cánh đáp, bỗng nó hốt hoảng vút lên kêu choe chóe.
Mẹ con nó chạy vô nhà ló đầu ra:
– Mày đừng rung chớ!
Mẹ thằng Quyên nhìn theo con chim mình vàng như nghệ mỏ đỏ như son không chớp mắt:
– Bào! “Con” nín thở cho êm con. Ráng con!
Con chim bay qua nhảy nhót trước mặt. Bào vừa thò tay, nó nhảy ra nhánh. Thằng Quyên há mồm hồi hộp:
– Bắt mau, mau!
– Đó, đó! Nó nhảy vô đó con, chụp, chụp!
Nghe tiếng nó là Bào thấy roi đòn đánh đập, thấy máu đổ như những trận đòn hôm trước. Bào cắn răng cho bớt run, nhè nhẹ thò tay ra, nhổm mình với tới, chụp dính con chim vàng. Chim chóe lên, mẹ con nó mừng quýnh, thằng Quyên nhảy dựng lên.
– Được chim rồi!
Vỗ tay bôm bốp. Bào có cảm giác như khi mình đuổi theo trâu bị sụp những hầm giếng cạn, ruột thót lên. Hai chân Bào sụp vào không khí, tay bơi bơi – Mặt Bào tối đen – Bào rơi xuống như trái thị. Mặt Bào đập vào gốc cây, máu, nước mắt đầm đìa cả mặt: “Trời ơi!” Con chim vàng cũng bị đập xuống đất, đầu bể nát. Trong cơn mê mê tỉnh tỉnh, Bào nghe văng vẳng tiếng guốc, nghe mẹ con thằng Quyên kêu: “Trời ơi!”.
Bào chống tay ngồi dậy, máu từ trên đầu chảy trên những chiếc lá quấn vào mình nhỏ giọt. Bào cố đem toàn lực vùng dậy, nhưng tay lại khuỵu xuống, đầu ngã xuống vũng máu. Mắt Bào chập chờn thấy bàn tay mẹ thằng Quyên thò xuống. Tay Bào với tới, với mãi, với mãi nhưng cũng chẳng với được ai.
Té ra, mẹ thằng Quyên thò tay nâng lấy xác con chim vàng. Bào lại nghe tiếng tắc lưỡi: “Trời! Con chim vàng của con tôi chết rồi!”.
(Nguyễn Quang Sáng)
Câu 1 (0.5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài.
Câu 2 (0.5 điểm): Xác định tình huống truyện của đoạn trích.
Câu 3 (1.0 điểm): Đoạn trích được kể theo ngôi thứ mấy? Nêu tác dụng của ngôi kể.
Câu 4 (1.0 điểm): Phân tích ý nghĩa của chi tiết sau: “Mắt Bào chập chờn thấy bàn tay mẹ thằng Quyên thò xuống. Tay Bào với tới, với mãi, với mãi nhưng cũng chẳng với được ai.”.
Câu 5 (1.0 điểm): Nhận xét về nhân vật cậu
(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
CON CHIM VÀNG
(Trích)
[Lược một đoạn: Thằng Bào mười hai tuổi là đứa ở chăn trâu cho nhà thằng Quyên mười tuổi – con nhà chủ. Hai năm trước, mẹ Bào mắc nợ nhà này hai thúng thóc, nó đòi ngặt, Bào phải đến ở đợ. Một hôm nọ, có con chim cánh vàng như nghệ, mỏ đỏ như son, ngày nào cũng sà xuống cây trứng cá trước sân nhà. Thằng Quyên đứng dưới gốc dòm lên, nó yêu con chim và đòi mẹ bắt cho được. Bà chủ bèn sai thằng Bào tìm cách bắt con chim vàng cho cậu chủ. Nhưng bắt làm sao được, nó có cánh, vừa leo lên là nó bay vụt mất. Không bắt được chim, Bào bị bà chủ đánh đập, xỉa xói vô cùng tàn nhẫn. Bào đã phản kháng nhưng rồi nó sợ và vẫn cố gắng tìm cách bắt con chim vàng cho cậu chủ… ]
Quá căm tức thì chống lại, chống rồi Bào lại sợ. Bào đến thằng Quyên:
– Cậu, bữa nay thế nào tôi cũng bắt được con chim vàng cho cậu!
Thằng Quyên ngẩng đầu lên, mắt nó long lanh, ôm lấy Bào, nó hỏi: “Chừng nào?”. Bào đưa nhánh tre có sợi nhợ cho nó coi:
– Đây, bẫy gài đây cậu. Mà cậu cho một trái chuối chín đi!
Thằng Quyên nhảy tưng lên, rồi cắm cổ chạy thẳng vô buồng, bẻ luôn hai quả. Nó đưa hai quả chuối cau chín vàng khoe với Bào. Nó cười híp hai con mắt. Lần đầu tiên nó cúi đầu sát vào Bào, xem Bào buộc quả chuối vào bẫy. Suy nghĩ thế nào, nó quay ra, lắc đầu:
– Chim không ăn chuối đâu!
– Nó ăn chớ cậu! Phải chim hát bội, chim sâu đâu, con chim này nó ăn sâu mà ăn chuối nữa cậu. Tôi coi trâu, tôi thấy nó sà xuống vuờn chuối hoài.
Bỗng mẹ thằng Quyên nện guốc bước tới, nó trố mắt nhìn hai quả chuối cau, nó hét lên:
– Mày gạt con tao ăn cắp chuối hả?
Bào lui luôn mấy bước, nép mình vô tường, mặt lấm lét:
– Dạ thưa bà, con xin chuối chín làm mồi bắt chim cho cậu.
– Chuối tao cúng thổ thần, chuối tiền chuối bạc, chuối gì chuối cho chim ăn. Mày trèo lên cây bắt sống nó cho tao.
Mẹ thằng Quyên vừa chửi vừa nhìn quanh quất kiếm cây. Bào liệng cái bẫy, chạy mất…
Không còn cách nào hơn nữa, Bào quấn cây lá đầy mình, trèo sẵn lên cây từ sáng sớm. Nhánh cây trứng cá mềm quằn xuống. Bào thụt vô, dựa lưng vào cành to. Thằng Quyên đứng dưới hét lên:
– Mày ra ngoài nhánh chớ!
Bào run quá, chân cứ thấy nhột, nhìn xuống thấy chóng mặt. Vòm trời cao vút. Một chấm đen bay tới. Rõ là con chim vàng. Nó lượn mấy vòng, vừa sà cánh đáp, bỗng nó hốt hoảng vút lên kêu choe chóe.
Mẹ con nó chạy vô nhà ló đầu ra:
– Mày đừng rung chớ!
Mẹ thằng Quyên nhìn theo con chim mình vàng như nghệ mỏ đỏ như son không chớp mắt:
– Bào! “Con” nín thở cho êm con. Ráng con!
Con chim bay qua nhảy nhót trước mặt. Bào vừa thò tay, nó nhảy ra nhánh. Thằng Quyên há mồm hồi hộp:
– Bắt mau, mau!
– Đó, đó! Nó nhảy vô đó con, chụp, chụp!
Nghe tiếng nó là Bào thấy roi đòn đánh đập, thấy máu đổ như những trận đòn hôm trước. Bào cắn răng cho bớt run, nhè nhẹ thò tay ra, nhổm mình với tới, chụp dính con chim vàng. Chim chóe lên, mẹ con nó mừng quýnh, thằng Quyên nhảy dựng lên.
– Được chim rồi!
Vỗ tay bôm bốp. Bào có cảm giác như khi mình đuổi theo trâu bị sụp những hầm giếng cạn, ruột thót lên. Hai chân Bào sụp vào không khí, tay bơi bơi – Mặt Bào tối đen – Bào rơi xuống như trái thị. Mặt Bào đập vào gốc cây, máu, nước mắt đầm đìa cả mặt: “Trời ơi!” Con chim vàng cũng bị đập xuống đất, đầu bể nát. Trong cơn mê mê tỉnh tỉnh, Bào nghe văng vẳng tiếng guốc, nghe mẹ con thằng Quyên kêu: “Trời ơi!”.
Bào chống tay ngồi dậy, máu từ trên đầu chảy trên những chiếc lá quấn vào mình nhỏ giọt. Bào cố đem toàn lực vùng dậy, nhưng tay lại khuỵu xuống, đầu ngã xuống vũng máu. Mắt Bào chập chờn thấy bàn tay mẹ thằng Quyên thò xuống. Tay Bào với tới, với mãi, với mãi nhưng cũng chẳng với được ai.
Té ra, mẹ thằng Quyên thò tay nâng lấy xác con chim vàng. Bào lại nghe tiếng tắc lưỡi: “Trời! Con chim vàng của con tôi chết rồi!”.
(Nguyễn Quang Sáng)
Câu 1 (0.5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài.
Câu 2 (0.5 điểm): Xác định tình huống truyện của đoạn trích.
Câu 3 (1.0 điểm): Đoạn trích được kể theo ngôi thứ mấy? Nêu tác dụng của ngôi kể.
Câu 4 (1.0 điểm): Phân tích ý nghĩa của chi tiết sau: “Mắt Bào chập chờn thấy bàn tay mẹ thằng Quyên thò xuống. Tay Bào với tới, với mãi, với mãi nhưng cũng chẳng với được ai.”.
Câu 5 (1.0 điểm): Nhận xét về nhân vật cậu
Câu 1 (2.0 điểm):
Viết đoạn văn nghị luận văn học khoảng 200 chữ phân tích nhân vật Bê-li-cốp trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.
Câu 2 (4.0 điểm):
Viết một bài văn có dung lượng khoảng 600 chữ trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa của việc bước ra khỏi vùng an toàn của bản thân.
(Trích)
Đây này, chẳng phải tìm đâu xa, cách đây khoảng hai tháng, ở thành phố có một người mới chết tên là Bê-li-cốp, bạn đồng nghiệp của tôi, một giáo viên dạy tiếng Hy Lạp. Chắc là anh cũng đã nghe tên ông này rồi. Hắn ta nổi tiếng về điều là lúc nào cũng vậy, thậm chí cả vào khi rất đẹp trời, hắn đều đi giày cao su, cầm ô và nhất thiết là mặc áo bành tô ấm cốt bông. Ô hắn để trong bao, chiếc đồng hồ quả quýt cũng để trong bao bằng da hươu; và khi rút chiếc dao nhỏ để gọt bút chì thì chiếc dao ấy cũng đặt trong bao; cả bộ mặt hắn ta nữa dường như cũng ở trong bao vì lúc nào hắn cũng giấu mặt sau chiếc cổ áo bành tô bẻ đứng lên. Hắn đeo kính râm, mặc áo bông chần, lỗ tai nhét bông, và khi ngồi lên xe ngựa thì bao giờ cũng cho kéo mui lên. Nói tóm lại, con người này lúc nào cũng có khát vọng mãnh liệt thu mình vào trong một cái vỏ, tạo ra cho mình một thứ bao có thể ngăn cách, bảo vệ hắn khỏi những ảnh hưởng bên ngoài. Cuộc sống làm hắn khó chịu, ghê tởm đối với hiện tại, lúc nào hắn cũng ca ngợi quá khứ, ngợi ca những gì không bao giờ có thật. Mấy thứ ngôn ngữ cổ mà hắn dạy đối với hắn thật ra cũng chỉ là một thứ giày cao su, một thứ ô che mà nhờ đó hắn có thể trốn tránh được cuộc sống thực.
- Ồ, tiếng Hy Lạp nghe thật là tuyệt vời, êm tai. – Hắn ta nói với vẻ ngọt ngào. Và như để chứng minh cho lời nói của mình, hắn nheo mắt lại, giơ một ngón tay lên và thốt ra tiếng: - Anthrópos!
Cả ý nghĩ của mình, Bê-li-cốp cũng cố giấu vào bao. Đối với hắn, chỉ có những chỉ thị, thông tư, những bài báo cấm đoán điều này điều nọ mới là những cái rõ ràng.
Hắn có một thói quen kì quặc là đi hết nhà này đến nhà khác nơi bọn chúng tôi ở. Hắn đến nhà giáo viên nào đó chẳng hạn, kéo ghế ngồi, chẳng nói chẳng rằng, mắt nhìn xung quanh như tìm kiếm vật gì. Hắn cứ ngồi im như phỗng thế rồi độ một giờ sau thì cáo từ. Hắn gọi đó là “cách duy trì những mối quan hệ tốt với bạn đồng nghiệp”. Bọn giáo viên chúng tôi đều sợ hắn. Thậm chí cả hiệu trưởng cũng sợ hắn. Anh thử nghĩ mà xem, giáo giới chúng tôi là bọn người biết suy nghĩ, rất nghiêm chỉnh, được giáo dục qua các tác phẩm của Tuốc-ghê-nhép và Sê-drin, thế mà cái thằng cha quanh năm đi giày cao su và mang ô ấy đã khống chế cả trường học chúng tôi suốt mười lăm năm trời. Mà đâu phải chỉ có trường học! Cả thành phố nữa ấy! Các bà các cô tối thứ bảy không dám tổ chức diễn kịch tại nhà nữa, sợ rằng nhỡ hắn biết thì lại phiền, giới tu hành khi có mặt hắn không dám ăn thịt và đánh bài. Dưới ảnh hưởng của những kẻ như Bê-li-cốp, trong vòng mươi, mười lăm năm trở lại đây, dân chúng trong thành phố đâm ra sợ tất cả. Sợ nói to, sợ gửi thư, sợ làm quen, sợ đọc sách, giúp đỡ người nghèo, dạy học chữ... [...]
(Trích Ngữ văn 11, Tập 2. Nxb. (2007), tập 2, tr.65-69.)
Câu 1 (0.5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài.
Câu 2 (0.5 điểm): Xác định nhân vật trung tâm của đoạn trích.
Câu 3 (1.0 điểm): Đoạn trích được kể theo ngôi thứ mấy? Nêu tác dụng của ngôi kể.
Câu 4 (1.0 điểm): Chỉ ra những chi tiết miêu tả chân dung nhân vật Bê-li-cốp. Theo anh/chị, tại sao nhan đề đoạn trích lại được đặt là "Người trong bao"?
Câu 5 (1.0 điểm): Nêu bài học rút ra được từ trong đoạn tríc
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5:
Đã có lần con khóc giữa chiêm bao
Khi hình mẹ hiện về năm khốn khó
Đồng sau lụt, bờ đê sụt lở
Mẹ gánh gồng xộc xệch hoàng hôn.
Anh em con chịu đói suốt ngày tròn
Trong chạng vạng ngồi co ro bậu cửa
Có gì nấu đâu mà nhóm lửa
Ngô hay khoai còn ở phía mẹ về…
Chiêm bao tan nước mắt dầm dề
Con gọi mẹ một mình trong đêm vắng
Dù tiếng lòng con chẳng thể nào vang vọng
Tới vuông đất mẹ nằm lưng núi quê hương.
(Trích Khóc giữa chiêm bao, Vương Trọng)
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên là gì?
Câu 2. Những từ ngữ, hình ảnh nào thể hiện năm khốn khó trong đoạn trích?
Câu 3. Chỉ ra và nêu tác dụng của một biện pháp tu từ trong hai dòng thơ sau:
Dù tiếng lòng con chẳng thể nào vang vọng
Tới vuông đất mẹ nằm lưng núi quê hương.
Câu 4. Anh/Chị hiểu nội dung dòng thơ sau như thế nào?
Mẹ gánh gồng xộc xệch hoàng hôn.
Câu 5. Thông điệp tâm đắc nhất mà anh/chị rút ra từ đoạn trích trên là gì? Nêu lí do anh/chị lựa chọn thông điệp