TRỊNH ĐÀO BẢO NGỌC
Giới thiệu về bản thân
Câu 1 (2.0 điểm):
Viết đoạn văn nghị luận văn học khoảng 200 chữ phân tích truyện ngắn trong phần Đọc hiểu.
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0.25 điểm)
- Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.
- Về kiểu đoạn văn, HS có thể trình bày theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0.25 điểm)
- Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích truyện ngắn Con chim vàng.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (0.5 điểm)
- Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận:
* Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.
* Triển khai vấn đề nghị luận:
- Giới thiệu tác phẩm, tác giả, đánh giá chung.
- Phân tích chủ đề, tóm tắt truyện:
+ Chủ đề: Số phận bất hạnh của những con người nghèo khổ và sự lạnh lùng, vô cảm của những con người có địa vị trong xã hội xưa.
+ Tóm tắt truyện: Truyện ngắn trên kể về cậu bé Bào phải đi ở đợ, bị gia đình chủ coi thường, khinh rẻ đến mức tính mạng và sự sống còn của cậu còn không bằng một con chim vàng.
- Phân tích nhân vật để làm rõ chủ đề truyện:
+ Nhân vật cậu bé Bào trong đoạn trích: Thân phận bất hạnh, đáng thương mười hai tuổi phải trả món nợ của gia đình (hai thúng thóc); không được quan tâm, chăm sóc, luôn bị bà chủ chửi mắng, đánh đập; mạo hiểm hi sinh bản thân để đáp ứng mong muốn bắt con chim vàng của cậu chủ,… Là một cậu bé hồn nhiên, hết lòng vì chủ.
+ Thằng Quyên: cậu chủ được cưng chiều, muốn gì thì người khác phải đáp ứng.
+ Mẹ thằng Quyên: là một kẻ hống hách, lạnh lùng, bà ta chỉ lo lắng cưng chiều con trai của mình còn không thèm đếm xỉa đến số phận của người khác.
=> Qua nhân vật nhà văn thể hiện thái độ:
+ Đồng cảm, xót thương cho số phận của những đứa trẻ nghèo, bất hạnh mất quyền tự do.
+ Trân trọng, ngợi ca những đức tính quý giá của nhân vật Bào: dù nghèo khổ nhưng không trộm cắp, hết lòng phục vụ nhà chủ,…
+ Lên án, phê phán những con người tàn nhẫn, vô tâm trong xã hội.
- Nghệ thuật: Xây dựng nhân vật, miêu tả tâm lí nhân vật, ngôi kể thứ ba và điểm nhìn kết hợp bên ngoài và bên trong.
đ. Diễn đạt (0.25 điểm)
- Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết các câu trong văn bản.
e. Sáng tạo (0.25 điểm)
- Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 2 (4.0 điểm):
Viết một bài văn có dung lượng khoảng 600 chữ trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa của tình yêu thương trong cuộc sống.
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài (0.25 điểm)
- Xác định đúng yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận xã hội.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0.5 điểm)
- Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Ý nghĩa của tình yêu thương trong cuộc sống.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1.5 điểm)
- Xác định được các ý chính của bài viết.
- Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý:
- Giải thích: Tình yêu thương là tình cảm thiêng liêng, tốt đẹp xuất phát từ tâm hồn, tạo sự gắn bó hòa hợp, sự sẻ chia, cảm thông… giữa con người với con người và với vạn vật.
- Biểu hiện:
+ Luôn sẵn sàng giúp đỡ, cảm thông, chia sẻ những khó khăn, bất hạnh của người khác.
+ Biết hi sinh quyền lợi của bản thân cho người khác.
+ Dễ tha thứ cho người khác khi mắc sai lầm, khuyết điểm.
- Ý nghĩa:
+ Đối với người nhận được yêu thương: cảm thấy vui sướng, hạnh phúc; được khích lệ tinh thần, tiếp thêm sức mạnh vượt qua những khó khăn. Với những số phận bất hạnh, tình yêu thương có thể giúp họ thay đổi cuộc đời, hàn gắn những vết thương và xoa dịu những đau buồn… trong cuộc sống.
+ Đối với người trao đi yêu thương: thanh thản, bình yên, tâm hồn trở nên phong phú hơn nhờ trái tim giàu lòng nhân ái.
+ Đối với xã hội: tình yêu thương giúp lan tỏa những xúc cảm đạo đức tốt đẹp trong cộng đồng; xóa bỏ khoảng cách giữa người với người, khiến vạn vật trở nên gắn kết trong một mối quan hệ ấm áp, bền chặt…
- Phê phán những kẻ không biết yêu thương.
d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau (0.5 điểm)
- Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
- Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.
- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
* Khẳng định lại quan điểm cá nhân đã trình bày và rút ra bài học cho bản thân.
d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau (1.0 điểm)
- Triển khai được ít nhất hai luận điểm để làm rõ quan điểm của cá nhân.
- Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
Lưu ý: HS có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
đ. Diễn đạt (0.25 điểm)
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản.
e. Sáng tạo (0.5 điểm)
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Trả lời
Câu 1 (0.5 điểm):
Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài là: Tự sự.
Câu 2 (0.5 điểm):
Tình huống truyện: Quyên - con trai của chủ gia đình mà Bào ở đợ bắt Bào phải bắt bằng được con chim vàng cho nó.
Câu 3 (1.0 điểm):
- Đoạn trích được kể theo ngôi thứ nhất.
- Tác dụng:
+ Thể hiện được rõ ràng suy nghĩ, cảm xúc của nhân vật.
+ Giúp câu chuyện được kể một cách chân thực, hấp dẫn.
Câu 4 (1.0 điểm):
- Chi tiết đặc sắc, giàu giá trị, cho thấy được sự lạnh lùng, thờ ơ đến vô tâm, tàn nhẫn của lòng người trước tình cảnh đáng thương của người khác.
- Cho thấy được số phận bi thảm, thân phận rẻ rúng của những con người thấp cổ bé họng trong xã hội xưa, họ còn không bằng con chim bé nhỏ kia.
- Qua đó còn thể hiện được sự thương xót của nhà văn với những con người nghèo khổ trong xã hội.
Câu 5 (1.0 điểm):
- HS nhận xét về cậu bé Bào trong đoạn trích:
+ Thân phận bất hạnh, đáng thương: Mười hai tuổi phải trả món nợ của gia đình (hai thúng thóc); không được quan tâm, chăm sóc, luôn bị bà chủ chửi mắng, đánh đập; mạo hiểm hi sinh bản thân để đáp ứng mong muốn bắt con chim vàng của cậu chủ,…
+ Là một cậu bé hồn nhiên, hết lòng vì chủ: Qua giọng điệu bảo cậu chủ đi lấy chuối để gài bẫy bắt chim vàng.
- HS chỉ ra được thái độ của tác giả qua hình tượng nhân vật Bào:
+ Đồng cảm, xót thương cho số phận của những đứa trẻ nghèo, bất hạnh mất quyền tự do.
+ Trân trọng, ngợi ca những đức tính quý giá của nhân vật Bào: Dù nghèo khổ nhưng không trộm cắp, hết lòng phục vụ nhà chủ,…
Học sinh nêu được ý nghĩa và trình bày được từ 3 ý: 1,0 điểm; Học sinh nêu được ý nghĩa và trình bày được 2 ý: 0,75 điểm; Học sinh nêu được ý nghĩa và trình bày được 1 ý: 0,5 điểm; Học sinh trả lời chung chung: 0,25 điểm.
Câu 1: Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu cảm nhận về nhân vật cô Tâm trong truyện ngắn "Cô hàng xén" của Thạch Lam.
Bài làm tham khảo:
Nhân vật cô Tâm trong truyện ngắn "Cô hàng xén" của Thạch Lam là hiện thân cao đẹp cho vẻ đẹp tần tảo, nhẫn nại và giàu đức hy sinh của người phụ nữ Việt Nam xưa. Qua ngòi bút tinh tế của Thạch Lam, Tâm hiện lên với đôi vai gánh vác cả giang sơn nhà chồng và gia đình ngoại. Dù cuộc sống mưu sinh đầy nhọc nhằn với gánh hàng xén "chỉ đáng giá hai chục bạc", phải lặn lội trong "gió bắc lạnh" và "sương trắng đầy ngõ", nhưng ở Tâm không hề có sự than vãn. Ngược lại, cô tìm thấy hạnh phúc trong chính sự hy sinh của mình. Niềm vui ấy nảy nở từ những điều giản dị: là lúc nhìn thấy các em "ngây thơ lóng lánh" dưới mái tóc tơ, là sự săn sóc ân cần của mẹ, hay cảm giác ấm áp khi bước chân về đến cổng làng quen thuộc. Tâm không chỉ là một người con hiếu thảo, người chị hết lòng vì các em mà còn là một tâm hồn nhạy cảm, luôn hướng về gia đình với tất cả sự trân trọng. Hình ảnh cô Tâm với "gánh hàng nhẹ đi" khi về gần đến nhà đã chạm đến trái tim người đọc, khẳng định một triết lý nhân sinh sâu sắc: hạnh phúc đích thực đôi khi chỉ là sự bình yên dưới mái tranh nghèo và lòng tự hào khi được sống vì những người thân yêu.
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính
• Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm (bộc lộ tình cảm, cảm xúc của người con dành cho mẹ).
Câu 2: Hình ảnh đời mẹ được so sánh với những sự vật, hiện tượng nào?
Trong đoạn trích, cuộc đời mẹ được so sánh với:
• Bến vắng bên sông: Nơi đón nhận những con thuyền tránh gió (biểu tượng cho sự bình yên, che chở).
• Cây tự quên mình trong quả: Sự hy sinh thầm lặng để kết tinh nên quả ngọt cho đời/cho con.
• Trời xanh nhẫn nại sau mây: Sự bao dung, kiên trì và bền bỉ vượt qua mọi gian khó.
Câu 3: Biện pháp tu từ trong câu "Quả chín rồi ai dễ nhớ ơn cây" và tác dụng
• Biện pháp tu từ: Ẩn dụ (mượn hình ảnh "quả chín" và "cây" để nói về thành quả/con cái và cội nguồn/cha mẹ). Ngoài ra còn có sắc thái của một câu hỏi tu từ.
• Tác dụng:
• Làm cho lời thơ giàu hình ảnh, gợi cảm và sâu sắc hơn.
• Nhắc nhở về đạo lý "Uống nước nhớ nguồn": Khi hưởng thụ thành quả (quả chín), con người thường dễ quên đi công lao vun trồng, hy sinh thầm lặng của người đi trước (cây).
• Thể hiện sự thấu hiểu và lòng biết ơn sâu sắc của người con trước sự hy sinh của mẹ.
Câu 4: Hiểu nội dung hai dòng thơ: "Con muốn có lời gì đằm thắm / Ru tuổi già của mẹ tháng năm nay"
• Hai câu thơ thể hiện mong ước chân thành của người con muốn được bù đắp, an ủi mẹ.
• "Lời đằm thắm" không chỉ là lời nói mà còn là sự quan tâm, chăm sóc để mẹ được an lòng, hạnh phúc trong những năm tháng tuổi già, giúp mẹ quên đi những nhọc nhằn của quá khứ.
Câu 5: Bài học rút ra cho bản thân
Bạn có thể rút ra bài học tùy theo cảm nhận, ví dụ:
• Sự thấu hiểu: Cần phải biết quan sát và thấu hiểu những nỗi vất vả, hy sinh thầm lặng của cha mẹ.
• Lòng biết ơn và hiếu thảo: Phải biết trân trọng và đền đáp công ơn sinh thành bằng những hành động thiết thực ngay khi cha mẹ còn khỏe mạnh.
• Sống có trách nhiệm: Sống sao cho xứng đáng với sự hy sinh của cha mẹ ("cây tự quên mình trong quả").
Câu 2: Bài văn phân tích nội dung và nghệ thuật bài thơ "Chuyện của mẹ" (4.0 điểm)
Chiến tranh đã lùi xa, nhưng những dư âm đau thương và hào hùng của nó vẫn còn vang vọng trong những trang thơ. Bài thơ "Chuyện của mẹ" của tác giả Nguyễn Ba là một nốt lặng đầy xúc động, khắc họa chân dung người mẹ Việt Nam anh hùng – người đã hiến dâng những gì quý giá nhất của cuộc đời mình cho sự bình yên của Tổ quốc. Qua những vần thơ tự do trầm lắng, tác giả đã dựng lên một tượng đài bất tử về sự hy sinh và lòng nhân hậu.
Mở đầu bài thơ, người đọc không khỏi nhói lòng trước con số cụ thể và đầy nghiệt ngã: "mẹ có năm lần chia li". Năm lần tiễn đưa là năm lần mẹ nén nỗi đau vào lòng để các con, các cháu lên đường làm nhiệm vụ. Những cuộc chia ly ấy không chỉ là sự xa cách địa lý mà là sự mất mát vĩnh viễn. Chồng mẹ ra đi rồi "hóa thành ngàn lau" nơi địa đầu Tây Bắc; đứa con trai đầu trở thành "con sóng nát" trên dòng Thạch Hãn; đứa thứ hai nằm lại đại ngàn Trường Sơn... Những hình ảnh ẩn dụ như "ngàn lau", "sóng nát", "táp đỏ trời" không chỉ giảm bớt sự khốc liệt của cái chết mà còn nâng tầm sự hy sinh ấy lên thành sự bất tử, hòa quyện vào linh hồn của non sông, đất nước.
Không chỉ dừng lại ở nỗi đau mất mát, bài thơ còn khai thác chiều sâu tâm hồn của người mẹ trong thời bình. Dù đôi mắt đã loà vì khóc thương con, dù tuổi già sức yếu, mẹ vẫn chưa một phút giây nào thôi lo lắng. Lời thơ "mẹ lo mẹ chết đi / ai người nước nôi cơm cháo" toát lên vẻ đẹp tần tảo và đức hy sinh quên mình. Ngay cả trong hoàn cảnh khó khăn nhất, mẹ vẫn dành tình thương trọn vẹn cho đứa con còn lại. Hình ảnh căn nhà tình nghĩa với "đèn, lửa xóm giềng" cho thấy dù vật chất còn thiếu thốn, nhưng mẹ luôn sống trong sự đùm bọc, yêu thương của cộng đồng – một truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta.
Về nghệ thuật, Nguyễn Ba đã rất thành công khi sử dụng thể thơ tự do với nhịp điệu chậm rãi, như một lời kể chuyện thủ thỉ, tâm tình. Việc đan xen các địa danh lịch sử như Tây Bắc, Thạch Hãn, Trường Sơn, Vị Xuyên, Xuân Lộc... không chỉ tạo nên tính xác thực cho câu chuyện mà còn khơi gợi niềm tự hào về một thời kỳ máu lửa của dân tộc. Ngôn ngữ thơ giản dị, mộc mạc nhưng sức gợi hình, gợi cảm lại vô cùng mạnh mẽ.
Kết thúc bài thơ là hình ảnh "móm mém mẹ cười" và "khoé mắt loà khẽ sáng mấy giọt sương". Nụ cười ấy là sự thanh thản của một người đã hoàn thành trọn vẹn nghĩa vụ với non sông. Giọt sương trên khóe mắt mẹ chính là tinh hoa của tình yêu thương và sự bao dung. Qua bài thơ, Nguyễn Ba không chỉ gửi gắm lòng tri ân sâu sắc đến những người mẹ vĩ đại mà còn nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay về trách nhiệm giữ gìn nền độc lập mà cha ông đã phải đổi bằng xương máu. "Chuyện của mẹ" thực sự là một bài ca lay động lòng người, khẳng định rằng: Mẹ chính là linh hồn, là cội nguồn sức mạnh của dân tộc Việt Nam.
Câu 1: Đoạn văn về việc thấu hiểu chính mình (2.0 điểm)
Trong hành trình trưởng thành của mỗi người, việc thấu hiểu chính mình không chỉ là một kỹ năng mà còn là chìa khóa vàng để mở ra cánh cửa của hạnh phúc và thành công. Thấu hiểu chính mình là khả năng tự nhận thức rõ ràng về những thế mạnh để phát huy, những yếu điểm để khắc phục, cũng như hiểu thấu những đam mê và giá trị cốt lõi mà bản thân đang theo đuổi. Khi thực sự hiểu mình, chúng ta sẽ xây dựng được một nội lực vững chãi, giống như "chiếc đèn" biết cách tự che chắn trước gió hay "vầng trăng" không tự ti khi bị mây mờ che lấp. Sự tự thấu hiểu giúp ta đưa ra những quyết định sáng suốt trong sự nghiệp và cuộc sống, tránh xa những ảo tưởng viển vông hoặc sự tự ti mù quáng trước những phán xét của thế gian. Ngược lại, nếu sống mà không hiểu rõ bản thân, con người dễ trở nên chông chênh, dễ bị cuốn theo những giá trị hào nhoáng bên ngoài mà đánh mất đi bản sắc riêng. Để đạt được điều này, mỗi chúng ta cần sự trung thực tuyệt đối với chính mình, dám đối diện với những góc tối trong tâm hồn và dành thời gian tĩnh lặng để lắng nghe tiếng nói nội tâm. Hiểu mình chính là bước đi đầu tiên và quan trọng nhất để chúng ta bắt đầu học cách hiểu và bao dung với cả thế giới xung quanh.
Câu 1: Kiểu văn bản: Văn bản nghị luận (Nghị luận về một vấn đề triết lý nhân sinh).
Câu 2: Vấn đề được đề cập: Tầm quan trọng của việc hiểu mình, biết người để tự hoàn thiện bản thân.
Câu 3: Để làm sáng tỏ vấn đề, tác giả đã sử dụng những bằng chứng:
• Câu ca dao về "Đèn và Trăng": Cuộc tranh tài giữa đèn và trăng (đèn khoe tỏ hơn trăng, trăng khoe tỏ hơn đèn) để thấy ai cũng có thế mạnh và điểm yếu riêng.
• Hình ảnh "Năm ngón tay có ngón dài ngón ngắn": Minh chứng cho sự khác biệt tự nhiên giữa con người trong xã hội.
• Hình ảnh "Cái đèn dầu cổ" và "Gió": Để nói về sự mong manh và cần phải biết cách che chắn, bảo vệ (tự ý thức về giới hạn của mình).
• Trích dẫn Truyện Kiều: "Tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao" để tạo sự liên tưởng sâu sắc.
Câu 4: * Nội dung: Khẳng định mỗi người đều có ưu và khuyết điểm; điều quan trọng nhất không phải là khoe khoang mà là sự tự nhận thức (biết mình).
• Mục đích: Thuyết phục người đọc về lối sống bao dung với người khác và nghiêm túc với chính mình để phát triển bền vững.
Câu 5: Nhận xét cách lập luận:
• Lập luận chặt chẽ, giàu sức thuyết phục. Tác giả đi từ một hiện tượng văn hóa dân gian (ca dao) đến những hình ảnh gần gũi (bàn tay) rồi nâng lên thành triết lý sống.
• Cách đặt vấn đề bằng các câu hỏi tu từ (Nếu bạn là trăng thì đâu là các loại mây...?) khiến người đọc phải tự soi chiếu và suy ngẫm.
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận. (Tác giả sử dụng các lí lẽ, hình ảnh so sánh để bàn luận về thái độ sống của con người).
Câu 2: Hai lối sống mà con người từng đôi lần trải qua được nêu trong đoạn trích:
• Lối sống khước từ sự vận động, tìm sự an toàn trong vẻ "ngoan ngoãn bất động".
• Lối sống bỏ quên những khát khao, sống bải hoải, quẩn quanh, bế tắc (như dòng sông chưa ra được biển rộng đã lịm trong đầm lầy).
Câu 3: Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong đoạn: "Sông như đời người. Và sông phải chảy. Như tuổi trẻ phải hướng ra biển rộng."
• Biện pháp tu từ: So sánh (Sông như đời người; Như tuổi trẻ phải hướng ra biển rộng).
• Tác dụng:
• Về nội dung: Hình tượng hóa cuộc đời và tuổi trẻ của con người. Khẳng định quy luật tất yếu của cuộc sống là phải vận động, cống hiến và vươn xa.
• Về nghệ thuật: Làm cho lời văn sinh động, giàu hình ảnh và sức gợi cảm; tạo nên nhịp điệu dồn dập, thôi thúc người đọc thay đổi tư duy sống tích cực hơn.
Câu 4: Cách hiểu về cụm từ "tiếng gọi chảy đi sông ơi":
Đây là một ẩn dụ về khát vọng sống, sự thôi thúc nội tâm của mỗi cá nhân. Nó là tiếng gọi của sự dấn thân, trải nghiệm, vượt qua những rào cản an toàn của bản thân để hòa nhập vào cuộc đời rộng lớn, thực hiện sứ mệnh và ước mơ của chính mình.
Câu 5: Bài học rút ra: Không nên sống hoài, sống phí trong sự trì trệ.
• Vì sao: Cuộc đời mỗi người (đặc biệt là tuổi trẻ) chỉ có một lần. Nếu chỉ chọn sự an toàn, lười vận động và khước từ trải nghiệm, chúng ta sẽ tự biến cuộc đời mình thành "đầm lầy" tù đọng, đánh mất đi ý nghĩa của sự tồn tại và những giá trị tốt đẹp của thế giới bên ngoài.
1. Mở đoạn: Giới thiệu câu nói và thông điệp về việc vượt qua vùng an toàn để sống không hối tiếc.
2. Thân đoạn:
• Giải thích: "Tháo dây, nhổ neo" là hành động dũng cảm từ bỏ sự ổn định nhàm chán để dấn thân. "Bến đỗ an toàn" là ranh giới do bản thân tự tạo ra vì nỗi sợ thất bại.
• Bàn luận: Tại sao phải làm vậy? Vì cơ hội và sự trưởng thành nằm ở phía sau những thử thách. Những điều ta không làm thường để lại nỗi hối hận dai dẳng hơn là những sai lầm khi ta đã thử.
• Chứng minh: Nêu gương những người trẻ khởi nghiệp hoặc dám theo đuổi đam mê khác biệt.
3. Kết đoạn: Bài học cho bản thân: Đừng để nỗi sợ ngăn cản bước chân, hãy sống rực rỡ khi còn có thể.
Câu 2 (4.0 điểm): Phân tích nhân vật người mẹ trong đoạn trích "Trở về" của Thạch Lam
Dàn ý gợi ý:
1. Mở bài: Giới thiệu tác giả Thạch Lam (phong cách nhẹ nhàng, tinh tế, giàu nhân hậu) và đoạn trích "Trở về". Nêu ấn tượng chung về nhân vật người mẹ.
2. Thân bài:
• Hoàn cảnh sống: Một bà cụ già ở quê, nghèo khổ, tảo tần nuôi con ăn học. Hình ảnh ngôi nhà cũ sụp thấp, mái gianh xơ xác đối lập với sự giàu sang của Tâm ở thành phố.
• Vẻ ngoài: "Bà cụ đã già đi nhiều", mặc "bộ áo cũ kỹ như mấy năm về trước". Điều này cho thấy sự khắc khổ và đức tính tiết kiệm của người mẹ quê.
• Tình yêu thương con vô bờ bến:
• Sự xúc động khi thấy con: "ứa nước mắt", "ấp úng" không nói nên lời.
• Sự lo lắng chăm sóc: Hỏi han sức khỏe con khi nghe tin con ốm, dù xa xôi không đi thăm được nhưng lòng luôn thắt lại.
• Sự hy sinh, mong ngóng: Không dám lên tỉnh vì sợ "quê mùa", chỉ biết đợi con về và thiết tha mời con "ở đây ăn cơm đã".
• Sự đối lập đau đớn: Sự nồng hậu, run rẩy vì xúc động của mẹ đối lập hoàn toàn với thái độ thờ ơ, kiêu ngạo và coi thường nguồn cội của Tâm. Mẹ nhận tiền bằng đôi tay "run run", "rớm rớm nước mắt" không phải vì tiền mà vì sự cảm động trước (mà bà tưởng là) lòng hiếu thảo của con.
3. Kết bài:
• Khẳng định vẻ đẹp tâm hồn của người mẹ: Đại diện cho người phụ nữ Việt Nam truyền thống – nhẫn nại, hy sinh và luôn tràn đầy tình mẫu tử.
• Giá trị nhân văn của tác phẩm: Phê phán lối sống bạc bẽo, đồng thời ngợi ca những giá trị gia đình bền vững.
- Nội dung: Sử thi phản ánh chân thực cuộc sống, văn hóa và khát vọng của cộng đồng người Ê-đê xưa. Tác phẩm xây dựng thành công hình tượng người anh hùng Đăm Săn với vẻ đẹp ngoại hình cường tráng, phẩm chất phi thường, đại diện cho sức mạnh và khát vọng của cả bộ tộc. Câu chuyện ca ngợi chiến công oanh liệt, khát vọng tự do và chinh phục tự nhiên, thể hiện bi kịch của người anh hùng trong hành trình chinh phục những điều mới mẻ.
- Nghệ thuật: Tác phẩm kết hợp nhuần nhuyễn yếu tố hiện thực và kỳ ảo (ngựa thần, sức mạnh phi thường). Lời văn sử thi giàu tính hào hùng, sử dụng biện pháp so sánh, phóng đại hiệu quả, cùng với giọng kể văn xuôi xen lẫn văn vần, mang đậm màu sắc văn hóa Tây Nguyên.
- Hình thức diễn xướng: Sử thi được lưu truyền qua hình thức kể khan (hát kể) của các già làng bên bếp lửa, trong các nhà dài, trở thành một truyền thống văn hóa sống động của người Ê-đê.
- Không gian nhà/rừng (trục ngang):
- Nhà: Thể hiện không gian văn hóa, sự an toàn, quen thuộc và là nơi sinh hoạt của con người, mang tính cộng đồng hoặc cá nhân.
- Rừng: Đại diện cho không gian tự nhiên, hoang dã, bí ẩn, đôi khi nguy hiểm, đối lập với không gian "nhà". Trục ngang này thể hiện sự đối lập và tương tác giữa văn hóa và tự nhiên, giữa sự an toàn và hiểm nguy.
- Không gian của người/không gian của trời (trục dọc):
- Không gian của người: Là mặt đất, nơi con người sinh sống, hoạt động, mang tính trần tục, hiện thực.
- Không gian của trời: Thể hiện sự linh thiêng, cao cả, vũ trụ, thế giới thần linh hoặc lý tưởng, đối lập với không gian của người. Trục dọc này thể hiện sự phân chia các cõi, các tầng bậc của thế giới quan, từ trần thế lên đến thiên giới, mang yếu tố tâm linh, huyền bí.