NGUYỄN QUANG MINH
Giới thiệu về bản thân
am khảo số 2
Bài GV giao
Bài 1
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5:
Đã có lần con khóc giữa chiêm bao
Khi hình mẹ hiện về năm khốn khó
Đồng sau lụt, bờ đê sụt lở
Mẹ gánh gồng xộc xệch hoàng hôn.
Anh em con chịu đói suốt ngày tròn
Trong chạng vạng ngồi co ro bậu cửa
Có gì nấu đâu mà nhóm lửa
Ngô hay khoai còn ở phía mẹ về…
Chiêm bao tan nước mắt dầm dề
Con gọi mẹ một mình trong đêm vắng
Dù tiếng lòng con chẳng thể nào vang vọng
Tới vuông đất mẹ nằm lưng núi quê hương.
(Trích Khóc giữa chiêm bao, Vương Trọng)
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên là gì?
Câu 2. Những từ ngữ, hình ảnh nào thể hiện năm khốn khó trong đoạn trích?
Câu 3. Chỉ ra và nêu tác dụng của một biện pháp tu từ trong hai dòng thơ sau:
Dù tiếng lòng con chẳng thể nào vang vọng
Tới vuông đất mẹ nằm lưng núi quê hương.
Câu 4. Anh/Chị hiểu nội dung dòng thơ sau như thế nào?
Mẹ gánh gồng xộc xệch hoàng hôn.
Câu 5. Thông điệp tâm đắc nhất mà anh/chị rút ra từ đoạn trích trên là gì? Nêu lí do anh/chị lựa chọn thông điệp đó.
Guide icon
Hướng dẫn giải
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích: biểu cảm.
Câu 2. Những từ ngữ, hình ảnh nào thể hiện năm khốn khó trong đoạn trích: đồng sau lụt, bờ đê sụt lở, gánh gồng xộc xệch, chịu đói suốt ngày tròn, ngồi co ro, có gì nấu đâu, ngô hay khoai còn ở phía mẹ về.
Câu 3. Gợi ý:
- Biện pháp tu từ ẩn dụ/nói giảm nói tránh: vuông đất - chỉ nấm mồ của mẹ.
- Tác dụng: gợi hình ảnh cụ thể, làm giảm sự đau xót khi nhớ về người mẹ đã qua đời.
Câu 4. Cách hiểu nội dung dòng thơ: Mẹ gánh gồng xộc xệch hoàng hôn:
- Hình ảnh người mẹ nghèo khổ suốt đời, tần tảo, chịu thương chịu khó trong cuộc mưu sinh để nuôi con nên người.
- Biểu hiện tình cảm thương xót, kính trọng dành cho mẹ của nhà thơ.
Câu 5. Thí sinh tự chọn một thông điệp tâm đắc nhất qua đoạn thơ và trình bày lí do chọn thông điệp đó sao cho hợp lí, không vi phạm chuẩn mực đạo đức và pháp luật. Sau đây là vài gợi ý về thông điệp:
- Tình mẫu tử là tình cảm thiêng liêng, xúc động nhất trong những tình cảm của con người.
- Cần biết trân trọng, yêu thương và biết ơn mẹ.
book-open
Bài làm của tôi
Sửa
am khảo số 2
Bài GV giao
Bài 1
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5:
Đã có lần con khóc giữa chiêm bao
Khi hình mẹ hiện về năm khốn khó
Đồng sau lụt, bờ đê sụt lở
Mẹ gánh gồng xộc xệch hoàng hôn.
Anh em con chịu đói suốt ngày tròn
Trong chạng vạng ngồi co ro bậu cửa
Có gì nấu đâu mà nhóm lửa
Ngô hay khoai còn ở phía mẹ về…
Chiêm bao tan nước mắt dầm dề
Con gọi mẹ một mình trong đêm vắng
Dù tiếng lòng con chẳng thể nào vang vọng
Tới vuông đất mẹ nằm lưng núi quê hương.
(Trích Khóc giữa chiêm bao, Vương Trọng)
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên là gì?
Câu 2. Những từ ngữ, hình ảnh nào thể hiện năm khốn khó trong đoạn trích?
Câu 3. Chỉ ra và nêu tác dụng của một biện pháp tu từ trong hai dòng thơ sau:
Dù tiếng lòng con chẳng thể nào vang vọng
Tới vuông đất mẹ nằm lưng núi quê hương.
Câu 4. Anh/Chị hiểu nội dung dòng thơ sau như thế nào?
Mẹ gánh gồng xộc xệch hoàng hôn.
Câu 5. Thông điệp tâm đắc nhất mà anh/chị rút ra từ đoạn trích trên là gì? Nêu lí do anh/chị lựa chọn thông điệp đó.
Guide icon
Hướng dẫn giải
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích: biểu cảm.
Câu 2. Những từ ngữ, hình ảnh nào thể hiện năm khốn khó trong đoạn trích: đồng sau lụt, bờ đê sụt lở, gánh gồng xộc xệch, chịu đói suốt ngày tròn, ngồi co ro, có gì nấu đâu, ngô hay khoai còn ở phía mẹ về.
Câu 3. Gợi ý:
- Biện pháp tu từ ẩn dụ/nói giảm nói tránh: vuông đất - chỉ nấm mồ của mẹ.
- Tác dụng: gợi hình ảnh cụ thể, làm giảm sự đau xót khi nhớ về người mẹ đã qua đời.
Câu 4. Cách hiểu nội dung dòng thơ: Mẹ gánh gồng xộc xệch hoàng hôn:
- Hình ảnh người mẹ nghèo khổ suốt đời, tần tảo, chịu thương chịu khó trong cuộc mưu sinh để nuôi con nên người.
- Biểu hiện tình cảm thương xót, kính trọng dành cho mẹ của nhà thơ.
Câu 5. Thí sinh tự chọn một thông điệp tâm đắc nhất qua đoạn thơ và trình bày lí do chọn thông điệp đó sao cho hợp lí, không vi phạm chuẩn mực đạo đức và pháp luật. Sau đây là vài gợi ý về thông điệp:
- Tình mẫu tử là tình cảm thiêng liêng, xúc động nhất trong những tình cảm của con người.
- Cần biết trân trọng, yêu thương và biết ơn mẹ.
Bài 2
II. PHẦN VIẾT (6.0 ĐIỂM)
Câu 1. Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích vẻ đẹp của mùa thu Hà Nội trong đoạn thơ sau:
Thu Hà Nội
(Trích)
Se sẽ gió heo may, xào xạc lạnh
Lá vàng khô lùa trên phố bâng khuâng
Ta lặng lẽ một mình. Chiều nhạt nắng.
Nhớ người xa
Người xa nhớ ta chăng?...
Ôi! Hàng sấu vẫn còn đây quả sót
Rụng vu vơ một trái vàng ươm
Ta nhặt được cả chùm nắng hạ
Trong mùi hương trời đất dậy trên đường
(Hoàng Cát, Tuyển tập thơ Việt Nam, 1975 - 2000. tr.198-199, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2001)
Câu 2. Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn luận về sự phát triển như vũ bão của trí tuệ nhân tạo (AI).
Guide icon
Hướng dẫn giải
Câu 1.
a. Xác định đúng yêu cầu về hình thức, dung lượng:
- Yêu cầu về hình thức: đoạn văn.
- Dung lượng: 200 chữ.
Học sinh có thể trình bày theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: phân tích vẻ đẹp của mùa thu được thể hiện trong đoạn trích Thu Hà Nội (Hoàng Cát).
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận:
- Gợi ý:
+ Mùa thu Hà Nội hiện lên với vẻ đẹp rất đặc trưng: thời tiết se se lạnh, lá vàng xào xạc, chút nắng vàng phảng phất lúc trời chiều, hương sấu chín vàng ươm,...
+ Nghệ thuật: liệt kê, câu hỏi tu từ, nhân hóa, đảo cấu trúc,...
d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau:
- Lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
- Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.
- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
đ. Diễn đạt: đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết trong đoạn.
e. Sáng tạo: thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 2.
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài: nghị luận xã hội.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: sự phát triển như vũ bão của trí tuệ nhân tạo (AI).
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận:
- Xác định được các ý chính của bài viết.
- Sắp xếp được các ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận:
* Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của người viết về vấn đề.
* Triển khai vấn đề nghị luận:
+ Giải thích vấn đề nghị luận.
+ Thể hiện quan điểm của người viết, có thể theo một số gợi ý sau: sự phát triển như vũ bão của trí tuệ nhân tạo (AI) đã giúp cuộc sống của con người ngày càng tiện ích hơn, mới mẻ hơn, tiết kiệm được thời gian, công sức, tiền bạc,...; tuy nhiên, kéo theo đó, khi con người lạm dụng nó thì sẽ gây ra những tác hại như con người sống phụ thuộc, ỷ lại vào trí tuệ nhân tạo (AI),...
* Khẳng định lại quan điểm cá nhân đã trình bày và rút ra bài học cho bản thân.
d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau:
- Lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
- Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.
- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
đ. Diễn đạt: đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết trong đoạn.
e. Sáng tạo: thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
am khảo số 2
Bài GV giao
Bài 1
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5:
Đã có lần con khóc giữa chiêm bao
Khi hình mẹ hiện về năm khốn khó
Đồng sau lụt, bờ đê sụt lở
Mẹ gánh gồng xộc xệch hoàng hôn.
Anh em con chịu đói suốt ngày tròn
Trong chạng vạng ngồi co ro bậu cửa
Có gì nấu đâu mà nhóm lửa
Ngô hay khoai còn ở phía mẹ về…
Chiêm bao tan nước mắt dầm dề
Con gọi mẹ một mình trong đêm vắng
Dù tiếng lòng con chẳng thể nào vang vọng
Tới vuông đất mẹ nằm lưng núi quê hương.
(Trích Khóc giữa chiêm bao, Vương Trọng)
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên là gì?
Câu 2. Những từ ngữ, hình ảnh nào thể hiện năm khốn khó trong đoạn trích?
Câu 3. Chỉ ra và nêu tác dụng của một biện pháp tu từ trong hai dòng thơ sau:
Dù tiếng lòng con chẳng thể nào vang vọng
Tới vuông đất mẹ nằm lưng núi quê hương.
Câu 4. Anh/Chị hiểu nội dung dòng thơ sau như thế nào?
Mẹ gánh gồng xộc xệch hoàng hôn.
Câu 5. Thông điệp tâm đắc nhất mà anh/chị rút ra từ đoạn trích trên là gì? Nêu lí do anh/chị lựa chọn thông điệp đó.
Guide icon
Hướng dẫn giải
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích: biểu cảm.
Câu 2. Những từ ngữ, hình ảnh nào thể hiện năm khốn khó trong đoạn trích: đồng sau lụt, bờ đê sụt lở, gánh gồng xộc xệch, chịu đói suốt ngày tròn, ngồi co ro, có gì nấu đâu, ngô hay khoai còn ở phía mẹ về.
Câu 3. Gợi ý:
- Biện pháp tu từ ẩn dụ/nói giảm nói tránh: vuông đất - chỉ nấm mồ của mẹ.
- Tác dụng: gợi hình ảnh cụ thể, làm giảm sự đau xót khi nhớ về người mẹ đã qua đời.
Câu 4. Cách hiểu nội dung dòng thơ: Mẹ gánh gồng xộc xệch hoàng hôn:
- Hình ảnh người mẹ nghèo khổ suốt đời, tần tảo, chịu thương chịu khó trong cuộc mưu sinh để nuôi con nên người.
- Biểu hiện tình cảm thương xót, kính trọng dành cho mẹ của nhà thơ.
Câu 5. Thí sinh tự chọn một thông điệp tâm đắc nhất qua đoạn thơ và trình bày lí do chọn thông điệp đó sao cho hợp lí, không vi phạm chuẩn mực đạo đức và pháp luật. Sau đây là vài gợi ý về thông điệp:
- Tình mẫu tử là tình cảm thiêng liêng, xúc động nhất trong những tình cảm của con người.
- Cần biết trân trọng, yêu thương và biết ơn mẹ.
Bài 1
PHẦN I. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN (4.0 điểm )
Đọc văn bản sau:
NHÀN
Một mai(1), một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dầu ai(2) vui thú nào
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn, người đến chốn lao xao
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao
Rượu, đến cội cây(3), ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý, tựa chiêm bao(4).
(Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập II)
* Chú thích:
(1) Mai: dụng cụ đào đất, xới đất.
(2) Dầu ai: mặc cho ai, dù ai có cách vui thú nào cũng mặc, tôi cứ thơ thẩn( giữa cuộc đời này).
(3) Cội cây: gốc cây.
(4) Hai câu 7 và 8: tác giả có ý dẫn điển Thuần Vu Phần uống rượu say nằm ngủ dưới gốc cây hòe, rồi mơ thấy mình ở nước Hòe An được công danh phú quý rất mực vinh hiển. Sau bừng mắt tỉnh dậy thì hóa ra đó là giấc mộng, thấy dưới cánh hoè phía nam chỉ có một tổ kiến mà thôi. Từ đó điển này có ý: Phú quý chỉ là một giấc chiêm bao.
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:
Câu 1 (0.5 điểm): Xác định thể thơ của văn bản trên.
Câu 2 (0.75 điểm): Chỉ ra những hình ảnh nói về nét sinh hoạt hàng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả.
Câu 3 (0.75 điểm): Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê có trong hai câu thơ sau:
Một mai, một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào
Câu 4 (1.0 điểm): Quan niệm dại – khôn của tác giả trong hai câu thơ sau có gì đặc biệt?
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn, người đến chốn lao xao
Câu 5 (1.0 điểm): Từ văn bản trên, anh/chị cảm nhận như thế nào về vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm? (Viết đoạn văn ngắn khoảng 5 – 7 dòng)
Guide icon
Hướng dẫn giải
Câu 1. Thể thơ: thất ngôn bát cú Đường luật.
Câu 2. Những hình ảnh nói về nét sinh hoạt hàng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả: ăn măng trúc, ăn giá, tắm hồ sen, tắm ao.
Câu 3:
– Biện pháp tu từ liệt kê: Một mai, một cuốc, một cần câu.
– Tác dụng:
+ Tạo sự cân xứng, nhịp nhàng, hài hòa cho lời thơ.
+ Nhấn mạnh: sự lựa chọn phương châm sống, cách ứng xử của tác giả – chọn lối sống tĩnh tại, an nhàn; vừa thể hiện sắc thái trào lộng, mỉa mai đối với cách sống ham danh vọng, phú quý…
Câu 4:
Quan niệm khôn – dại của tác giả:
– Dại: “tìm nơi vắng vẻ” – nơi tĩnh tại của thiên nhiên, thảnh thơi của tâm hồn.
– Khôn: “đến chốn lao xao” – chốn cửa quyền bon chen, thủ đoạn sát phạt.
=> Đó là một cách nói ngược: khôn mà khôn dại, dại mà dại khôn của tác giả.
=>Thái độ tự tin vào sự lựa chọn của bản thân và hóm hỉnh mỉa mai quan niệm sống bon chen của thiên hạ.
Câu 5:
Một số gợi ý:
– Là người sống giản dị, thanh bạch.
– Là người có trí tuệ, cốt cách thanh cao.
– Là người bản lĩnh: coi thường danh lợi.
book-open
Bài làm của tôi
Sửa
3
Bài GV gi
Bài 1
PHẦN I. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN (4.0 điểm )
Đọc văn bản sau:
NHÀN
Một mai(1), một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dầu ai(2) vui thú nào
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn, người đến chốn lao xao
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao
Rượu, đến cội cây(3), ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý, tựa chiêm bao(4).
(Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập II)
* Chú thích:
(1) Mai: dụng cụ đào đất, xới đất.
(2) Dầu ai: mặc cho ai, dù ai có cách vui thú nào cũng mặc, tôi cứ thơ thẩn( giữa cuộc đời này).
(3) Cội cây: gốc cây.
(4) Hai câu 7 và 8: tác giả có ý dẫn điển Thuần Vu Phần uống rượu say nằm ngủ dưới gốc cây hòe, rồi mơ thấy mình ở nước Hòe An được công danh phú quý rất mực vinh hiển. Sau bừng mắt tỉnh dậy thì hóa ra đó là giấc mộng, thấy dưới cánh hoè phía nam chỉ có một tổ kiến mà thôi. Từ đó điển này có ý: Phú quý chỉ là một giấc chiêm bao.
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:
Câu 1 (0.5 điểm): Xác định thể thơ của văn bản trên.
Câu 2 (0.75 điểm): Chỉ ra những hình ảnh nói về nét sinh hoạt hàng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả.
Câu 3 (0.75 điểm): Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê có trong hai câu thơ sau:
Một mai, một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào
Câu 4 (1.0 điểm): Quan niệm dại – khôn của tác giả trong hai câu thơ sau có gì đặc biệt?
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn, người đến chốn lao xao
Câu 5 (1.0 điểm): Từ văn bản trên, anh/chị cảm nhận như thế nào về vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm? (Viết đoạn văn ngắn khoảng 5 – 7 dòng)
Guide icon
Hướng dẫn giải
Câu 1. Thể thơ: thất ngôn bát cú Đường luật.
Câu 2. Những hình ảnh nói về nét sinh hoạt hàng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả: ăn măng trúc, ăn giá, tắm hồ sen, tắm ao.
Câu 3:
– Biện pháp tu từ liệt kê: Một mai, một cuốc, một cần câu.
– Tác dụng:
+ Tạo sự cân xứng, nhịp nhàng, hài hòa cho lời thơ.
+ Nhấn mạnh: sự lựa chọn phương châm sống, cách ứng xử của tác giả – chọn lối sống tĩnh tại, an nhàn; vừa thể hiện sắc thái trào lộng, mỉa mai đối với cách sống ham danh vọng, phú quý…
Câu 4:
Quan niệm khôn – dại của tác giả:
– Dại: “tìm nơi vắng vẻ” – nơi tĩnh tại của thiên nhiên, thảnh thơi của tâm hồn.
– Khôn: “đến chốn lao xao” – chốn cửa quyền bon chen, thủ đoạn sát phạt.
=> Đó là một cách nói ngược: khôn mà khôn dại, dại mà dại khôn của tác giả.
=>Thái độ tự tin vào sự lựa chọn của bản thân và hóm hỉnh mỉa mai quan niệm sống bon chen của thiên hạ.
Câu 5:
Một số gợi ý:
– Là người sống giản dị, thanh bạch.
– Là người có trí tuệ, cốt cách thanh cao.
– Là người bản lĩnh: coi thường da
Bài 2
PHẦN II. LÀM VĂN (6.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm): Viết một đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về tầm quan trọng của lối sống chủ động trong cuộc sống ngày nay.
Câu 2 (4.0 điểm): Cảm nhận của anh/chị về văn bản sau:
Rồi hóng mát thuở ngày trường.
Hoè lục đùn đùn tán rợp trương.
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ.
Hồng liên trì đã tịn mùi hương.
Lao xao chợ cá làng ngư phủ;
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.
Lẽ có Ngu cầm đàn một tiếng,
Dân giàu đủ khắp đòi phương.
(Bảo kính cảnh giới (Gương báu răn mình) – Bài 43, Nguyễn Trãi,
Ngữ văn 10, Kết nối tri thức với cuộc sống, tập 2, NXB Giáo dục, 2022)
Guide icon
Hướng dẫn giải
Câu 1:
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài:
Xác định được yêu cầu của kiểu bài: nghị luận xã hội.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: tầm quan trọng của lối sống chủ động trong xã hội hiện nay.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp làm rõ vấn đề nghị luận:
HS có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần giới thiệu được vấn đề cần bàn luận, nêu rõ lí do và quan điểm của bản thân, hệ thống luận điểm chặt chẽ, lập luận thuyết phục, sử dụng dẫn chứng thuyết phục.
Sau đây là một hướng gợi ý:
– Mở đoạn: Dẫn dắt và giới thiệu vấn đề cần bàn luận (lối sống có trách nhiệm trong xã hội hiện nay).
– Thân đoạn:
+ Giải thích “lối sống chủ động” là gì.
+ Phân tích, lí giải và lấy dẫn chứng về vai trò của “lối sống chủ động” đối với mỗi người.
+ Mở rộng, phản đề.
+ Liên hệ và rút ra bài học.
– Kết đoạn: Khẳng định và đánh giá lại vấn đề cần bàn luận.
d. Viết đoạn văn cần đảm bảo các yêu cầu sau:
– Lựa chọn các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
– Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và bằng chứng.
đ. Diễn đạt:
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết các câu trong đoạn.
e. Sáng tạo:
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 2:
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài:
Xác định được yêu cầu của kiểu bài: nghị luận văn học.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: cảm nhận về bài thơ Bảo kính cảnh giới (Gương báu răn mình) – Bài số 43, Nguyễn Trãi.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp làm rõ vấn đề nghị luận:
Sau đây là một hướng gợi ý:
– Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm và vấn đề cần nghị luận.
– Thân bài: Phân tích bài thơ để làm rõ được các nội dung sau:
+ Tâm thế của tác giả: an nhàn, thảnh thơi, muốn hòa mình vào thiên nhiên.
+ Bức tranh cảnh ngày hè nơi làng quê: rực rỡ và căng tràn sức sống.
+ Bức tranh cuộc sống con người: sôi động, phong phú.
+ Tấm lòng yêu nước thương dân và mong ước của nhà thơ: nhân dân có cuộc sống hạnh phúc, no đủ.
+ Đánh giá khái quát về nội dung và nghệ thuật của bài thơ.
– Kết bài: Khẳng định lại vấn đề.
d. Viết đoạn văn cần đảm bảo các yêu cầu sau:
– Lựa chọn các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
– Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và bằng chứng.
đ. Diễn đạt:
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản.
e. Sáng tạo:
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
3
Bài GV gi
Bài 1
PHẦN I. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN (4.0 điểm )
Đọc văn bản sau:
NHÀN
Một mai(1), một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dầu ai(2) vui thú nào
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn, người đến chốn lao xao
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao
Rượu, đến cội cây(3), ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý, tựa chiêm bao(4).
(Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập II)
* Chú thích:
(1) Mai: dụng cụ đào đất, xới đất.
(2) Dầu ai: mặc cho ai, dù ai có cách vui thú nào cũng mặc, tôi cứ thơ thẩn( giữa cuộc đời này).
(3) Cội cây: gốc cây.
(4) Hai câu 7 và 8: tác giả có ý dẫn điển Thuần Vu Phần uống rượu say nằm ngủ dưới gốc cây hòe, rồi mơ thấy mình ở nước Hòe An được công danh phú quý rất mực vinh hiển. Sau bừng mắt tỉnh dậy thì hóa ra đó là giấc mộng, thấy dưới cánh hoè phía nam chỉ có một tổ kiến mà thôi. Từ đó điển này có ý: Phú quý chỉ là một giấc chiêm bao.
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:
Câu 1 (0.5 điểm): Xác định thể thơ của văn bản trên.
Câu 2 (0.75 điểm): Chỉ ra những hình ảnh nói về nét sinh hoạt hàng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả.
Câu 3 (0.75 điểm): Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê có trong hai câu thơ sau:
Một mai, một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào
Câu 4 (1.0 điểm): Quan niệm dại – khôn của tác giả trong hai câu thơ sau có gì đặc biệt?
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn, người đến chốn lao xao
Câu 5 (1.0 điểm): Từ văn bản trên, anh/chị cảm nhận như thế nào về vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm? (Viết đoạn văn ngắn khoảng 5 – 7 dòng)
Guide icon
Hướng dẫn giải
Câu 1. Thể thơ: thất ngôn bát cú Đường luật.
Câu 2. Những hình ảnh nói về nét sinh hoạt hàng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả: ăn măng trúc, ăn giá, tắm hồ sen, tắm ao.
Câu 3:
– Biện pháp tu từ liệt kê: Một mai, một cuốc, một cần câu.
– Tác dụng:
+ Tạo sự cân xứng, nhịp nhàng, hài hòa cho lời thơ.
+ Nhấn mạnh: sự lựa chọn phương châm sống, cách ứng xử của tác giả – chọn lối sống tĩnh tại, an nhàn; vừa thể hiện sắc thái trào lộng, mỉa mai đối với cách sống ham danh vọng, phú quý…
Câu 4:
Quan niệm khôn – dại của tác giả:
– Dại: “tìm nơi vắng vẻ” – nơi tĩnh tại của thiên nhiên, thảnh thơi của tâm hồn.
– Khôn: “đến chốn lao xao” – chốn cửa quyền bon chen, thủ đoạn sát phạt.
=> Đó là một cách nói ngược: khôn mà khôn dại, dại mà dại khôn của tác giả.
=>Thái độ tự tin vào sự lựa chọn của bản thân và hóm hỉnh mỉa mai quan niệm sống bon chen của thiên hạ.
Câu 5:
Một số gợi ý:
– Là người sống giản dị, thanh bạch.
– Là người có trí tuệ, cốt cách thanh cao.
– Là người bản lĩnh: coi thường da
am khảo số 3
Bài GV giao
Bài 1
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5:
Sau cánh rừng, sau cù lao, biển cả
Một ánh đèn sáng đến nơi con
Và lòng con yêu mến, xót thương hơn
Khi con nghĩ đến cuộc đời của mẹ
Khi con nhớ đến căn nhà nhỏ bé
Mẹ một mình đang dõi theo con
[...]
Đời mẹ như bến vắng bên sông
Nơi đón nhận những con thuyền tránh gió
Như cây tự quên mình trong quả
Quả chín rồi ai dễ nhớ ơn cây
Như trời xanh nhẫn nại sau mây
Con đường nhỏ dẫn về bao tổ ấm
Con muốn có lời gì đằm thắm
Ru tuổi già của mẹ tháng năm nay.
(Ý Nhi, Kính gửi mẹ, thivien.net)
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên.
Câu 2. Hình ảnh đời mẹ được so sánh với những sự vật, hiện tượng nào?
Câu 3. Xác định biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ Quả chín rồi ai dễ nhớ ơn cây và nêu tác dụng của biện pháp tu từ đó.
Câu 4. Anh/Chị hiểu như thế nào về nội dung hai dòng thơ sau?
Con muốn có lời gì đằm thắm
Ru tuổi già của mẹ tháng năm nay.
Câu 5. Anh/Chị rút ra bài học gì cho bản thân từ đoạn trích trên?
Guide icon
Hướng dẫn giải
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm.
Câu 2. Hình ảnh đời mẹ được so sánh với bến vắng bên sông, cây tự quên mình trong quả, trời xanh nhẫn nại sau mây.
Câu 3:
– Biện pháp tu từ ẩn dụ:
+ Quả chín: ẩn dụ cho sự khôn lớn, thành công của con cái.
+ cây: ẩn dụ cho hình ảnh người mẹ.
Quả chín rồi ai dễ nhớ ơn cây: khi lớn khôn, trưởng thành, mấy ai còn nhớ tới công lao chăm sóc, dưỡng dục của mẹ.
– Tác dụng của biện pháp tu từ ẩn dụ:
+ Giúp cho câu thơ trở nên gợi hình, gợi cảm hơn.
+ Khẳng định công lao to lớn của mẹ; đưa ra bức thông điệp về việc hãy biết ơn người mẹ đã sinh ra ta, nuôi nấng ta khôn lớn.
Câu 4. Hai dòng thơ Con muốn có lời gì đằm thắm/ Ru tuổi già của mẹ tháng năm nay khẳng định tình cảm yêu thương, trân trọng, quan tâm, lo lắng của người con đối với người mẹ.
Câu 5. Thí sinh rút ra bài học cho bản thân từ đoạn trích. Tham khảo: cần biết ơn công lao trời bể của mẹ, cần quan tâm, yêu thương mẹ mỗi ngày.
book-open
Bài làm của tôi
Sửa
am khảo số 3
Bài GV giao
Bài 1
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5:
Sau cánh rừng, sau cù lao, biển cả
Một ánh đèn sáng đến nơi con
Và lòng con yêu mến, xót thương hơn
Khi con nghĩ đến cuộc đời của mẹ
Khi con nhớ đến căn nhà nhỏ bé
Mẹ một mình đang dõi theo con
[...]
Đời mẹ như bến vắng bên sông
Nơi đón nhận những con thuyền tránh gió
Như cây tự quên mình trong quả
Quả chín rồi ai dễ nhớ ơn cây
Như trời xanh nhẫn nại sau mây
Con đường nhỏ dẫn về bao tổ ấm
Con muốn có lời gì đằm thắm
Ru tuổi già của mẹ tháng năm nay.
(Ý Nhi, Kính gửi mẹ, thivien.net)
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên.
Câu 2. Hình ảnh đời mẹ được so sánh với những sự vật, hiện tượng nào?
Câu 3. Xác định biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ Quả chín rồi ai dễ nhớ ơn cây và nêu tác dụng của biện pháp tu từ đó.
Câu 4. Anh/Chị hiểu như thế nào về nội dung hai dòng thơ sau?
Con muốn có lời gì đằm thắm
Ru tuổi già của mẹ tháng năm nay.
Câu 5. Anh/Chị rút ra bài học gì cho bản thân từ đoạn trích trên?
Guide icon
Hướng dẫn giải
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm.
Câu 2. Hình ảnh đời mẹ được so sánh với bến vắng bên sông, cây tự quên mình trong quả, trời xanh nhẫn nại sau mây.
Câu 3:
– Biện pháp tu từ ẩn dụ:
+ Quả chín: ẩn dụ cho sự khôn lớn, thành công của con cái.
+ cây: ẩn dụ cho hình ảnh người mẹ.
Quả chín rồi ai dễ nhớ ơn cây: khi lớn khôn, trưởng thành, mấy ai còn nhớ tới công lao chăm sóc, dưỡng dục của mẹ.
– Tác dụng của biện pháp tu từ ẩn dụ:
+ Giúp cho câu thơ trở nên gợi hình, gợi cảm hơn.
+ Khẳng định công lao to lớn của mẹ; đưa ra bức thông điệp về việc hãy biết ơn người mẹ đã sinh ra ta, nuôi nấng ta khôn lớn.
Câu 4. Hai dòng thơ Con muốn có lời gì đằm thắm/ Ru tuổi già của mẹ tháng năm nay khẳng định tình cảm yêu thương, trân trọng, quan tâm, lo lắng của người con đối với người mẹ.
Câu 5. Thí sinh rút ra bài học cho bản thân từ đoạn trích. Tham khảo: cần biết ơn công lao trời bể của mẹ, cần quan tâm, yêu thương mẹ mỗi ngày.
Bài 2
II. PHẦN VIẾT (6.0 ĐIỂM)
Câu 1. Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu cảm nhận về nhân vật cô Tâm trong truyện ngắn Cô hàng xén (Thạch Lam) sau:
Cô Tâm bớt mệt hẳn đi khi nhìn thấy cây đa và cái quán gạch lộ ra trong sương mù. Cùng một lúc, dãy tre đầu làng gần hẳn lại, cành tre nghiêng ngả dưới gió thổi và nghe thấy tiếng lá rào rào và tiếng thân tre cót két. Cô sắp về đến nhà rồi, gánh hàng trên vai nhẹ đi, và những cái uốn cong của đòn gánh bây giờ nhịp với chân cô bước mau. Cô thấy chắc dạ và ấm cúng trong lòng, bỏ hẳn nỗi lo sợ từ nãy vẫn quanh quẩn trong trí khi cô qua quãng đồng rộng, trơ gốc rạ dưới gió bấc vi vút từng cơn.
Qua cái cổng gạch cũ, cô vào hẳn trong làng. Ngõ tối hơn, đất mấp mô vì trâu bước, nhưng cô thuộc đường lối lắm. Chân cô dẫm lên lá tre khô và tai nghe tiếng xao xác đã quen; mùi bèo ở dưới ao và mùi rạ ướt đưa lên ẩm ướt. Ði ngang các nhà quen, cô thấy ánh sáng đèn chiếu qua rào, và tiếng những người quen thuộc ở trong đưa ra.
Cô Tâm lại nghĩ đến mình, mẹ già đang mong đợi và các em đang nóng ruột vì quà. Gói kẹo bỏng cô đã gói cẩn thận để ở dưới thúng, mỗi đứa sẽ được hai cái. Chắc hẳn chúng sẽ vui mừng lắm.
[...] Tâm đã bước xa rồi, hàng tre vi vút thêm, trời lại lấm tấm mưa lạnh rơi xuống mặt. Cô đi qua nhà bà cụ Nhiêu rồi về đến ngõ. Cánh cửa gỗ chưa đóng. Cô xoay đầu đòn gánh đẩy cửa rồi bước vào. Tất cả cái tối tăm rét mướt, và cánh đồng hoang vắng cô để lại ở ngoài. Ðây là nhà rồi. Mùi phân trâu nồng ấm sặc ngay vào cổ; thoáng qua, cô nghe tiếng chân trâu đập trong chuồng. Con vá thấy động sủa lên, rồi chạy lại vấp vào chân quấn quít. Trong nhà mấy đứa em reo:
– A, á. Chị Tâm đã về.
Tâm mỉm cười xoa đầu em. Cô sung sướng vì thấy mẹ săn sóc, các em mến yêu. Bao nhiêu nỗi mệt nhọc cô thấy tiêu tán cả. Những lúc này khiến cô quên hết cả bao nhiêu nỗi e ngại khó khăn. Cô thấy vui vẻ và nẩy nở trong thâm tâm những ý muốn tốt đẹp cho gia đình. Bà Tú lại âu yếm giục:
– Con ăn cơm đi, không đói. Thôi, hãy để đấy rồi bảo con sen nó cất cho có được không.
Tâm đáp: "vâng"; nhưng cô vẫn chưa lại ngồi ăn ngay. Cô còn thu xếp hàng đã; hai cái hộp gỗ vuông đựng các thức hàng, và những gói buộc kỹ trong thúng. Tất cả vốn liếng quý báu, bởi nhờ nó, cô kiếm lời nuôi các em, giúp đỡ cha mẹ từ ngày trong nhà sút đi và ông Tú ở trên tỉnh dọn về đã ba bốn năm nay rồi. Ruộng nương chỉ còn hơn mẫu, cấy đủ thóc ăn, và căn nhà gạch cũ này là nhà thờ, chung cả họ. Ông Tú độ mắt kém cũng thôi không dạy học nữa.
Bữa cơm ngon lành quá, Tâm ngồi ăn dưới con mắt hiền từ và thương mến của mẹ. Các em cô quây quần cả chung quanh, hỏi chuyện chợ búa của chị. Tâm ngắm nghía các nét mặt xinh xẻo, những con mắt ngây thơ lóng lánh dưới mái tóc tơ của các em: cô thấy lòng đầm ấm và tự kiêu, lòng người chị chịu khó nhọc để kiếm tiền nuôi các em ăn học. Cô hỏi han sách vở của thằng Lân và thằng Ái, học lớp ba ở trường làng. Ngày trước, thời còn sung túc, cô cũng đã cắp sách đi học và về nhà lại được ông Tú dạy thêm chữ nho. Nhưng đã lâu, cô rời bỏ quyển sách, để bước chân vào cuộc đời rộng rãi hơn, khó khăn và chặt chẽ. Buôn bán bây giờ mỗi ngày một chật vật, bởi cô vốn ít. Tất cả gánh hàng của Tâm chỉ đáng giá hai chục bạc.
Sáng sớm hôm sau, trong gió bấc lạnh, Tâm đã mở cổng gánh hàng lên chợ. Sương trắng còn đầy ở các ngõ trong làng; mùi rơm rác và cỏ ướt thoang thoảng bốc lên, mùi quen của quê hương và của đất mầu khiến Tâm thấy dễ chịu và thêm can đảm.
[...]
(Thạch Lam, Cô hàng xén, NXB Văn học, 2014, tr.171-187)
Câu 2. Viết bài văn (khoảng 600 chữ) bày tỏ ý kiến của anh/chị về niềm tin vào bản thân của giới trẻ hiện nay.
Guide icon
Hướng dẫn giải
Câu 1.
a. Xác định đúng yêu cầu về hình thức, dung lượng:
– Yêu cầu về hình thức: đoạn văn.
– Dung lượng: 200 chữ.
Thí sinh có thể trình bày theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: cảm nhận về nhân vật cô Tâm trong truyện Cô hàng xén (Thạch Lam).
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận:
– Xác định được các phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý:
+ Cô Tâm là một người vất vả, phải gồng gánh để nuôi cả gia đình.
+ Cô Tâm là một người con có hiếu với cha mẹ, là một người chị
+ Nghệ thuật khắc họa nhân vật: cách kể chuyện tự nhiên, ngôn ngữ giàu chất thơ,...
– Sắp xếp được hệ thống ý phù hợp với đặc điểm bố cục của kiểu đoạn văn.
d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau:
– Lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
– Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.
– Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
đ. Diễn đạt: đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết trong đoạn.
e. Sáng tạo: thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 2.
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài: nghị luận xã hội.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: bày tỏ ý kiến về niềm tin vào bản thân của giới trẻ hiện nay.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận:
– Xác định được các ý chính của bài viết.
– Sắp xếp được các ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận:
* Giới thiệu vấn đề nghị luận và quan điểm của bản thân về vấn đề.
* Triển khai vấn đề nghị luận:
– Giải thích vấn đề nghị luận.
– Thể hiện quan điểm của người viết, có thể theo một số gợi ý sau:
+ Niềm tin vào bản thân có vai trò vô cùng quan trọng, nó là động lực, là kim chỉ nam giúp con người tiến lên phía trước.
+ Tin vào bản thân, mỗi người sẽ tự tin phát huy thế mạnh của mình, mở rộng các mối quan hệ.
+ Nếu không có niềm tin vào bản thân, con người sẽ suốt đời sống trong e dè, sợ hãi, khó đạt được mục tiêu của mình.
– Mở rộng, trao đổi với quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác để có cái nhìn toàn diện.
* Khẳng định lại quan điểm cá nhân đã trình bày và rút ra bài học cho bản thân.
d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau:
– Lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
– Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.
– Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
Lưu ý: Thí sinh có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
đ. Diễn đạt: đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết trong đoạn.
e. Sáng tạo: thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
am khảo số 3
Bài GV giao
Bài 1
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5:
Sau cánh rừng, sau cù lao, biển cả
Một ánh đèn sáng đến nơi con
Và lòng con yêu mến, xót thương hơn
Khi con nghĩ đến cuộc đời của mẹ
Khi con nhớ đến căn nhà nhỏ bé
Mẹ một mình đang dõi theo con
[...]
Đời mẹ như bến vắng bên sông
Nơi đón nhận những con thuyền tránh gió
Như cây tự quên mình trong quả
Quả chín rồi ai dễ nhớ ơn cây
Như trời xanh nhẫn nại sau mây
Con đường nhỏ dẫn về bao tổ ấm
Con muốn có lời gì đằm thắm
Ru tuổi già của mẹ tháng năm nay.
(Ý Nhi, Kính gửi mẹ, thivien.net)
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên.
Câu 2. Hình ảnh đời mẹ được so sánh với những sự vật, hiện tượng nào?
Câu 3. Xác định biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ Quả chín rồi ai dễ nhớ ơn cây và nêu tác dụng của biện pháp tu từ đó.
Câu 4. Anh/Chị hiểu như thế nào về nội dung hai dòng thơ sau?
Con muốn có lời gì đằm thắm
Ru tuổi già của mẹ tháng năm nay.
Câu 5. Anh/Chị rút ra bài học gì cho bản thân từ đoạn trích trên?
Guide icon
Hướng dẫn giải
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm.
Câu 2. Hình ảnh đời mẹ được so sánh với bến vắng bên sông, cây tự quên mình trong quả, trời xanh nhẫn nại sau mây.
Câu 3:
– Biện pháp tu từ ẩn dụ:
+ Quả chín: ẩn dụ cho sự khôn lớn, thành công của con cái.
+ cây: ẩn dụ cho hình ảnh người mẹ.
Quả chín rồi ai dễ nhớ ơn cây: khi lớn khôn, trưởng thành, mấy ai còn nhớ tới công lao chăm sóc, dưỡng dục của mẹ.
– Tác dụng của biện pháp tu từ ẩn dụ:
+ Giúp cho câu thơ trở nên gợi hình, gợi cảm hơn.
+ Khẳng định công lao to lớn của mẹ; đưa ra bức thông điệp về việc hãy biết ơn người mẹ đã sinh ra ta, nuôi nấng ta khôn lớn.
Câu 4. Hai dòng thơ Con muốn có lời gì đằm thắm/ Ru tuổi già của mẹ tháng năm nay khẳng định tình cảm yêu thương, trân trọng, quan tâm, lo lắng của người con đối với người mẹ.
Câu 5. Thí sinh rút ra bài học cho bản thân từ đoạn trích. Tham khảo: cần biết ơn công lao trời bể của mẹ, cần quan tâm, yêu thương mẹ mỗi ngày.
am khảo số 5
Bài GV giao
Bài 1
(4.0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:
Đèn và trăng
Đây là một câu ca dao, cũng là một cuộc đối thoại tay ba nhiều kịch tính.
Thoạt đầu, đây là một cuộc tranh tài, khoe khôn, khoe giỏi của đèn và trăng (chắc là chẳng ai chịu kém cạnh, chẳng ai muốn thừa nhận bên kia). Nhân vật thứ ba, có thể gọi là trí khôn của nhân dân, phân xử bằng cách đặt ra cho mỗi bên một câu hỏi. Hỏi để được trả lời. Và có thể không trả lời cũng vẫn phải ngẫm nghĩ về câu hỏi ấy, rồi tự rút ra kết luận... Cái khéo của câu ca dao có kịch tính và triết lí chính ở chỗ này.
Đèn khoe đèn tỏ hơn trăng
Đèn ra trước gió được chăng hỡi đèn?
Trăng khoe trăng tỏ hơn đèn
Sao trăng lại phải chịu luồn đám mây?
Thế là ai cũng giỏi và ai cũng có những mặt kém. Chuyện trăng và đèn, cũng là chuyện con người thôi! Các cụ ngày xưa cũng dạy: Không ai vẹn mười cả (nhân vô thập toàn). Hiện đại hay cổ xưa, ở nơi này hay nơi khác, nhìn nhận và đánh giá con người, luôn là khó khăn. Nhìn nhận, quan trọng nhất là sắc sảo. Đánh giá, cần thiết là sự bao dung, có tình có lí. Chúng ta đều biết câu tục ngữ: "Năm ngón tay có ngón dài ngón ngắn.". Hình ảnh rõ và quá gần gũi. Triết lí thì sâu sắc. Ngay ngón tay trên bàn tay một con người còn rất khác nhau, nữa là con người trong xã hội. Xoè bàn tay nhìn, ta đã có một lời khuyên đầy nhân hậu, bao dung và cụ thể. Tuy nhiên, đôi với câu chuyện đèn và trăng thì sự gợi mở cho những suy nghĩ về bản thân là sâu sắc hơn cả. Sự tự nhìn nhận và đánh giá mình là yêu cầu thường xuyên, nhưng cũng là khó khăn nhất. Nếu bạn là trăng thì đâu là các loại mây có thể che mờ ánh sáng? Nếu là đèn (Ta nghĩ lại, cái đèn ở trong câu này là thứ đèn rất cổ. Có thể chỉ là một đĩa dầu - dầu lạc, dầu vừng,... với một sợi bấc đặt trong đĩa. Như câu này trong Kiều: "Tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao".) thì gió sẽ tự phía nào? Tránh gió chăng, hay che chắn cách nào?
Suy rộng ra, chuyện đèn và trăng chính là việc cần biết người, biết mình; mà quan trọng hơn là biết mình. Biết mình để làm gì? Chủ yếu để sửa mình. Đó là con đường chắc chắn nhất để phát triển, dù là một cá nhân, hay một nhóm, hay cả cộng đồng. Không tự biết mình, biết sai mà không sửa, đó chắc chắn là mầm sống của lụi tàn, thua kém, diệt vong,...
(Theo Phạm Đức, qdnd.vn, 28-2-2008)
Câu 1. Xác định kiểu văn bản của văn bản trên.
Câu 2. Vấn đề được đề cập đến trong văn bản là gì?
Câu 3. Để làm sáng tỏ cho vấn đề, tác giả đã sử dụng những bằng chứng nào?
Câu 4. Mục đích và nội dung của văn bản trên là gì?
Câu 5. Nhận xét cách lập luận của tác giả trong văn bản.
Guide icon
Hướng dẫn giải
Câu 1. (0.5 điểm)
Kiểu văn bản: Văn bản nghị luận.
Câu 2. (0.5 điểm)
Vấn đề được đề cập đến trong văn bản: Sự nhìn nhận, đánh giá bản thân và người khác một cách khách quan, bao dung.
Câu 3. (1.0 điểm)
Những bằng chứng được tác giả đưa ra là:
- Bằng chứng 1: Câu ca dao “Đèn khoe đèn tỏ hơn trăng/ Đèn ra trước gió được chăng hỡi đèn?/ Trăng khoe trăng tỏ hơn đèn/ Sao trăng lại phải chịu luồn đám mây?”.
- Bằng chứng 2: Câu tục ngữ “nhân vô thập toàn”, “Năm ngón tay có ngón dài ngón ngắn”.
Câu 4. (1.0 điểm)
- Mục đích: Thuyết phục người đọc cần có cái nhìn khách quan khi đánh giá người khác, tự nhìn nhận chính mình và có ý thức sửa đổi để phát triển.
- Nội dung: Qua câu chuyện về đèn và trăng, tác giả nhấn mạnh việc con người cần phải học cách nhìn nhận, đánh giá bản thân, người khác một cách khách quan, bao dung; quan trọng hơn là biết tự nhận thức để sửa đổi và phát triển.
Câu 5. (1.0 điểm)
Cách lập luận của tác giả trong văn bản rất chặt chẽ, thuyết phục vì:
- Tác giả đặt hai đối tượng “đèn” và “trăng” trong sự đối sánh để làm rõ ưu, nhược điểm của chúng.
- Tác giả sử dụng các bằng chứng quen thuộc, gần gũi trong cuộc sống người Việt như những câu ca dao, tục ngữ nhằm củng cố quan điểm về sự không hoàn hảo của “đèn”, “trăng”, cũng như sự không toàn vẹn của mỗi con người trong xã hội này, từ đó khơi gợi sự cần thiết của lòng bao dung và sự khách quan khi đánh giá.
- Tác giả đặt ra những câu hỏi gợi mở nhằm khơi gợi suy ngẫm của người đọc, thúc đẩy sự tự vấn và tự ý thức.
=> Từ việc phân tích câu ca dao, tác giả đã khái quát thành bài học sâu sắc về việc con người cần biết tự đánh giá bản thân để sửa đổi, phát triển. Đây là cách lập luận quy nạp, đi từ phân tích chi tiết đến kết luận tổng quát.
book-open
Bài làm của tôi
Sửa
am khảo số 5
Bài GV giao
Bài 1
(4.0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:
Đèn và trăng
Đây là một câu ca dao, cũng là một cuộc đối thoại tay ba nhiều kịch tính.
Thoạt đầu, đây là một cuộc tranh tài, khoe khôn, khoe giỏi của đèn và trăng (chắc là chẳng ai chịu kém cạnh, chẳng ai muốn thừa nhận bên kia). Nhân vật thứ ba, có thể gọi là trí khôn của nhân dân, phân xử bằng cách đặt ra cho mỗi bên một câu hỏi. Hỏi để được trả lời. Và có thể không trả lời cũng vẫn phải ngẫm nghĩ về câu hỏi ấy, rồi tự rút ra kết luận... Cái khéo của câu ca dao có kịch tính và triết lí chính ở chỗ này.
Đèn khoe đèn tỏ hơn trăng
Đèn ra trước gió được chăng hỡi đèn?
Trăng khoe trăng tỏ hơn đèn
Sao trăng lại phải chịu luồn đám mây?
Thế là ai cũng giỏi và ai cũng có những mặt kém. Chuyện trăng và đèn, cũng là chuyện con người thôi! Các cụ ngày xưa cũng dạy: Không ai vẹn mười cả (nhân vô thập toàn). Hiện đại hay cổ xưa, ở nơi này hay nơi khác, nhìn nhận và đánh giá con người, luôn là khó khăn. Nhìn nhận, quan trọng nhất là sắc sảo. Đánh giá, cần thiết là sự bao dung, có tình có lí. Chúng ta đều biết câu tục ngữ: "Năm ngón tay có ngón dài ngón ngắn.". Hình ảnh rõ và quá gần gũi. Triết lí thì sâu sắc. Ngay ngón tay trên bàn tay một con người còn rất khác nhau, nữa là con người trong xã hội. Xoè bàn tay nhìn, ta đã có một lời khuyên đầy nhân hậu, bao dung và cụ thể. Tuy nhiên, đôi với câu chuyện đèn và trăng thì sự gợi mở cho những suy nghĩ về bản thân là sâu sắc hơn cả. Sự tự nhìn nhận và đánh giá mình là yêu cầu thường xuyên, nhưng cũng là khó khăn nhất. Nếu bạn là trăng thì đâu là các loại mây có thể che mờ ánh sáng? Nếu là đèn (Ta nghĩ lại, cái đèn ở trong câu này là thứ đèn rất cổ. Có thể chỉ là một đĩa dầu - dầu lạc, dầu vừng,... với một sợi bấc đặt trong đĩa. Như câu này trong Kiều: "Tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao".) thì gió sẽ tự phía nào? Tránh gió chăng, hay che chắn cách nào?
Suy rộng ra, chuyện đèn và trăng chính là việc cần biết người, biết mình; mà quan trọng hơn là biết mình. Biết mình để làm gì? Chủ yếu để sửa mình. Đó là con đường chắc chắn nhất để phát triển, dù là một cá nhân, hay một nhóm, hay cả cộng đồng. Không tự biết mình, biết sai mà không sửa, đó chắc chắn là mầm sống của lụi tàn, thua kém, diệt vong,...
(Theo Phạm Đức, qdnd.vn, 28-2-2008)
Câu 1. Xác định kiểu văn bản của văn bản trên.
Câu 2. Vấn đề được đề cập đến trong văn bản là gì?
Câu 3. Để làm sáng tỏ cho vấn đề, tác giả đã sử dụng những bằng chứng nào?
Câu 4. Mục đích và nội dung của văn bản trên là gì?
Câu 5. Nhận xét cách lập luận của tác giả trong văn bản.
Guide icon
Hướng dẫn giải
Câu 1. (0.5 điểm)
Kiểu văn bản: Văn bản nghị luận.
Câu 2. (0.5 điểm)
Vấn đề được đề cập đến trong văn bản: Sự nhìn nhận, đánh giá bản thân và người khác một cách khách quan, bao dung.
Câu 3. (1.0 điểm)
Những bằng chứng được tác giả đưa ra là:
- Bằng chứng 1: Câu ca dao “Đèn khoe đèn tỏ hơn trăng/ Đèn ra trước gió được chăng hỡi đèn?/ Trăng khoe trăng tỏ hơn đèn/ Sao trăng lại phải chịu luồn đám mây?”.
- Bằng chứng 2: Câu tục ngữ “nhân vô thập toàn”, “Năm ngón tay có ngón dài ngón ngắn”.
Câu 4. (1.0 điểm)
- Mục đích: Thuyết phục người đọc cần có cái nhìn khách quan khi đánh giá người khác, tự nhìn nhận chính mình và có ý thức sửa đổi để phát triển.
- Nội dung: Qua câu chuyện về đèn và trăng, tác giả nhấn mạnh việc con người cần phải học cách nhìn nhận, đánh giá bản thân, người khác một cách khách quan, bao dung; quan trọng hơn là biết tự nhận thức để sửa đổi và phát triển.
Câu 5. (1.0 điểm)
Cách lập luận của tác giả trong văn bản rất chặt chẽ, thuyết phục vì:
- Tác giả đặt hai đối tượng “đèn” và “trăng” trong sự đối sánh để làm rõ ưu, nhược điểm của chúng.
- Tác giả sử dụng các bằng chứng quen thuộc, gần gũi trong cuộc sống người Việt như những câu ca dao, tục ngữ nhằm củng cố quan điểm về sự không hoàn hảo của “đèn”, “trăng”, cũng như sự không toàn vẹn của mỗi con người trong xã hội này, từ đó khơi gợi sự cần thiết của lòng bao dung và sự khách quan khi đánh giá.
- Tác giả đặt ra những câu hỏi gợi mở nhằm khơi gợi suy ngẫm của người đọc, thúc đẩy sự tự vấn và tự ý thức.
=> Từ việc phân tích câu ca dao, tác giả đã khái quát thành bài học sâu sắc về việc con người cần biết tự đánh giá bản thân để sửa đổi, phát triển. Đây là cách lập luận quy nạp, đi từ phân tích chi tiết đến kết luận tổng quát.
Bài 2
Câu 1. (2.0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về việc thấu hiểu chính mình.
Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) phân tích nội dung và nghệ thuật của văn bản sau đây.
CHUYỆN CỦA MẸ
Nguyễn Ba
mẹ có năm lần chia li
chồng mẹ ra đi
rồi hóa thành ngàn lau
bời bời nơi địa đầu Tây Bắc
đứa trai đầu
đã thành con sóng nát
trên dòng Thạch Hãn
hoàng hôn buông lại táp đỏ trời
đứa trai thứ hai
đã băng hết Trường Sơn
chết gần sát Sài Gòn
thịt xương nuôi mối vườn cao su Xuân Lộc
chị gái trước tôi
là dân công hoả tuyến
dầm suối làm cây mốc sống
dẫn xe bộ đội lội ngầm
tuổi thanh xuân nhiều mộng mơ của chị
xanh vào vời vợi trong xanh
tôi là mỏi mòn chờ đợi thứ năm
may mắn được trở về bên mẹ
tôi đi về bằng đôi mông đít
chân của tôi
đồng đội chôn trên đồi đất Vị Xuyên
đêm nào cũng lén tôi mẹ khóc
dù về sau đôi mắt bị loà
mẹ thương tôi không có đàn bà
mẹ lo mẹ chết đi
ai người nước nôi, cơm cháo
căn nhà tình nghĩa này
có đủ vững vàng mưa bão
đèn, lửa xóm giềng
chẳng ấm nỗi gối chăn
tôi gắng đùa vui
mong mẹ chút yên lòng
mẹ yêu của con ơi
không chỉ là mẹ của con
mẹ đã là
mẹ của non sông đất nước
cháu chắt của mẹ giờ líu lo
khắp ba miền Trung, Nam, Bắc
anh em của con tấp nập mọi miền
dân tộc mình
tồn tại đến giờ
nhờ đùm bọc, yêu thương
móm mém mẹ cười
khoé mắt loà khẽ sáng mấy giọt sương...
1-2021
Guide icon
Hướng dẫn giải
Câu 1. (2.0 điểm)
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn
- Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.
- Thí sinh có thể trình bày theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Việc thấu hiểu chính mình.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận
- Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý:
+ Giải thích: Thấu hiểu chính mình là quá trình nhận thức rõ điểm mạnh, điểm yếu, cảm xúc, suy nghĩ và giá trị của bản thân.
+ Ý nghĩa:
++ Giúp phát huy ưu điểm: Khi biết rõ thế mạnh, ta có thể tận dụng để đạt được thành công.
++ Khắc phục hạn chế: Nhận ra điểm yếu giúp ta sửa đổi, hoàn thiện bản thân.
++ Sống tự tin và hạnh phúc: Hiểu mình giúp ta đưa ra quyết định phù hợp, sống đúng với giá trị của bản thân.
++ …
+ Cách thấu hiểu chính mình: Tự trải nghiệm, suy ngẫm về chính mình; học cách ghi chép, lắng nghe cảm xúc của bản thân; học cách lắng nghe ý kiến đóng góp từ người khác, không ngừng học hỏi, trải nghiệm để khám phá những khả năng của bản thân;…
d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau
- Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
- Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.
- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
đ. Diễn đạt
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn.
e. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 2. (4.0 điểm)
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài
Xác định đúng yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận văn học.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích nội dung và nghệ thuật của bài thơ “Chuyện của mẹ”.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận
- Xác định được các ý chính của bài viết.
- Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận:
* Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.
* Thân bài: Triển khai vấn đề nghị luận:
- Thể hiện quan điểm của người viết, có thể theo một số gợi ý sau:
+ Về nội dung: Chuyện của mẹ được tái hiện qua những lần chia li, những mất mát to lớn mà cuộc đời mẹ phải chịu đựng:
++ Nỗi đau mất chồng nơi chiến trường Tây Bắc.
++ Con trai cả hi sinh trong cuộc chiến tại thành cổ Quảng Trị, bên dòng sông Thạch Hãn.
++ Con trai thứ hai ngã xuống ở chiến trường Xuân Lộc.
++ Người con gái hi sinh thân mình làm “cây mốc sống”.
++ Người con út may mắn sống sót quay về nhưng mang theo thương tật - mất đi đôi chân.
=> Chiến tranh đã làm cho một gia đình li tán, làm người mẹ phải chịu đựng bao cảnh chia li, nỗi đau đớn khi mất chồng, mất con.
=> Người mẹ hiện lên với sự hi sinh cao cả, tình yêu thương con sâu sắc, thiêng liêng khi đêm nào cũng khóc thương con, lo lắng mai này khi bà mất, đứa con út sẽ không có người săn sóc:
++ Người mẹ đã trở thành biểu tượng của sự hi sinh: “mẹ yêu của con ơi/ không chỉ là mẹ của con/ mẹ đã là
mẹ của non sông đất nước”. Những người thân của mẹ đã góp công, góp sức vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Mẹ đã hi sinh tình riêng vì vận mệnh của đất nước. Sự hi sinh ấy của mẹ là điều quý báu, thiêng liêng, không thể đong đếm được.
++ Tình yêu thương con của mẹ bao la: “mẹ thương tôi không có đàn bà/ mẹ lo mẹ chết đi/ ai người nước nôi, cơm cháo”. Dù đã già yếu nhưng người mẹ vẫn lo nghĩ cho con.
=> Lời an ủi của người con cho thấy nỗi đau cá nhân hòa cùng niềm tự hào dân tộc và niềm hi vọng vào tương lai. Hình ảnh “cháu chắt của mẹ giờ líu lo/ khắp ba miền Trung, Nam, Bắc” gợi lên sự tiếp nối giữa các thế hệ. Dù chiến tranh đã cướp đi nhiều thứ, nhưng cuộc sống vẫn tiếp diễn, những đứa trẻ khắp ba miền giờ đây lớn lên trong hòa bình, mang theo niềm tin và sự sống mới. Sự yên bình, hạnh phúc của thế hệ sau chính là sự bù đắp cho những mất mát, đau thương mà thời chiến tranh mang lại. Không những vậy, người con còn nhấn mạnh đến tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái của người Việt Nam để người mẹ nguôi ngoai phần nào nỗi lo cho người con tàn tật.
+ Nghệ thuật:
++ Thể thơ tự do, các chữ cái đứng đầu các dòng thơ đều không viết hoa, dấu ba chấm kết thúc bài thơ giúp cho bài thơ linh hoạt hơn trong việc thể hiện cảm xúc, đồng thời tạo cho bài thơ một hình thức độc đáo.
++ Kết cấu bài thơ như một câu chuyện với từng lớp thời gian và biến cố trong cuộc đời người mẹ được kể lại qua lời của người con.
++ Giọng thơ sâu lắng, vừa là lời kể lại, vừa là lời an ủi xen chút nghẹn ngào mà người con thấu cảm với những nỗi mất mát, đau đớn mà người mẹ phải chịu đựng trong suốt những năm tháng chiến tranh và thời hậu chiến.
++ Có sự kết hợp giữa các hình ảnh ẩn dụ như “ngàn lau” (gợi nên sự hoang vắng, tượng trưng cho những người lính đã ngã xuống nơi chiến trường Tây Bắc), “con sóng nát trên dòng Thạch Hãn” (gợi nên hình ảnh bi thương về sự hi sinh của người con cả), “mấy giọt sương” trong dòng thơ cuối (tượng trưng cho giọt nước mắt âm thầm của mẹ, cũng là niềm hi vọng vào thế hệ mai sau).
++ Có sự kết hợp giữa các biện pháp tu từ như nói giảm, nói tránh; liệt kê;…
(HS có thể khai thác thêm những yếu tố khác dựa trên hiểu biết của bản thân, sao cho có kiến giải hợp lí, thuyết phục.)
* Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận.
d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau
- Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
- Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.
- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
đ. Diễn đạt
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản.
e. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
am khảo số 5
Bài GV giao
Bài 1
(4.0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:
Đèn và trăng
Đây là một câu ca dao, cũng là một cuộc đối thoại tay ba nhiều kịch tính.
Thoạt đầu, đây là một cuộc tranh tài, khoe khôn, khoe giỏi của đèn và trăng (chắc là chẳng ai chịu kém cạnh, chẳng ai muốn thừa nhận bên kia). Nhân vật thứ ba, có thể gọi là trí khôn của nhân dân, phân xử bằng cách đặt ra cho mỗi bên một câu hỏi. Hỏi để được trả lời. Và có thể không trả lời cũng vẫn phải ngẫm nghĩ về câu hỏi ấy, rồi tự rút ra kết luận... Cái khéo của câu ca dao có kịch tính và triết lí chính ở chỗ này.
Đèn khoe đèn tỏ hơn trăng
Đèn ra trước gió được chăng hỡi đèn?
Trăng khoe trăng tỏ hơn đèn
Sao trăng lại phải chịu luồn đám mây?
Thế là ai cũng giỏi và ai cũng có những mặt kém. Chuyện trăng và đèn, cũng là chuyện con người thôi! Các cụ ngày xưa cũng dạy: Không ai vẹn mười cả (nhân vô thập toàn). Hiện đại hay cổ xưa, ở nơi này hay nơi khác, nhìn nhận và đánh giá con người, luôn là khó khăn. Nhìn nhận, quan trọng nhất là sắc sảo. Đánh giá, cần thiết là sự bao dung, có tình có lí. Chúng ta đều biết câu tục ngữ: "Năm ngón tay có ngón dài ngón ngắn.". Hình ảnh rõ và quá gần gũi. Triết lí thì sâu sắc. Ngay ngón tay trên bàn tay một con người còn rất khác nhau, nữa là con người trong xã hội. Xoè bàn tay nhìn, ta đã có một lời khuyên đầy nhân hậu, bao dung và cụ thể. Tuy nhiên, đôi với câu chuyện đèn và trăng thì sự gợi mở cho những suy nghĩ về bản thân là sâu sắc hơn cả. Sự tự nhìn nhận và đánh giá mình là yêu cầu thường xuyên, nhưng cũng là khó khăn nhất. Nếu bạn là trăng thì đâu là các loại mây có thể che mờ ánh sáng? Nếu là đèn (Ta nghĩ lại, cái đèn ở trong câu này là thứ đèn rất cổ. Có thể chỉ là một đĩa dầu - dầu lạc, dầu vừng,... với một sợi bấc đặt trong đĩa. Như câu này trong Kiều: "Tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao".) thì gió sẽ tự phía nào? Tránh gió chăng, hay che chắn cách nào?
Suy rộng ra, chuyện đèn và trăng chính là việc cần biết người, biết mình; mà quan trọng hơn là biết mình. Biết mình để làm gì? Chủ yếu để sửa mình. Đó là con đường chắc chắn nhất để phát triển, dù là một cá nhân, hay một nhóm, hay cả cộng đồng. Không tự biết mình, biết sai mà không sửa, đó chắc chắn là mầm sống của lụi tàn, thua kém, diệt vong,...
(Theo Phạm Đức, qdnd.vn, 28-2-2008)
Câu 1. Xác định kiểu văn bản của văn bản trên.
Câu 2. Vấn đề được đề cập đến trong văn bản là gì?
Câu 3. Để làm sáng tỏ cho vấn đề, tác giả đã sử dụng những bằng chứng nào?
Câu 4. Mục đích và nội dung của văn bản trên là gì?
Câu 5. Nhận xét cách lập luận của tác giả trong văn bản.
Guide icon
Hướng dẫn giải
Câu 1. (0.5 điểm)
Kiểu văn bản: Văn bản nghị luận.
Câu 2. (0.5 điểm)
Vấn đề được đề cập đến trong văn bản: Sự nhìn nhận, đánh giá bản thân và người khác một cách khách quan, bao dung.
Câu 3. (1.0 điểm)
Những bằng chứng được tác giả đưa ra là:
- Bằng chứng 1: Câu ca dao “Đèn khoe đèn tỏ hơn trăng/ Đèn ra trước gió được chăng hỡi đèn?/ Trăng khoe trăng tỏ hơn đèn/ Sao trăng lại phải chịu luồn đám mây?”.
- Bằng chứng 2: Câu tục ngữ “nhân vô thập toàn”, “Năm ngón tay có ngón dài ngón ngắn”.
Câu 4. (1.0 điểm)
- Mục đích: Thuyết phục người đọc cần có cái nhìn khách quan khi đánh giá người khác, tự nhìn nhận chính mình và có ý thức sửa đổi để phát triển.
- Nội dung: Qua câu chuyện về đèn và trăng, tác giả nhấn mạnh việc con người cần phải học cách nhìn nhận, đánh giá bản thân, người khác một cách khách quan, bao dung; quan trọng hơn là biết tự nhận thức để sửa đổi và phát triển.
Câu 5. (1.0 điểm)
Cách lập luận của tác giả trong văn bản rất chặt chẽ, thuyết phục vì:
- Tác giả đặt hai đối tượng “đèn” và “trăng” trong sự đối sánh để làm rõ ưu, nhược điểm của chúng.
- Tác giả sử dụng các bằng chứng quen thuộc, gần gũi trong cuộc sống người Việt như những câu ca dao, tục ngữ nhằm củng cố quan điểm về sự không hoàn hảo của “đèn”, “trăng”, cũng như sự không toàn vẹn của mỗi con người trong xã hội này, từ đó khơi gợi sự cần thiết của lòng bao dung và sự khách quan khi đánh giá.
- Tác giả đặt ra những câu hỏi gợi mở nhằm khơi gợi suy ngẫm của người đọc, thúc đẩy sự tự vấn và tự ý thức.
=> Từ việc phân tích câu ca dao, tác giả đã khái quát thành bài học sâu sắc về việc con người cần biết tự đánh giá bản thân để sửa đổi, phát triển. Đây là cách lập luận quy nạp, đi từ phân tích chi tiết đến kết luận tổng quát.
am khảo số 6
Bài GV giao
Bài 1
(4.0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:
Bạn có từng đôi lần như thế?
Khước từ sự vận động. Tìm quên trong những giấc ngủ vùi. Tìm sự an toàn trong vẻ ngoan ngoãn bất động khiến người thân phải đau lòng. Bỏ quên những khát khao dài rộng. Bải hoải trong tháng ngày chật hẹp?
Như dòng sông chưa ra được biển rộng đã lịm trong đầm lầy? Như dòng sông muộn phiền quanh vách núi?
Như chính cái đầm lầy?
Như cái hồ dài kì dị sống đời thực vật?
Sông như đời người. Và sông phải chảy. Như tuổi trẻ phải hướng ra biển rộng. Còn gì buồn hơn khi ta sớm phải làm một dòng sông muộn phiền. Khước từ trải nghiệm. Khước từ nắng gió. Khước từ đi tới. Khước từ sự vận động.
Không thể thế bởi mỗi ngày ta phải bước đi như nghe trong mình tiếng gọi chảy đi sông ơi. Như dòng sông tha thiết trôi.
(Trích Ngày trong sương mù - Hà Nhân, NXB Văn học, 2016, tr.38)
Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản.
Câu 2. Chỉ ra hai lối sống mà con người đã từng đôi lần trải qua được tác giả nêu trong đoạn trích.
Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn: “Sông như đời người. Và sông phải chảy. Như tuổi trẻ phải hướng ra biển rộng.”.
Câu 4. Em hiểu như thế nào về “tiếng gọi chảy đi sông ơi” được nhắc đến trong câu văn: “Không thể thế bởi mỗi ngày ta phải bước đi như nghe trong mình tiếng gọi chảy đi sông ơi.”?
Câu 5. Từ nội dung văn bản, em rút ra được bài học nào? Vì sao?
Guide icon
Hướng dẫn giải
Câu 1. (0.5 điểm)
Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận.
Câu 2. (0.5 điểm)
Hai lối sống mà con người từng đôi lần trải qua được tác giả nêu trong đoạn trích:
- Lối sống buông xuôi, trì trệ, khước từ sự vận động.
- Lối sống chấp nhận sự an toàn trong thụ động, bỏ quên khát khao và ước mơ.
Câu 3. (1.0 điểm)
- Biện pháp tu từ được sử dụng: So sánh.
- Tác dụng: Giúp người đọc có được hình dung cụ thể, sinh động về cuộc đời con người; đồng thời nhấn mạnh thông điệp, lời khích lệ của tác giả rằng chúng ta cần không ngừng vận động, nỗ lực để vươn xa hơn trong cuộc đời.
Câu 4. (1.0 điểm)
- HS trả lời theo cách hiểu của bản thân và có lí giải hợp lí.
- Ví dụ: "Tiếng gọi chảy đi sông ơi" là một hình ảnh ẩn dụ thể hiện khát vọng sống mãnh liệt trong mỗi con người. Đó là lời thúc giục từ sâu thẳm bên trong, thôi thúc ta không ngừng tiến về phía trước, vượt qua sự trì trệ và vùng an toàn để khám phá những chân trời mới. Tiếng gọi ấy đại diện cho ý chí vươn lên, khao khát trải nghiệm và khẳng định bản thân, giống như dòng sông luôn chảy về biển lớn, không ngừng vận động để tìm đến những điều rộng lớn hơn, ý nghĩa hơn trong cuộc sống.
Câu 5. (1.0 điểm)
- HS rút ra bài học cho bản thân và đưa ra lí giải hợp lí.
- Ví dụ: Qua văn bản, em rút ra được bài học cho chính mình đó là cần biết sống chủ động, tích cực hơn, không ngừng vận động, nỗ lực vươn lên, vượt thoát khỏi vùng an toàn để có thể chạm tay đến thành công. Bởi cuộc sống chỉ thực sự có ý nghĩa khi mỗi cá nhân vận động, không ngừng phát triển, giống như con sông cần chảy ra biển lớn, tuổi trẻ cần vươn xa để khẳng định bản thân.
book-open
Bài làm của tôi
Sửa
am khảo số 6
Bài GV giao
Bài 1
(4.0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:
Bạn có từng đôi lần như thế?
Khước từ sự vận động. Tìm quên trong những giấc ngủ vùi. Tìm sự an toàn trong vẻ ngoan ngoãn bất động khiến người thân phải đau lòng. Bỏ quên những khát khao dài rộng. Bải hoải trong tháng ngày chật hẹp?
Như dòng sông chưa ra được biển rộng đã lịm trong đầm lầy? Như dòng sông muộn phiền quanh vách núi?
Như chính cái đầm lầy?
Như cái hồ dài kì dị sống đời thực vật?
Sông như đời người. Và sông phải chảy. Như tuổi trẻ phải hướng ra biển rộng. Còn gì buồn hơn khi ta sớm phải làm một dòng sông muộn phiền. Khước từ trải nghiệm. Khước từ nắng gió. Khước từ đi tới. Khước từ sự vận động.
Không thể thế bởi mỗi ngày ta phải bước đi như nghe trong mình tiếng gọi chảy đi sông ơi. Như dòng sông tha thiết trôi.
(Trích Ngày trong sương mù - Hà Nhân, NXB Văn học, 2016, tr.38)
Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản.
Câu 2. Chỉ ra hai lối sống mà con người đã từng đôi lần trải qua được tác giả nêu trong đoạn trích.
Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn: “Sông như đời người. Và sông phải chảy. Như tuổi trẻ phải hướng ra biển rộng.”.
Câu 4. Em hiểu như thế nào về “tiếng gọi chảy đi sông ơi” được nhắc đến trong câu văn: “Không thể thế bởi mỗi ngày ta phải bước đi như nghe trong mình tiếng gọi chảy đi sông ơi.”?
Câu 5. Từ nội dung văn bản, em rút ra được bài học nào? Vì sao?
Guide icon
Hướng dẫn giải
Câu 1. (0.5 điểm)
Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận.
Câu 2. (0.5 điểm)
Hai lối sống mà con người từng đôi lần trải qua được tác giả nêu trong đoạn trích:
- Lối sống buông xuôi, trì trệ, khước từ sự vận động.
- Lối sống chấp nhận sự an toàn trong thụ động, bỏ quên khát khao và ước mơ.
Câu 3. (1.0 điểm)
- Biện pháp tu từ được sử dụng: So sánh.
- Tác dụng: Giúp người đọc có được hình dung cụ thể, sinh động về cuộc đời con người; đồng thời nhấn mạnh thông điệp, lời khích lệ của tác giả rằng chúng ta cần không ngừng vận động, nỗ lực để vươn xa hơn trong cuộc đời.
Câu 4. (1.0 điểm)
- HS trả lời theo cách hiểu của bản thân và có lí giải hợp lí.
- Ví dụ: "Tiếng gọi chảy đi sông ơi" là một hình ảnh ẩn dụ thể hiện khát vọng sống mãnh liệt trong mỗi con người. Đó là lời thúc giục từ sâu thẳm bên trong, thôi thúc ta không ngừng tiến về phía trước, vượt qua sự trì trệ và vùng an toàn để khám phá những chân trời mới. Tiếng gọi ấy đại diện cho ý chí vươn lên, khao khát trải nghiệm và khẳng định bản thân, giống như dòng sông luôn chảy về biển lớn, không ngừng vận động để tìm đến những điều rộng lớn hơn, ý nghĩa hơn trong cuộc sống.
Câu 5. (1.0 điểm)
- HS rút ra bài học cho bản thân và đưa ra lí giải hợp lí.
- Ví dụ: Qua văn bản, em rút ra được bài học cho chính mình đó là cần biết sống chủ động, tích cực hơn, không ngừng vận động, nỗ lực vươn lên, vượt thoát khỏi vùng an toàn để có thể chạm tay đến thành công. Bởi cuộc sống chỉ thực sự có ý nghĩa khi mỗi cá nhân vận động, không ngừng phát triển, giống như con sông cần chảy ra biển lớn, tuổi trẻ cần vươn xa để khẳng định bản thân.
Bài 2
Câu 1. (2.0 điểm) Mark Twain từng nói: “Hai mươi năm sau bạn sẽ hối hận vì những gì bạn đã không làm, hơn là những gì bạn đã làm. Vậy nên hãy tháo dây, nhổ neo và ra khỏi bến đỗ an toàn.”. Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về nhận định trên.
Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) phân tích nhân vật người mẹ trong đoạn trích sau:
[Lược một đoạn: Câu chuyện xoay quanh nhân vật chính tên Tâm, được người mẹ tần tảo sớm khuya nuôi dạy nên người. Tuy nhiên, khi được ra thành phố học tập và làm việc, trong suốt sáu năm, anh chỉ gửi tiền hàng tháng về cho mẹ, không báo tin mình đã lấy vợ và tuyệt nhiên không một lời hỏi thăm, không để tâm đến những bức thư mẹ gửi từ quê ra. Khi bất đắc dĩ có việc phải về nhà, anh mới có dịp gặp lại mẹ…].
Khi vào đến sân nhà, Tâm thấy bốn bề yên lặng, không có bóng người. Cái nhà cũ vẫn như trước, không thay đổi, chỉ có sụp thấp hơn một chút và mái gianh xơ xác hơn. Tâm bước qua sân rồi đẩy cái liếp bước vào. Vẫn cái gian nhà mà chàng đã sống từ thuở nhỏ. Tâm cất tiếng gọi. Chàng nghe thấy tiếng guốc đi, vẫn cái tiếng guốc ấy, thong thả và chậm hơn trước, rồi mẹ Tâm bước vào. Bà cụ đã già đi nhiều, nhưng vẫn mặc cái bộ áo cũ kỹ như mấy năm về trước.
Khi nhận ra con, bà cụ ứa nước mắt:
- Con đã về đấy ư?
- Vâng, chính tôi đây, bà vẫn được mạnh khỏe đấy chứ? - Câu nói như khó khăn mới ra khỏi miệng được.
- Bà ở đây một mình thôi à?
Bà cụ cảm động đến nỗi không nói được. Một lát bà mới ấp úng:
- Vẫn có con Trinh nó ở đây với tôi.
- Cô Trinh nào? Có phải cô Trinh con bác Cả không? - Tâm nhớ mang máng cái cô con gái bé nhỏ ngày trước vẫn hay chơi với chàng.
- Tôi tưởng cô ta đi lấy chồng rồi.
Bà cụ ngồi xuống chiếc phản gỗ, đáp:
- Đã lấy ai đâu. Con bé dở hơi chết đi ấy mà. Cũng đã có mấy đám hỏi, mà nó không chịu lấy. - Bà cụ yên lặng một lát.
- Thỉnh thoảng nó vẫn nhắc đến cậu đấy.
Tâm nhún vai, không trả lời. Tuy ngoài trời nắng, mà Tâm thấy bên trong cái ẩm thấp hình như ở khắp tường lan xuống, thấm vào người.
Bà cụ âu yếm nhìn con, săn sóc hỏi:
- Năm ngoái bác Cả lên tỉnh về bảo cậu ốm. Tôi lo quá, nhưng quê mùa chả biết tỉnh thế nào mà đi, thành ra không dám lên thăm. Bây giờ cậu đã khỏe hẳn chưa?
Tâm nhìn ra ngoài đáp:
- Như thường rồi. Rồi muốn nói sang chuyện khác, Tâm hỏi:
- Ở làng có việc gì lạ không? - Bà cụ trả lời:
- Chả việc gì lạ sất, ngày nào cũng như ngày nào, nhưng được có con Trinh sang đây với tôi nên cũng đỡ buồn. Nó thường vẫn làm giúp tôi nhiều công việc, con bé thế mà đảm đang đáo để, đã chịu khó lại hay làm. […]
Tâm lơ đãng nghe lời mẹ kể những công việc và cách làm ăn ngày một khó khăn ở làng. Chàng dửng dưng không để ý đến. Con bác Cả Sinh lấy vợ, hay chú bác ta chết thì có can hệ gì đến chàng? Cái đời ở thôn quê với đời của chàng, chắc chắn, giàu sang, không có liên lạc gì với nhau cả. Câu chuyện nhạt dần. Những câu hỏi và sự săn sóc của bà cụ về công việc của chàng chỉ làm cho Tâm khó chịu. Chàng trả lời qua loa lấy lệ. Nghĩ đến vợ đợi, Tâm vội vàng đứng dậy.
Bà cụ nhìn theo khẩn khoản:
- Cậu hãy ở đây ăn cơm đã. Đến chiều hãy ra.
- Thôi, bà để tôi về. Độ này bận công việc lắm. - Tâm lại an ủi:
- Nhưng thế nào có dịp tôi cũng về.
Rồi Tâm mở ví lấy ra bốn tấm giấy bạc 5 đồng đưa cho mẹ. Tâm hơi kiêu ngạo, trước mặt cô Trinh, chàng nói:
- Đúng hai chục, bà cầm lấy mà tiêu, có thiếu tôi lại gửi về cho. - Bà cụ run run đỡ lấy gói bạc, rơm rớm nước mắt.
Tâm làm như không thấy gì, vội vàng bước ra. […] Ra đến ngoài Tâm nhẹ hẳn mình. Chàng tự cho là đã làm xong bổn phận.
(Trích Trở về, Tuyển tập Thạch Lam, NXB Văn học, 2004, tr.24-27.)
* Chú thích:
- Nhà văn Thạch Lam là cây bút xuất sắc trong nhóm Tự lực văn đoàn. Ông sinh năm 1910 tại Hà Nội, tên khai sinh là Nguyễn Tường Vinh, sau đổi tên là Nguyễn Tường Lân, bút danh Thạch Lam.
- Tác phẩm hướng về đời sống bình dị, tình cảm nghiêng về người nghèo, đặc biệt là người phụ nữ trong xã hội cũ. Lối viết trữ tình hướng nội, khơi sâu vào đời sống bên trong với những rung động và cảm giác tế vi.
Guide icon
Hướng dẫn giải
Câu 1. (2.0 điểm)
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn
- Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.
- Thí sinh có thể trình bày theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Việc thấu hiểu chính mình.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận
- Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý:
+ Giải thích:
++ “Bến đỗ an toàn”: Tượng trưng cho sự ổn định, an toàn nhưng về lâu dài sẽ sinh ra sự trì trệ, sợ hãi sự thay đổi.
++ “Tháo dây, nhổ neo”: Là hành động can đảm, dám bước ra khỏi vùng an toàn để theo đuổi đam mê, khám phá những chân trời mới.
=> Nhận định của Mark Twain nhấn mạnh đến việc can đam bước ra vùng an toàn để khám phá thế giới, phá vỡ những giới hạn của bản thân.
+ Bàn luận:
++ Cuộc sống của mỗi cá nhân chỉ thực sự có ý nghĩa khi chúng ta vận động, không ngừng nỗ lực, phá vỡ những giới hạn của bản thân, khám phá những chân trời mới. Bởi nếu chúng ta cứ mãi an phận tại “bến đỗ an toàn”, chúng ta sẽ bỏ lỡ nhiều cơ hội. Để rồi, khi nhìn lại, chúng ta sẽ sống trong sự day dứt, tiếc nuối vì đã bỏ lỡ những điều đã qua hơn là chịu đựng nỗi đau nếu thất bại.
++ Thực tế cho thấy những người thành công đều sở hữu sự kiên trì, bền bỉ và sự can đảm, dám mạo hiểm, chấp nhận thử thách để chinh phục mục tiêu. Ví dụ: Nhà sáng tạo nội dung kênh Giang ơi đã chấp nhận từ bỏ công việc trong ngành truyền thông ở Anh, quyết định trở về Việt Nam để thử sức trong lĩnh vực sáng tạo nội dung trên YouTube. Sự can đảm, dám từ chối một công việc thu nhập cao và cuộc sống đầy hứa hẹn của chị đã giúp chị trở thành một trong những YouTuber truyền cảm hứng tích cực được yêu thích nhất tại Việt Nam.
++ Tuy nhiên, việc can đảm bước ra khỏi vùng an toàn vẫn còn là một việc khó khăn. Bởi nếu không có sự cân nhắc, tính toán kĩ lưỡng, chúng ta sẽ dễ dàng thất bại, mất phương hướng,…
(HS nêu quan điểm cá nhân, rút ra bài học cho chính mình và đưa ra các giải pháp hợp lí.)
d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau
- Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
- Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.
- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
đ. Diễn đạt
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn.
e. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 2. (4.0 điểm)
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài
Xác định đúng yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận văn học.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích nội dung và nghệ thuật của bài thơ “Chuyện của mẹ”.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận
- Xác định được các ý chính của bài viết.
- Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận:
* Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.
* Thân bài: Triển khai vấn đề nghị luận:
- Thể hiện quan điểm của người viết, có thể theo một số gợi ý sau:
+ Gia cảnh: Nghèo khó, sống lẻ loi, cô đơn, không nhận được nhiều sự quan tâm, chăm sóc của người con trai duy nhất.
+ Phẩm chất:
++ Là một người mẹ nhân hậu, giàu tình yêu thương con: Dù con trai sau sáu năm mới quay về thăm nhà, bà vẫn không một lời trách cứ mà vẫn ân cần, quan tâm hỏi thăm sức khỏe của con; xa cách lâu ngày, bà rất muốn được ăn cùng con một bữa cơm, khát khao được gần gũi con; xúc động khi nhận được món quà hiếm hoi của người con dù con có cử chỉ vô tâm, kiêu bạc, thờ ơ.
++ Là một người mẹ giàu lòng vị tha, bao dung, giàu đức hi sinh: Tuy đứa con trai duy nhất thờ ơ, lạnh nhạt với bà nhưng khi gặp lại con, bà vẫn trao cho con tình yêu thương chân thành, sâu sắc mà chẳng một lời oán trách; lặng thầm chi chút, lo giữ cơ hội hạnh phúc (với cô Trinh) cho con, dù người con vô tâm không đoái hoài; đơn độc, âm thầm mong nhớ con, ra ga tàu để được ngắm nhìn con thêm một chút.
=> Nhận xét: Người mẹ mang đậm những nét đẹp phẩm chất của người phụ nữ Việt Nam: Bao dung, âm thầm hi sinh cho con, yêu thương con hết mực,…
+ Nghệ thuật xâu dựng nhân vật:
++ Nhân vật được xây dựng chủ yếu thông qua các yếu tố như gia cảnh, hành động, lời nói, cử chỉ, tâm trạng. Qua những yếu tố đó, tác giả đã khắc họa thành công chân dung một người phụ nữ đơn độc, đáng thương với lòng thương yêu con sâu sắc.
++ Nhân vật được thể hiện thông qua điểm nhìn của nhân vật Tâm và của người kể chuyện, giúp người đọc hình dung được sâu sắc, chân thực hơn những phẩm chất của người mẹ.
=> Nhận xét: Thông qua nhân vật này, Thạch Lam đã thể hiện được tấm lòng nhân đạo sâu sắc khi hướng ngòi bút đến những số phận nhỏ nhoi, bị quên lãng,… Từ đó, ông khơi lên trong lòng bạn đọc sự đồng cảm, tình yêu thương đối với những người mẹ đáng thương, bất hạnh; ý thức trân trọng tình cảm gia đình thiêng liêng và nhắc nhở mỗi người con cần biết làm tròn đạo hiếu, đạo nghĩa ở đời.
(HS có thể khai thác thêm những yếu tố khác dựa trên hiểu biết của bản thân, sao cho có lí giải hợp lí, thuyết phục.)
* Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận.
d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau
- Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
- Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.
- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
đ. Diễn đạt
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản.
e. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
am khảo số 6
Bài GV giao
Bài 1
(4.0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:
Bạn có từng đôi lần như thế?
Khước từ sự vận động. Tìm quên trong những giấc ngủ vùi. Tìm sự an toàn trong vẻ ngoan ngoãn bất động khiến người thân phải đau lòng. Bỏ quên những khát khao dài rộng. Bải hoải trong tháng ngày chật hẹp?
Như dòng sông chưa ra được biển rộng đã lịm trong đầm lầy? Như dòng sông muộn phiền quanh vách núi?
Như chính cái đầm lầy?
Như cái hồ dài kì dị sống đời thực vật?
Sông như đời người. Và sông phải chảy. Như tuổi trẻ phải hướng ra biển rộng. Còn gì buồn hơn khi ta sớm phải làm một dòng sông muộn phiền. Khước từ trải nghiệm. Khước từ nắng gió. Khước từ đi tới. Khước từ sự vận động.
Không thể thế bởi mỗi ngày ta phải bước đi như nghe trong mình tiếng gọi chảy đi sông ơi. Như dòng sông tha thiết trôi.
(Trích Ngày trong sương mù - Hà Nhân, NXB Văn học, 2016, tr.38)
Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản.
Câu 2. Chỉ ra hai lối sống mà con người đã từng đôi lần trải qua được tác giả nêu trong đoạn trích.
Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn: “Sông như đời người. Và sông phải chảy. Như tuổi trẻ phải hướng ra biển rộng.”.
Câu 4. Em hiểu như thế nào về “tiếng gọi chảy đi sông ơi” được nhắc đến trong câu văn: “Không thể thế bởi mỗi ngày ta phải bước đi như nghe trong mình tiếng gọi chảy đi sông ơi.”?
Câu 5. Từ nội dung văn bản, em rút ra được bài học nào? Vì sao?
Guide icon
Hướng dẫn giải
Câu 1. (0.5 điểm)
Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận.
Câu 2. (0.5 điểm)
Hai lối sống mà con người từng đôi lần trải qua được tác giả nêu trong đoạn trích:
- Lối sống buông xuôi, trì trệ, khước từ sự vận động.
- Lối sống chấp nhận sự an toàn trong thụ động, bỏ quên khát khao và ước mơ.
Câu 3. (1.0 điểm)
- Biện pháp tu từ được sử dụng: So sánh.
- Tác dụng: Giúp người đọc có được hình dung cụ thể, sinh động về cuộc đời con người; đồng thời nhấn mạnh thông điệp, lời khích lệ của tác giả rằng chúng ta cần không ngừng vận động, nỗ lực để vươn xa hơn trong cuộc đời.
Câu 4. (1.0 điểm)
- HS trả lời theo cách hiểu của bản thân và có lí giải hợp lí.
- Ví dụ: "Tiếng gọi chảy đi sông ơi" là một hình ảnh ẩn dụ thể hiện khát vọng sống mãnh liệt trong mỗi con người. Đó là lời thúc giục từ sâu thẳm bên trong, thôi thúc ta không ngừng tiến về phía trước, vượt qua sự trì trệ và vùng an toàn để khám phá những chân trời mới. Tiếng gọi ấy đại diện cho ý chí vươn lên, khao khát trải nghiệm và khẳng định bản thân, giống như dòng sông luôn chảy về biển lớn, không ngừng vận động để tìm đến những điều rộng lớn hơn, ý nghĩa hơn trong cuộc sống.
Câu 5. (1.0 điểm)
- HS rút ra bài học cho bản thân và đưa ra lí giải hợp lí.
- Ví dụ: Qua văn bản, em rút ra được bài học cho chính mình đó là cần biết sống chủ động, tích cực hơn, không ngừng vận động, nỗ lực vươn lên, vượt thoát khỏi vùng an toàn để có thể chạm tay đến thành công. Bởi cuộc sống chỉ thực sự có ý nghĩa khi mỗi cá nhân vận động, không ngừng phát triển, giống như con sông cần chảy ra biển lớn, tuổi trẻ cần vươn xa để khẳng định bản thân.