NGUYỄN KHÁNH BĂNG

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của NGUYỄN KHÁNH BĂNG
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)
Câu 1: Ý nghĩa của tính sáng tạo đối với thế hệ trẻ hiện nay (khoảng 200 chữ) Trong thời đại số hóa và hội nhập toàn cầu, tính sáng tạo không chỉ là lợi thế mà là chìa khóa sinh tồn và phát triển cốt lõi đối với thế hệ trẻ. Sáng tạo giúp người trẻ phá bỏ tư duy lối mòn, dám nghĩ dám làm, từ đó tìm ra các giải pháp mới, hiệu quả cho các vấn đề phức tạp trong học tập và công việc. Nó là động lực thúc đẩy sự đổi mới, biến những ý tưởng táo bạo thành hiện thực, giúp khẳng định giá trị bản thân và tạo ra dấu ấn riêng biệt trong xã hội. Đặc biệt, sự sáng tạo giúp thanh niên thích nghi nhanh chóng với sự thay đổi không ngừng của công nghệ, nâng cao năng suất và tạo ra các giá trị văn hóa, kinh tế mới mẻ. Một thế hệ trẻ sáng tạo sẽ đóng góp to lớn vào sự phát triển bền vững của đất nước, biến tiềm năng thành sức mạnh thực tế. Thiếu sáng tạo, người trẻ dễ trở nên thụ động, rập khuôn và bị bỏ lại phía sau. Vì vậy, sáng tạo là ngọn lửa thắp sáng tương lai, là hành trang không thể thiếu để người trẻ chinh phục thành công.    Câu 2: Cảm nhận con người Nam Bộ qua nhân vật Phi và ông Sáu Đèo trong Biển người mênh mông (Nguyễn Ngọc Tư) Nguyễn Ngọc Tư được mệnh danh là nhà văn của đất và người Phương Nam, nơi mà sự phóng khoáng, chân thành và lòng trắc ẩn hiện hữu trong từng trang viết. Truyện ngắn Biển người mênh mông là một ví dụ tiêu biểu, qua nhân vật Phi và ông Sáu Đèo, ta cảm nhận sâu sắc vẻ đẹp tâm hồn của con người Nam Bộ: hào sảng, trọng tình trọng nghĩa, nhân hậu và gắn bó với sông nước. Trước hết, nhân vật Phi đại diện cho thế hệ trẻ với sự tự do, phóng khoáng nhưng không kém phần sâu sắc. Phi đi khắp nơi, sống trôi dạt như một phần của cái "biển người" mênh mông ấy. Cái hay của Phi là sự phóng khoáng trong tâm hồn, không bị ràng buộc bởi vật chất hay những khuôn mẫu cố hữu. Sự "bụi đời" của Phi không mang vẻ bất cần mà là sự tự tại, hiên ngang trước sóng gió cuộc đời. Phi hào sảng, chân thành trong các mối quan hệ, đặc biệt là cách nhìn đời, nhìn người không chút toan tính. Trái ngược với vẻ trẻ trung, xông xáo của Phi là sự trầm lặng, thâm trầm nhưng ấm áp của ông Sáu Đèo. Ông Sáu là hình ảnh tiêu biểu cho thế hệ đi trước – những con người Nam Bộ "trọng nghĩa khinh tài". Qua nhân vật ông Sáu Đèo, Nguyễn Ngọc Tư khắc họa một người đàn ông giàu trải nghiệm, mang nặng tâm tư nhưng luôn sống tử tế. Lòng nhân hậu của ông Sáu hiện lên qua cách ông đối đãi với mọi người, sự đùm bọc, sẻ chia với những mảnh đời lênh đênh. Con người Nam Bộ qua ông Sáu không chỉ là sự xô bồ, vồn vã mà là sự chững chạc, sâu xa và tình thương yêu con người vô điều kiện. Điểm chung nhất của Phi và ông Sáu Đèo, và cũng là đặc trưng của con người Nam Bộ, chính là sự gắn bó với sông nước và lòng trắc ẩn. Họ sống giữa một không gian bao la, đối mặt với sự bất định của cuộc sống, nhưng chính điều đó tạo nên tâm hồn rộng mở, nhân ái. Họ dễ dàng đón nhận người lạ, sẻ chia những gì mình có, coi trọng sự kết nối tình cảm giữa người với người hơn là vật chất. Qua Biển người mênh mông, Nguyễn Ngọc Tư đã khắc họa thành công bức chân dung con người Nam Bộ qua Phi và ông Sáu Đèo: những con người của vùng đất mênh mông, hào sảng mà sâu sắc, nhân hậu và tình nghĩa. Họ là những nét đẹp văn hóa, là tâm hồn cốt lõi tạo nên bản sắc riêng biệt, mộc mạc mà quyến rũ của miền Tây sông nước.


Câu 1. Kiểu văn bản: Văn bản thông tin (thuyết minh).  Câu 2. Hình ảnh, chi tiết giao thương thú vị:
  • Người mua bán đi lại, nhóm họp bằng xuồng ba lá, ghe tam bản, tắc ráng trên sông.
  • Hình thức "bẹo hàng": treo mặt hàng cần bán lên một cây sào (cây bẹo) trước mũi ghe để người mua dễ nhận biết.
  • Ghe là nhà: cuộc sống, sinh hoạt và mua bán diễn ra ngay trên ghe, xuồng.
  • Hàng hóa đa dạng từ trái cây, rau củ đến hàng thủ công, thực phẩm. 
Câu 3. Tác dụng của tên các địa danh (Cái Bè, Cái Răng, Phong Điền, Ngã Bảy,...):
  • Tăng tính chân thực, chính xác: Khẳng định chợ nổi là nét đặc trưng phổ biến, lâu đời tại nhiều nơi ở miền Tây.
  • Cung cấp thông tin: Giúp người đọc dễ dàng hình dung và tra cứu các khu chợ nổi nổi tiếng. 
Câu 4. Tác dụng của phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ (cây bẹo, tiếng rao, kèn, tiếng động cơ):
  • Thay thế lời nói: "Cây bẹo" giúp quảng bá hàng hóa mà không cần treo biển hay đứng gọi.
  • Tạo không khí rộn ràng: Tiếng kèn, tiếng động cơ, âm thanh mua bán tạo nên đặc trưng riêng biệt, sôi động cho chợ.
  • Thể hiện nét văn hóa: Đặc trưng cho văn hóa sông nước, độc đáo và đầy màu sắc. 
Câu 5. Suy nghĩ về vai trò của chợ nổi:
  • Kinh tế: Là đầu mối giao thương nông sản quan trọng, giúp người dân mua bán trái cây, nông sản quy mô lớn.
  • Văn hóa: Là "hồn" của sông nước miền Tây, lưu giữ nét đẹp truyền thống và lối sống đặc trưng của người dân.
  • Du lịch: Là địa điểm thu hút du khách trong và ngoài nước, góp phần phát triển kinh tế địa phương. 
Chợ nổi không chỉ là nơi mua bán mà còn là không gian văn hóa, thể hiện sự thích nghi độc đáo của con người với thiên nhiên.

Câu 1:

Nhân vật Tâm trong truyện ngắn "Cô hàng xén" của Thạch Lam 

là biểu tượng đẹp cho người phụ nữ Việt Nam truyền thống: tần tảo, giàu tình yêu thương và giàu lòng tự trọng Nhân vật Tâm để lại trong tôi ấn tượng sâu sắc về một người phụ nữ Việt Nam tần tảo, hy sinh và giàu lòng tự trọng. Vì hoàn cảnh, Tâm phải gác lại việc học, gánh vác trách nhiệm nuôi mẹ và các em, chấp nhận cuộc đời "khó khăn và chặt chẽ". Vẻ đẹp của Tâm không chỉ ở sự siêng năng, chịu khó đi về trong đêm tối, mà còn ở tâm hồn nhạy cảm, trân trọng những thứ hàng nhỏ bé mà cô bán. Đặc biệt, dù hàng ngày đối mặt với lời tròng ghẹo, Tâm vẫn giữ vững phẩm giá, không để bản thân bị cám dỗ, coi trọng giá trị tinh thần cao quý hơn vẻ bề ngoài. Sự hy sinh thầm lặng, tình yêu thương gia đình vô điều kiện của Tâm khiến người đọc cảm thấy xót xa nhưng cũng rất trân trọng. Thông qua nhân vật Tâm, Thạch Lam đã thể hiện niềm cảm thông sâu sắc đối với số phận người phụ nữ nghèo, đồng thời ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn bền vững của họ giữa những lam lũ, khó khăn của cuộc đời.

Câu 2:

Ai trong cuộc sống cũng có những lúc mắc sai lầm , thất bại. Có lẽ vậy mà sai lầm và thất bại đã trở thành một trong những quy luật tất yếu của cuộc sống con người. Khi thất bại, điều ta cần làm không phải là chán nản mà là niềm tin. Tin vào mình có thể đứng lên. Niềm tin là một trong những yếu tố rất quan trọng đối với mỗi con người. Vậy niềm tin được hiểu như thế nào

Niềm tin là sự tin tưởng, khẳng định vào những việc làm của bản thân và không lung lay trước khó khăn. Còn sức mạnh niềm tin được hiểu là ý nghĩa, tác dụng to lớn của niềm tin đối với cuộc sống mỗi người.

Vậy tại sao ta phải cần có niềm tin trong cuộc sống ? Vì niềm tin là một trong những yếu tố giúp con người ta thành công. Khi ta vấp ngã và thất bại nó sẽ khiến ta nản chí nhưng nhờ có niềm tin , ta có thể đứng lên và tiếp tục bước đi trên con đường thành công. Niềm tin như truyền cho con người sức mạnh và động lực để thành công. Không chỉ thế, niềm tin sẽ giúp con người có những ước mơ hoài bão để con người có ý chí vươn lên thực hiện những đam mê của bản thân. Giúp con người bứt phá bản thân, tạo ra giá trị riêng của mình. Cuộc sống ngày nay vốn dĩ chứa rất nhiều chông gai, cạm bẫy khiến con người ta suy sụp tinh thần rất nhiều. Chính lúc đó, niềm tin như giúp cho con người thêm yêu đời , lạc quan.

Những người có niềm tin trong cuộc sống thì thường rất lạc quan, yêu đời và luôn suy nghĩ tích cực về mọi điều. Những người đó rất gan dạ và ý chí , không biết gục ngã sau thất bại mà chỉ biết đứng lên, đối mặt với thất bại. Họ còn là người truyền nguồn cảm hứng, tinh thần lạc quan cho những người có tinh thần bị suy sụp. Họ biết cách cách đứng vững và không lung lay trước những thử thách, khó khăn.

Niềm tin đối với mỗi người là rất quan trọng nhưng cần phải phân biệt nó với ảo tưởng. Niềm tin ở đây là sự tin tưởng vào khả năng thật của bản thân chứ không phải sự ảo tưởng vào những điều mình không bao giờ làm được. Việc tin vào bản thân là vô cùng tốt, nó sẽ giúp con người thành công. Nhưng cũng chớ biến sự tự tin đó thành kiêu ngạo, tự phụ mà không quan tâm đến những lời nhận xét của mọi người.

Là một người học sinh, tôi cảm thấy sức mạnh của niềm tin trong cuộc sống là vô cùng to lớn. Tôi sẽ giữ gìn, phát huy đức tính tốt đẹp này bằng cách : luôn sống lạc quan và yêu đời ; không suy nghĩ tiêu cực ; luôn lắng nghe những ý kiến của mọi người về bản thân mình ; giữ vững lập trường khi có người rung chuyển ; biết đứng lên và đối mặt với những sự thất bại ;....

Như vậy ta thấy sức mạnh của niềm tin đối với mỗi người trong cuộc sống là rất quan trọng và to lớn. Còn người ta phải thật lạc quan và tin tưởng vào chính khả năng thật của bản thân mình.

Câu 1. Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm (kết hợp với miêu tả và tự sự). Câu 2. Hình ảnh đời mẹ được so sánh:
  • Bến vắng bên sông (nơi đón nhận những con thuyền tránh gió).
  • Cây tự quên mình trong quả.
  • Trời xanh nhẫn nại sau mây.
Câu 3. Biện pháp tu từ:
  • Biện pháp: Ẩn dụ ("Quả chín" - sự thành đạt của con; "cây" - người mẹ; "nhớ ơn" - sự báo hiếu) kết hợp với So sánh/Nhân hóa.
  • Tác dụng:
    • Tăng tính gợi hình, gợi cảm cho câu thơ.
    • Nhấn mạnh sự hy sinh vô điều kiện, quên mình của mẹ để đổi lấy sự trưởng thành của con.
    • Thể hiện nỗi xót xa, thấu hiểu của con về sự hy sinh thầm lặng của mẹ, đồng thời nhắc nhở về đạo làm con (nhớ ơn).
Câu 4. Nội dung hai dòng thơ:
  • "Lời gì đằm thắm": Những lời nói yêu thương, quan tâm, hỏi han dịu dàng.
  • "Ru tuổi già của mẹ": Sự chăm sóc, an ủi, làm cho mẹ yên lòng và hạnh phúc.
     Câu thơ thể hiện khao khát được báo hiếu, chăm sóc mẹ bằng tình yêu thương chân thành nhất, để mẹ không còn cô đơn, vất vả trong những năm tháng cuối đời.
Câu 5. Bài học cho bản thân:
  • Biết ơn sâu sắc: Luôn ghi nhớ công lao sinh thành, dưỡng dục của mẹ.
  • Sống hiếu thảo: Yêu thương, quan tâm và chăm sóc mẹ lúc ốm đau, tuổi già.
  • Trưởng thành và sống tốt: Sống có trách nhiệm, thành đạt để mẹ yên lòng, không phụ sự hy sinh của mẹ.

Trong cuộc sống, ai cũng mong muốn được yêu thương và trân trọng, nhưng để có được điều đó, chúng ta cần học cách thấu hiểu người khác. Sự thấu hiểu là khả năng cảm thông, chia sẻ với cảm xúc, suy nghĩ, hoàn cảnh của người khác. Khi thấu hiểu, con người biết lắng nghe, biết đồng cảm và cư xử chân thành hơn. Nhờ đó, các mối quan hệ trong gia đình, tình bạn hay công việc trở nên tốt đẹp, bền vững hơn. Một người biết thấu hiểu sẽ không vội vàng phán xét mà luôn sẵn sàng lắng nghe, đặt mình vào vị trí của người khác để cảm nhận. Điều này giúp giảm bớt mâu thuẫn, tránh những tổn thương không đáng có. Ngược lại, nếu con người sống vô tâm, ích kỷ, không quan tâm đến cảm xúc của người khác, xã hội sẽ trở nên lạnh lùng, xa cách. Để rèn luyện sự thấu hiểu, mỗi người cần học cách kiên nhẫn, lắng nghe và bao dung nhiều hơn. Khi biết thấu hiểu, cuộc sống sẽ trở nên ý nghĩa, con người sẽ gần gũi và gắn kết hơn, góp phần xây dựng một xã hội chan hòa yêu thương.


Câu 2

Văn bản "Chuyện của mẹ" của Nguyễn Ba là một tác phẩm giàu cảm xúc, khắc họa chân thực và sâu sắc hình ảnh người mẹ Việt Nam tần tảo, hy sinh thầm lặng. Qua ngôn ngữ mộc mạc và nghệ thuật kể chuyện tự nhiên, tác giả tôn vinh tình mẫu tử thiêng liêng, đồng thời nhắc nhở thế hệ sau về lòng biết ơn và sự hiếu nghĩa.  Về nội dung, văn bản tập trung khắc họa chân dung mẹ qua những mảnh ký ức về sự vất vả, gian truân. Mẹ hiện lên với vẻ đẹp bất tử của sự hi sinh, nuôi con khôn lớn bằng tất cả tình yêu thương vô điều kiện. Tác giả không chỉ kể câu chuyện của một người mẹ cụ thể mà còn đại diện cho bao người mẹ Việt Nam đã trải qua mất mát, kiên cường sống và giữ trọn tình thương. Tác phẩm khơi gợi trong người đọc niềm xúc động sâu sắc về tình mẫu tử thiêng liêng và lòng biết ơn đối với những người mẹ thầm lặng hi sinh, nhắc nhở con cái trân trọng gia đình.  Về nghệ thuật, Nguyễn Ba thành công nhờ cách kể chuyện giản dị, tự nhiên như lời tâm tình, thủ thỉ, tạo cảm giác gần gũi. Ngôn ngữ mộc mạc, giàu sức gợi cảm, chạm đến trái tim người đọc. Việc sử dụng các chi tiết đời thường, lặp lại các cụm từ thể hiện sự hoài niệm tạo nên âm hưởng bùi ngùi, khắc họa sinh động hình ảnh người mẹ trong lòng con.  Tóm lại, "Chuyện của mẹ" là một khúc ca nhẹ nhàng nhưng sâu lắng về mẹ. Tác phẩm không chỉ thành công về nghệ thuật miêu tả tâm lý mà còn đọng lại giá trị nhân văn cao cả, nhắc nhở mỗi chúng ta về đạo làm con và giá trị vững bền của tình thân.


Câu 1. Xác định kiểu văn bản


Văn bản này thuộc loại bài văn nghị luận xã hội, kết hợp phân tích văn học dân gian (câu ca dao) để đưa ra những nhận định triết lý về cuộc sống và nhận thức bản thân.


Câu 2. Vấn đề được đề cập đến trong văn bản


Vấn đề cốt lõi là việc nhận thức và đánh giá bản thân cũng như người khác, đặc biệt là tầm quan trọng của việc tự nhận thức, tự sửa chữa để phát triển bản thân, dựa trên phân tích câu ca dao Đèn và trăng.


Câu 3. Bằng chứng tác giả sử dụng để làm sáng tỏ vấn đề


Câu ca dao cổ truyền Đèn và trăng cùng nội dung đối thoại kịch tính giữa hai nhân vật đèn và trăng.

Các câu tục ngữ dân gian:

◦ “Không ai vẹn mười cả (nhân vô thập toàn)”

◦ “Năm ngón tay có ngón dài ngắn”

◦ Câu trong Truyện Kiều: “Tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao”


Ví dụ chi tiết về hình ảnh đĩa dầu cổ, cùng sự tương phản giữa sự giỏi và khuyết điểm của mỗi bên trong câu ca dao.


Câu 4. Mục đích và nội dung văn bản


Nội dung


Văn bản phân tích kịch tính, triết lý của câu ca dao Đèn và trăng, chỉ ra rằng mỗi đối tượng đều có mặt tốt và mặt xấu, không có ai hoàn hảo hoàn toàn. Tác giả sau đó mở rộng đến nhận thức con người, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tự nhìn nhận, tự đánh giá và tự sửa chữa bản thân.


Mục đích


Gợi ý cho người đọc hiểu về sự đa dạng của con người, rèn luyện thái độ bao dung khi nhìn nhận người khác, đồng thời khuyến khích tự đánh giá bản thân để phát triển và tránh sự lụi tàn do không biết sửa chữa sai lầm.


Câu 5. Nhận xét cách lập luận của tác giả


Tác giả sử dụng cấu trúc lập luận logic, từng bước tiến triển rõ ràng:


1. Mở đầu: Giới thiệu câu ca dao Đèn và trăng và tính chất kịch tính, triết lý của nó.

2. Phân tích chi tiết: Thảo luận nội dung đối thoại, chỉ ra rằng cả đèn và trăng đều có ưu và nhược điểm, không ai hoàn hảo hoàn toàn.

3. Mở rộng: Kết nối từ câu ca dao đến thực tế cuộc sống, sử dụng các câu tục ngữ để củng cố nhận định về sự không hoàn hảo của con người.

4. Suy sâu: Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tự nhận thức bản thân hơn là nhận thức người khác, nêu rõ hậu quả khi không biết sửa chữa sai lầm.

5. Kết luận: Tóm tắt thông điệp về con đường phát triển thông qua việc tự sửa chữa bản thân.


Lập luận kết hợp giữa phân tích văn học dân gian, ví dụ thực tế và câu tục ngữ, dễ hiểu, gợi mở suy nghĩ sâu sắc cho người đọc.

Lời dạy của đại văn hào Mark Twain – “Hai mươi năm sau bạn sẽ hối hận vì những gì bạn đã không làm, hơn là những gì bạn đã làm. Vậy nên hãy tháo dây, nhổ neo và ra khỏi bến đỗ an toàn” – là một lời nhắc nhở mạnh mẽ về giá trị của sự trải nghiệm và lòng dũng cảm. Nó nhấn mạnh rằng, trong dòng chảy cuộc đời, những cơ hội bị bỏ lỡ và những con đường không dám bước thường để lại tiếc nuối sâu sắc hơn bất kỳ sai lầm nào trong quá khứ.“Bến đỗ an toàn” là ẩn dụ cho sự an phận, quen thuộc, nơi ta cảm thấy thoải mái nhưng lại dễ dàng bỏ qua những tiềm năng chưa được khai phá. “Tháo dây, nhổ neo” chính là hành động chủ động bước ra khỏi vùng an toàn đó, đối diện với những thử thách và bất ngờ của cuộc sống. Tuổi trẻ là giai đoạn lý tưởng để thực hiện điều này, bởi đó là thời điểm ta có nhiều năng lượng, sự sáng tạo và khả năng phục hồi sau vấp ngã. Việc dám thử sức, dấn thân vào những điều mới mẻ, dù có thể dẫn đến thất bại, sẽ mang lại những bài học quý giá và kinh nghiệm sống phong phú. Ngược lại, sự chần chừ, sợ hãi hay an phận sẽ khiến ta bỏ lỡ những cơ hội quý báu để trưởng thành và khám phá hết tiềm năng của bản thân. Câu nói của Mark Twain thôi thúc mỗi người trẻ hãy sống hết mình, dám ước mơ, dám hành động để tương lai nhìn lại không còn những tiếc nuối về những gì đã không dám làm. Để khám phá thêm về những cách thức để vượt qua nỗi sợ hãi và bắt đầu hành trình trải nghiệm, bạn có thể tìm hiểu về các kỹ thuật quản lý rủi ro cá nhân hoặc các khóa học phát triển kỹ năng mềm.

Câu 2

Người mẹ trong đoạn trích là hình ảnh bà mẹ tần tảo, hy sinh và mang trong mình nỗi đau kín đáo, được vẽ nên với nét chân thực, giàu cảm xúc. Từ những chi tiết nhỏ, tác giả đã thể hiện rõ sự thay đổi của bà qua 6 năm con đi xa: bà cụ đã già đi nhiều, thong thả và chậm hơn trước, nhưng vẫn giữ nguyên bộ áo cũ kỹ như mấy năm về trước – một chi tiết nhỏ nhắn nhủ về sự gắn kết với quê hương và ký ức con trai.


Người mẹ luôn giữ niềm tin và mong chờ con trai, dù Tâm chỉ gửi tiền hàng tháng, không bao giờ hỏi thăm hay trả lời thư của bà. Khi gặp con, bà cảm động đến nỗi ứa nước mắt, câu hỏi đơn giản “Con đã về đấy ư?” vừa thể hiện sự ngạc nhiên, vừa là nỗi nhớ sâu thẳm. Bà còn kể về cô Trinh – người đã dần thay mặt con ở bên cạnh, chịu khó làm việc, không chịu lấy chồng vì vẫn nhớ Tâm – chi tiết này cho thấy bà đã tự làm nhẹ nỗi cô đơn, đồng thời mong con hiểu tình cảm của cô bạn trẻ.


Điểm đặc biệt nhất là sự hy sinh kín đáo của người mẹ: bà lo lắng khi nghe con ốm, nhưng không dám lên thành phố thăm con vì sợ làm phiền hay làm mất mặt Tâm. Bà luôn quan tâm sức khỏe, công việc của con, ngay cả khi Tâm trả lời qua loa, lơ đãng và vội vàng rời đi. Bà vẫn nhận tiền bạc của con với đôi tay run run, nước mắt rơm rớm, nhưng Tâm lại làm như không thấy – sự tương phản này càng làm nổi bật tình mẹ trọn vẹn, không đòi hỏi gì ngoài sự hiện diện của con.


Người mẹ ở đây không chỉ là bà mẹ tần tảo nuôi dạy con, mà còn là người chịu nỗi cô đơn, nỗi nhớ và sự bỏ rơi một cách im lặng, giữ trọn tình yêu mẹ mãi không thay đổi.

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính: Tự sự

Câu 2: Hai lối sống được nêu trong đoạn trích


Đoạn trích nêu lên hai lối sống mà con người có thể trải qua:


1. Lối sống thụ động, khước từ vận động: Biểu hiện qua việc tìm quên trong giấc ngủ, an toàn trong sự bất động, bỏ quên khát vọng, sống trong tháng ngày chật hẹp. Lối sống này được ví như dòng sông lịm trong đầm lầy, dòng sông muộn phiền quanh vách núi, hay hồ dài sống đời thực vật.

2. Lối sống chủ động, hướng tới khát vọng: Biểu hiện qua việc “phải bước đi”, “nghe trong mình tiếng gọi chảy đi sông ơi”, khát khao hướng ra biển rộng, đón nhận trải nghiệm, nắng gió.


Câu 3: Tác dụng của biện pháp tu từ


Đoạn văn: “Sông như đời người. Và sông phải chảy. Như tuổi trẻ phải hướng ra biển rộng.”.


Biện pháp tu từ: So sánh (Sông như đời người, Tuổi trẻ phải hướng ra biển rộng).

Tác dụng:

◦ Làm rõ ý nghĩa: Phép so sánh giúp cụ thể hóa, làm rõ quan điểm của tác giả. Cuộc đời con người cũng giống như dòng sông, cần phải vận động, không ngừng chảy, không thể tù đọng. Tuổi trẻ, với sức sống tràn đầy, càng cần phải có khát vọng vươn xa, khám phá thế giới rộng lớn như dòng sông khát khao ra biển lớn.

◦ Tăng tính gợi hình, gợi cảm: Hình ảnh dòng sông chảy ra biển khơi mang đến sự mạnh mẽ, khoáng đạt, khơi gợi niềm cảm hứng về khát vọng vươn lên, chinh phục những điều mới mẻ.

◦ Nhấn mạnh thông điệp: Phép so sánh này nhấn mạnh một cách mạnh mẽ thông điệp của tác giả về tầm quan trọng của sự vận động, khát vọng và trải nghiệm trong cuộc sống, đặc biệt là đối với tuổi trẻ.


Câu 4: Ý nghĩa của “tiếng gọi chảy đi sông ơi”


“Tiếng gọi chảy đi sông ơi” là một ẩn dụ cho tiếng gọi thôi thúc, khát vọng tự thân, bản năng của sự sống, của khát khao vươn lên, khám phá và trưởng thành.


Đối với dòng sông, đó là bản năng tự nhiên phải chảy về biển lớn.

Đối với con người, đặc biệt là tuổi trẻ, đó là khát khao được trải nghiệm, được sống hết mình, được vươn ra thế giới rộng lớn, khám phá những chân trời mới, không chấp nhận sự tù đọng, giới hạn.

“Tiếng gọi” này còn mang ý nghĩa của trách nhiệm, của việc không thể dừng lại, phải tiếp tục hành trình của cuộc đời mình.


Câu 5: Bài học rút ra và lý do


Từ nội dung văn bản, em rút ra được bài học: Con người, đặc biệt là tuổi trẻ, không nên sống một cuộc đời thụ động, tù túng mà hãy luôn giữ vững khát vọng vươn lên, chủ động tìm kiếm những trải nghiệm mới và không ngừng vận động, phát triển bản thân.


Lý do:

◦ Bản chất của sự sống: Văn bản đã ví cuộc đời con người như dòng sông, và bản chất của dòng sông là phải chảy. Sự vận động, phát triển là quy luật tất yếu của sự sống. Ngừng lại đồng nghĩa với sự lụi tàn, bế tắc.

◦ Giá trị của trải nghiệm: Tuổi trẻ là giai đoạn đẹp nhất để khám phá, trải nghiệm thế giới. Khước từ vận động, khước từ trải nghiệm đồng nghĩa với việc bỏ lỡ những cơ hội quý giá để trưởng thành, để hiểu biết và làm giàu thêm đời sống tinh thần.

◦ Tránh sự nuối tiếc: Sống một cuộc đời chật hẹp, khước từ khát vọng sẽ dẫn đến sự muộn phiền, ân hận về sau. “Không gì buồn hơn khi ta sớm phải làm một dòng sông muộn phiền

Sức sống của sử thi Đăm Săn và đoạn trích Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời là ở phong tục, tập quán, tín ngưỡng của đồng bào Ê – đê: nhà ở trong nhà sàn, với nhiều hàng cốt, nhiều xà ngang – dọc, có cầu thang; có nhiều vật dụng như chiêng, mâm đồng, chậu thau…biểu thị cho sự sung túc…

- Sức sống của sử thi Đăm Săn và đoạn trích Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời là ở quan niệm về người anh hùng của đồng bào Ê – đê qua nhân vật Đăm Săn; người anh hùng đại diện cho sức mạnh, ý chí của cộng đồng; mang vẻ đẹp khỏe khoẳn, có những khát vọng và ước mơ lớn lao về chinh phục vũ trụ, thiên nhiên

- Sức sống của sử thi Đăm Săn và đoạn trích Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời là ở cách kể chuyện chậm rãi, thường dừng lại ở những chi tiết, đoạn cao trào, tạo điểm nhấn và sự hồi hộp chờ đợi cho người đọc; lời kể thể hiện sắc thái riêng của lối kể khan của người Tây Nguyên; lời đối thoại thể hiện rõ giọng điệu, cá tính của từng nhân vật.

Sức sống của sử thi Đăm Săn và đoạn trích Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời là ở phong tục, tập quán, tín ngưỡng của đồng bào Ê – đê: nhà ở trong nhà sàn, với nhiều hàng cốt, nhiều xà ngang – dọc, có cầu thang; có nhiều vật dụng như chiêng, mâm đồng, chậu thau…biểu thị cho sự sung túc…

- Sức sống của sử thi Đăm Săn và đoạn trích Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời là ở quan niệm về người anh hùng của đồng bào Ê – đê qua nhân vật Đăm Săn; người anh hùng đại diện cho sức mạnh, ý chí của cộng đồng; mang vẻ đẹp khỏe khoẳn, có những khát vọng và ước mơ lớn lao về chinh phục vũ trụ, thiên nhiên

- Sức sống của sử thi Đăm Săn và đoạn trích Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời là ở cách kể chuyện chậm rãi, thường dừng lại ở những chi tiết, đoạn cao trào, tạo điểm nhấn và sự hồi hộp chờ đợi cho người đọc; lời kể thể hiện sắc thái riêng của lối kể khan của người Tây Nguyên; lời đối thoại thể hiện rõ giọng điệu, cá tính của từng nhân vật.