Đậu Lê Khôi Nguyên

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Đậu Lê Khôi Nguyên
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1. (0,5 điểm)

Phương thức biểu đạt chính của văn bản "Chàng trai làng Phù Ủng" là tự sự.

Câu 2. (0,5 điểm)

Phạm Ngũ Lão không hay biết đến việc bị đâm giáo vào đùi vì lúc đó ông đang tập trung cao độ suy nghĩ về một việc lớn.

Câu 3. (1,0 điểm)

− Hưng Đạo Vương không trách phạt Phạm Ngũ Lão vì:

+ Nhận thấy Phạm Ngũ Lão không phải người vô lễ, ngông cuồng mà là người có khí chất đặc biệt: Trầm tĩnh, chăm chú suy ngẫm, có bản lĩnh.

+ Khi hỏi về việc học hành, Phạm Ngũ Lão ứng đối thông minh, hiểu biết rộng.

=> Hưng Đạo Vương nhận thấy Phạm Ngũ Lão là nhân tài hiếm có.

− Tầm nhìn của Hưng Đạo Vương:

+ Cho thấy Hưng Đạo Vương là một vị tướng có tầm nhìn xa trông rộng, có khả năng nhận ra nhân tài từ những chi tiết nhỏ trong đời sống.

+ Hưng Đạo Vương biết đặt lợi ích quốc gia lên trên những quy tắc lễ nghi thông thường, hướng tới mục đích lớn lao.

Câu 4. (1,0 điểm)

Nhân vật Phạm Ngũ Lão hiện lên là người văn võ song toàn và có nhân cách lớn:

− Văn võ song toàn: Diện mạo khôi ngô, sức khoẻ phi thường và am hiểu kinh sử, ứng đối trôi chảy mọi kiến thức.

− Giàu lòng tự trọng và chí khí: Biết xấu hổ khi bản thân chưa lập được công danh sự nghiệp (từ chối đi ăn mừng, nói với mẹ là bản thân cảm thấy nhục nhã).

− Bản lĩnh và sự tập trung phi thường: Mải mê nghĩ việc nước đến mức bị giáo đâm vào đùi chảy máu cũng không hay biết.

− Mưu trí và cẩn trọng: Không chủ quan (xin về quê luyện tập trước khi thi đấu) và có tài thao lược quân sự tài tình (dùng tre đánh thắng đội quân voi).

Câu 5. (1,0 điểm)

Học sinh trình bày suy nghĩ của bản thân về vai trò của việc sống có lí tưởng. Gợi ý:

− Sống có lí tưởng giúp con người biết đặt mục tiêu cao đẹp cho bản thân và luôn nỗ lực vươn lên.

− Lí tưởng cũng giúp chúng ta sống có trách nhiệm với gia đình, cộng đồng và đất nước.

− Người có lí tưởng cao đẹp sẽ biết biến "cái thẹn" thành hành động để tạo ra giá trị cho cộng đồng và đất nước.

Câu 1 (0,5 điểm) Ngôi kể: Ngôi thứ ba.

Câu 2 (0,5 điểm) Cuộc sống của người trí thức giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám: Nghèo khổ, bế tắc.

Câu 3 (1,0 điểm)

Câu cảm thán: “Hỡi ôi!”.

Tác dụng:

+ Bộc lộ cảm xúc xót xa, đau đớn, bế tắc trước hiện thực đời sống khổ cực của con người.

+ Thể hiện những day dứt, trăn trở của nhận vật Thứ trước thời cuộc và khát vọng thay đổi cuộc sống.

+ Giúp ngôn ngữ nhân vật thêm sinh động, hấp dẫn.

Câu 4 (1,0 điểm)

Nội dung chính của văn bản: Nỗi băn khoăn, trăn trở của nhân vật Thứ về cuộc đời, lí tưởng sống của mình trong hoàn cảnh ngặt nghèo.

Câu 5 (1,0 điểm)

Nhận xét về cách xây dựng nhân vật Thứ trong văn bản:

Tính cách của nhân vật được thể hiện thông qua lời thoại và hành động: Thứ là người nhút nhát, không dám trực tiếp nói chuyện với Oanh dẫn đến một mình phải chịu nỗi uất ức khi sống cùng với một người keo bẩn. Thứ cũng là người khao khát có một cuộc sống đúng nghĩa, được thực hiện lí tưởng, được tận hiến chứ không phải chỉ vục mặt vào chuyện cơm áo gạo tiền.

– Nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm lí của nhân vật: Lúc đầu, Thứ tức giận về việc phải sống cùng với người keo bẩn như Oanh, từ đó anh nghĩ về đời mình và không cam tâm sống một cách tẻ nhạt, tiếp đến là bất lực trước hoàn cảnh thực tế, ngậm ngùi tiếc nuối giấc mơ xưa không thể thực hiện và cuối cùng là quyết tâm vượt lên hoàn cảnh.

– Đặt nhân vật vào trong một tình huống ngặt nghèo để bộc lộ rõ về tính cách, phẩm chất của nhân vật.

– …

--> Cách xây dựng nhân vật độc đáo, toàn diện, giúp thể hiện rõ nét tính cách của nhân vật; gửi gắm những thông điệp ý nghĩa thông qua nhân vật.

(Học sinh nêu được tối thiểu 02 cách xây dựng nhân vật của tác giả)

Câu 6 (2,0 điểm)

– Hình thức:

+ Mô hình đoạn văn phù hợp, đảm bảo không mắc lỗi diễn đạt, chính tả.

+ Dung lượng: Ngắn gọn, từ 5 đến 7 dòng.

– Nội dung: Nêu suy nghĩ về giá trị của lí tưởng sống đối với mỗi người.

– Gợi ý:

+ Lí tưởng sống là niềm tin, lòng ao ước mong mỏi của mỗi người đặt ra trong cuộc sống. Nó là mục đích tốt đẹp mà mỗi con người muốn hướng tới.

+ Lí tưởng sống là điều kiện để một con người sống có ý nghĩa, giúp họ trở nên hoàn thiện về tâm hồn và nhân cách.

+ Lí tưởng sống giúp con người hiểu được chính mình, cuộc sống của trở nên tươi đẹp, ý nghĩa, tránh sự nhàm chán.

+ …

Bài làm:

Trong cuộc sống muôn màu, mối quan hệ giữa con người với con người luôn tiềm ẩn những bất đồng và va chạm. Giữa những rạn nứt ấy, lòng khoan dung chính là nhịp cầu êm đềm nhất nối liền những bờ bến tổn thương. Đúng như nhà văn Pháp Pierre Bonoit từng nhận định: "Khoan dung là đức tính đem lợi cho cả ta và người khác."

Khoan dung là sự rộng lượng, sẵn sàng tha thứ, cảm thông cho lỗi lầm hay sự khác biệt của người khác mà không oán trách hay trừng phạt. Đôi khi, khoan dung còn là việc chấp nhận những quan điểm, cá tính không giống mình. Ý kiến của Pierre Bonoit đã khẳng định giá trị hai chiều vô cùng to lớn của lòng khoan dung: nó mang lại hạnh phúc, sự bình yên cho chính bản thân người trao đi lẫn người nhận lại.

Trước hết, đối với người nhận, sự khoan dung là một món quà vô giá. Khi mắc phải sai lầm, con người thường rơi vào trạng thái dằn vọt, sợ hãi và tự ghét bỏ chính mình. Một sự tha thứ chân thành đúng lúc sẽ giải phóng họ khỏi gánh nặng tâm lý, mở ra cơ hội để họ sửa chữa sai lầm và làm lại cuộc đời. Khoan dung giúp kẻ lỡ bước không bị đẩy vào đường cùng của sự tha hóa, giúp họ tin tưởng hơn vào những điều tốt đẹp trong xã hội.

Không chỉ hướng ra bên ngoài, lòng khoan dung còn mang lại lợi ích to lớn cho chính bản thân người tha thứ. Khi nắm chặt một hòn than hồng để ném vào người khác, chính tay ta sẽ bị pop trước. Việc ôm giữ hận thù, dằn dỗi chỉ làm tâm trí ta thêm kiệt sức và ngột ngạt. Khi chọn khoan dung, ta chủ động trút bỏ gánh nặng của sự tức giận, buông xả những tiêu cực để đổi lấy sự thanh thản, nhẹ nhõm trong tâm hồn. Ngợi ca lòng tha thứ, tâm ta mở rộng, thấu hiểu hơn và sống một cuộc đời thong dong, thanh cao hơn.

Hơn thế nữa, ở góc độ xã hội, lòng khoan dung là chất keo kết dính con người, làm dịu đi những xung đột và hóa giải bạo lực. Một cộng đồng biết bao dung sẽ là một môi trường văn minh, ấm áp tình người, nơi sự khác biệt được tôn trọng và tình yêu thương được lan tỏa.

Tuy nhiên, khoan dung không đồng nghĩa với sự bao che vô nguyên tắc, dung túng cho cái xấu, cái ác. Sự tha thứ cần đi kèm với sự tỉnh táo và tinh thần xây dựng. Bao dung mà thiếu trí tuệ sẽ biến thành sự dễ dãi, vô tình tiếp tay cho hành vi sai trái tiếp diễn.

Tóm lại, câu nói của Pierre Bonoit là một bài học nhân sinh sâu sắc. Đứng trước những va chạm của cuộc sống, thay vì chọn ném trả tổn thương, mỗi chúng ta hãy học cách mở rộng lòng mình. Hãy học tha thứ từ những điều nhỏ nhặt nhất hằng ngày, bởi khoan dung chính là chiếc chìa khóa vạn năng chữa lành mọi vết thương và làm cho thế giới này trở nên dịu dàng hơn.

Đọc văn bản sau:

     Câu 1. Vấn đề trọng tâm của văn bản

Nguồn gốc sáng tạo nghệ thuật của bài thơ Tây Tiến xuất phát từ nỗi nhớ (nỗi nhớ "chơi vơi", ám ảnh đã định hình nên ngôn từ, cấu trúc và cảm hứng sáng tạo của tác phẩm).

Câu 2. Luận điểm của đoạn (1)

Ý nghĩa và lý do tác giả Quang Dũng quyết định bỏ chữ "nhớ" ở nhan đề, đổi từ "Nhớ Tây Tiến" thành "Tây Tiến".

Câu 3.

  • a. Thành phần biệt lập: Thành phần tình thái: "dường như".
  • b. Kiểu câu xét theo mục đích nói: Câu cảm thán ("Lạ thay là ngôn ngữ thơ!" - thể hiện cảm xúc ngạc nhiên, ngợi ca).

Câu 4. Mối quan hệ giữa luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong đoạn (2)

  • Mối quan hệ chặt chẽ, gắn kết logic:
    • Luận điểm: Nỗi nhớ trong Tây Tiến được biểu đạt bằng những từ ngữ rất lạ và ám ảnh.
    • Lí lẽ: Phân tích sự độc đáo của ngôn từ khi làm mờ ranh giới giữa chủ thể và đối tượng, thể hiện tiếng kêu từ nội tâm tác giả.
    • Bằng chứng: Trích dẫn các câu thơ chứa từ ngữ đặc biệt như "nhớ chơi vơi" ("Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi") và "nhớ ôi" ("Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói...").
  • Tác dụng: Lí lẽ và bằng chứng làm sáng tỏ, tăng sức thuyết phục tuyệt đối cho luận điểm.

Câu 5. Tình cảm, thái độ của tác giả Chu Văn Sơn

  • Trân trọng, thán phục và say mê: Tác giả dành niềm trân trọng sâu sắc trước tài năng ngôn từ và hồn thơ tài hoa, lãng mạn của Quang Dũng.
  • Thấu hiểu và tinh tế: Tác giả nhập thể vào cõi nhớ của bài thơ để cảm nhận trọn vẹn những thần thái, âm hưởng lịch sử và sức sống vượt thời gian của Tây Tiến.

Câu 6. Đoạn văn cảm nhận về vẻ đẹp của nỗi nhớ (5 – 7 dòng)

Trong thi phẩm Tây Tiến của Quang Dũng, nỗi nhớ được gửi gắm trọn vẹn qua câu thơ: "Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi". Vẻ đẹp của nỗi nhớ ở đây không đè nặng hay bi luỵ, mà mang một cao độ chông chênh, bay bổng rất riêng. Điệp từ "nhớ" kết hợp với vần "ơi" nhẹ nhõm như mở ra một không gian hoang sơ, mênh mông của đại ngàn miền Tây. Chữ "chơi vơi" đã khắc họa xuất sắc một trạng thái tâm tưởng: nỗi nhớ vô hình mà hiện hữu, vừa chơi vơi giữa cõi thực và cõi mộng, vừa đong đầy kỉ niệm gắn bó của người lính. Đó là một nỗi nhớ kiêu hùng, tha thiết và đầy chất thơ.


Câu 1: Đoạn văn cảm nghĩ về bài thơ (khoảng 150 chữ)

Bài làm tham khảo:

Bài thơ "Bài học đầu cho con" của Đỗ Trung Quân đã chạm đến những nhịp đập sâu lắng nhất trong tâm hồn em về tình yêu cội nguồn. Bằng thể thơ 6 chữ nhịp nhàng cùng điệp từ "quê hương là...", tác giả đã biến một khái niệm trừu tượng trở nên vô cùng gần gũi qua những hình ảnh bình dị: chùm khế ngọt, con diều biếc, chiếc cầu tre hay hình ảnh người mẹ nghiêng che nón lá. Quê hương trong bài thơ không phải là điều gì to lớn, xa xôi mà chính là mảnh đất tuổi thơ đầy ắp kỷ niệm thanh bình. Đặc biệt, hình ảnh so sánh quê hương như "chỉ một mẹ thôi" đã để lại dư vị sâu sắc, nhắc nhở em về sự duy nhất và thiêng liêng của nơi mình sinh ra. Bài thơ chính là bài học nhập môn về lòng nhân ái, dạy em biết trân trọng gốc rễ, nuôi dưỡng tình yêu gia đình và đất nước để làm nền tảng nâng bước em trưởng thành.

Câu 2: Bài văn nghị luận về ý nghĩa của quê hương (khoảng 400 chữ)

Bài làm tham khảo:

Trong hành trình trưởng thành của mỗi con người, có vô vàn bến đỗ để dừng chân, nhưng chỉ có một nơi duy nhất để quay về – đó chính là quê hương. Đúng như những dòng thơ ngọt ngào trong bài "Bài học đầu cho con" của Đỗ Trung Quân, quê hương không chỉ là nơi ta sinh ra mà còn mang ý nghĩa vô cùng thiêng liêng trong tâm hồn mỗi người.

Trước hết, quê hương là nơi chôn rau cắt rốn, là không gian nuôi dưỡng ta cả về thể xác lẫn tâm hồn. Ở nơi đó, ta có gia đình, có những người thân yêu luôn bao bọc, có tuổi thơ êm đềm gắn liền với những kỷ niệm đong đầy. Những giọt nước mát từ dòng sông quê, hương thơm của đồng ruộng hay lời ru tha thiết của mẹ chính là dòng sữa ngọt ngào bồi đắp nên nhân cách và tâm hồn ta.

Không những thế, quê hương còn là điểm tựa tinh thần vững chắc nhất cho mỗi người trên bước đường đời. Đứng trước những dông bão, áp lực hay thất bại của cuộc sống đô thị xô xập, hình ảnh quê hương thanh bình chính là cõi về yên ả để ta chữa lành tổn thương, tìm lại sự bình yên trong tâm trí. Dù đi ngược về xuôi, chỉ cần nhớ về mảnh đất chôn rau cắt rốn, ta lại có thêm sức mạnh để tiếp tục vươn lên. Một người biết yêu quê hương cũng sẽ là một người biết sống có trách nhiệm, biết trân trọng quá khứ và giá trị nguồn cội.

Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, vẫn còn một bộ phận nhỏ những người khi đạt được thành công lại tỏ ra quay lưng, vô ơn hay xấu hổ về gốc rễ quê nhà của mình. Đó là lối sống bội bạc, đáng bị xã hội lên án. Yêu quê hương không nhất thiết phải làm những điều quá to tát; tình yêu ấy bắt đầu từ việc trân trọng những điều bình dị, nỗ lực học tập, lao động để góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.

Tóm lại, quê hương là điểm tựa, là phần tâm hồn không thể thiếu của mỗi con người. Lời nhắc nhở "Quê hương nếu ai không nhớ / Sẽ không lớn nổi thành người" sẽ luôn là kim chỉ nam giúp chúng ta sống trọn vẹn nghĩa tình và luôn hướng về nơi mình đã bắt đầu.

Câu 1

  • Thể thơ: Thể thơ 6 chữ (lục ngôn).

Câu 2

  • Bài thơ là lời trò chuyện, nhắn nhủ ngọt ngào của người cha (hoặc người mẹ) dành cho đứa con yêu quý của mình.

Câu 3

  • 4 hình ảnh mô tả quê hương: (Học sinh có thể chọn 4 trong số các hình ảnh sau)
    • Chùm khế ngọt, đường đi học rợp bướm vàng bay, con diều biếc, con đò nhỏ, cầu tre nhỏ, vòng tay ấm của mẹ, đêm trăng tỏ, màu hoa sen trắng tinh khôi,...
  • Nhận xét:
    • Những hình ảnh được lựa chọn đều rất gần gũi, giản dị, mộc mạc và gắn liền với cuộc sống làng quê Việt Nam truyền thống.
    • Các hình ảnh mang màu sắc tuổi thơ hồn nhiên, gợi lên một quê hương tươi đẹp, thanh bình và đong đầy tình yêu thương.

Câu 4

  • Tác dụng của biện pháp tu từ so sánh (xuyên suốt qua cấu trúc "Quê hương là..."):
    • Về nội dung: Cụ thể hóa khái niệm trừu tượng "quê hương" thành những hình ảnh hữu hình, sinh động, dễ hiểu đối với trẻ thơ. Đồng thời, khẳng định quê hương chính là tất cả những gì thân thương, gắn bó nhất đối với mỗi con người.
    • Về nghệ thuật: Tạo nên nhịp điệu nhẹ nhàng, tha thiết như một lời ru, lời tâm tình; làm cho bài thơ giàu sức gợi hình, gợi cảm và đi vào lòng người một cách tự nhiên.

Câu 5

  • Suy nghĩ về hai dòng thơ: "Quê hương mỗi người chỉ một / Như là chỉ một mẹ thôi"
    • Nội dung: Tác giả đã so sánh "quê hương" với "mẹ" – hai khái niệm thiêng liêng và vô giá nhất trong đời mỗi người. Mỗi người sinh ra chỉ có một người mẹ duy nhất trao cho ta sự sống, và cũng chỉ có một quê hương duy nhất là nơi chôn rau cắt rốn, cưu mang tâm hồn ta.
    • Thông điệp: Hai câu thơ thức tỉnh mỗi người về tình yêu đối với cội nguồn. Yêu quê hương chính là yêu gia đình, yêu người mẹ của mình. Bất kỳ ai nếu không nhớ, không yêu quê hương thì khó có thể trưởng thành một cách trọn vẹn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nguồn cảm hứng bất tận cho thơ ca cách mạng Việt Nam. Trong số những tác phẩm viết về Người, bài thơ "Thăm cõi Bác xưa" của nhà thơ Tố Hữu đã để lại trong lòng em những ấn tượng và cảm xúc sâu sắc nhất. Bài thơ không chỉ là một tiếng lòng thành kính, xót thương của tác giả khi thăm lại nơi ở của Bác sau ngày Người đi xa, mà còn là bức tranh chân thực về lối sống giản dị, cao đẹp của vị lãnh tụ vĩ đại.

Bước vào "cõi Bác xưa", người đọc như được hòa mình vào một không gian thiên nhiên thanh bình, quen thuộc của làng quê Việt Nam. Nơi Bác sống không có cung điện nguy nga, mà chỉ có "đường xoài hoa trắng", "hương bưởi cam thơm", và "rào râm bụt đỏ hoa quê". Những hình ảnh mộc mạc ấy gợi nhắc về một tâm hồn yêu thiên nhiên tha thiết của Bác. Thiên nhiên nơi đây như cũng mang hơi ấm của Người, quấn quýt và tràn đầy sức sống.

Càng đi sâu vào nơi ở của Bác, em càng xúc động trước lối sống giản dị đến ngỡ ngàng của một vị Chủ tịch nước:

"Nhà gác đơn sơ, một góc vườn Gỗ thường mộc mạc, chẳng mùi sơn Giường mây chiếu cói, đơn chăn gối Tủ nhỏ vừa treo mấy áo sờn..."

Những từ ngữ như "đơn sơ", "mộc mạc", "chiếu cói", "áo sờn" đã khắc họa rõ nét cuộc sống thanh bạch của Bác. Tiền tài, vật chất xa hoa không thể làm lung lạc một nhân cách lớn. Đồ đạc của Bác ít ỏi, đơn sơ là thế, nhưng tình yêu thương của Người dành cho nhân dân, cho các em nhỏ thì lại vô bờ bến. Hình ảnh "chồng thư mới mở", "gió động rèm" khiến người đọc có cảm giác như Bác vừa mới ở đây thôi, vẫn đang dõi theo và lo lắng cho tiền tuyến, cho đàn con trẻ.

Nỗi đau buồn trước sự ra đi của Bác không chỉ thể hiện ở con người mà còn thấm đẫm vào cảnh vật. Tác giả đã nhân hóa con cá rô, cây dừa để gửi gắm lời an ủi, động viên: "Con cá rô ơi, chớ có buồn", "Dừa ơi, cứ nở hoa đơm trái". Bác đã đi xa, nhưng tình cảm và đôi bàn tay chăm sóc của Người vẫn như còn mãi nơi này.

Khép lại bài thơ, Tố Hữu đã đúc kết lại một cách trọn vẹn nhất về cuộc đời và đạo đức của Người:

"Chỉ biết quên mình, cho hết thảy Như dòng sông chảy, nặng phù sa."

Phép so sánh "như dòng sông chảy, nặng phù sa" vô cùng đắt giá. Dòng sông lặng lẽ mang phù sa bồi đắp cho hoa màu, cho sự sống đôi bờ mà không hề đòi hỏi nhận lại điều gì. Bác Hồ của chúng ta cũng vậy, Người hiến dâng trọn vẹn cuộc đời cho đất nước, cho nhân dân một cách tự nguyện và thầm lặng nhất.

Bài thơ "Thăm cõi Bác xưa" bằng thể thơ thất ngôn giàu nhạc điệu, ngôn ngữ giản dị mà hàm súc đã chạm đến trái tim của hàng triệu độc giả. Đọc bài thơ, em không chỉ thêm kính yêu, biết ơn Bác Hồ mà còn tự rút ra cho mình bài học sâu sắc về lối sống giản dị, biết yêu thương và sẻ chia. Tác phẩm của Tố Hữu chắc chắn sẽ còn sống mãi cùng thời gian, như chính hình bóng Bác vẫn luôn vẹn nguyên trong tâm thức mỗi người dân Việt Nam.

  • Sự xúc động, bồi hồi khi nhớ về Bác: Qua cách gọi tên thành kính ("Bác", "Người") và tiếng thán từ nghẹn ngào: "Ôi lòng Bác vậy, cứ thương ta".
  • Sự thấu hiểu và trân trọng lối sống giản dị của Bác: Nhà thơ quan sát và cảm nhận từng kỷ vật đơn sơ: "nhà gác đơn sơ", "gỗ thường mộc mạc", "giường mây chiếu cói", "mấy áo sờn".
  • Sự đồng điệu trong nỗi đau mất mát: Tác giả như trò chuyện thay lời cảnh vật, muông thú để bày tỏ nỗi nhớ Bác: "Con cá rô ơi, chớ có buồn", "Dừa ơi, cứ nở hoa đơm trái".
  • Lòng ca ngợi, biết ơn đức hy sinh của Người: Định nghĩa về cuộc đời Bác bằng hình ảnh so sánh đẹp đẽ: "Chỉ biết quên mình, cho hết thảy / Như dòng sông chảy, nặng phù sa."


Qua bài thơ "Thăm cõi Bác xưa", nhà thơ Tố Hữu đã thể hiện tình cảm kính yêu sâu sắc, sự xúc động, nghẹn ngào và lòng biết ơn vô hạn đối với Bác. Đó là nỗi nhớ thương da diết khi thăm lại nơi ở cũ của Người, đồng thời là sự ngưỡng mộ trước lối sống giản dị, đức hy sinh cao cả của vị Cha già dân tộc.