Đào Vũ Đan Trường

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Đào Vũ Đan Trường
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1:

- Theo văn bản, để trồng một khu vườn, chúng ta cần cân nhắc và lựa chọn cẩn thận: "Mình sẽ trồng những loại cây nào và sẽ trồng chúng ở đâu trong khu vườn của mình".

Câu 2:

- Biện pháp tu từ được sử dụng là: Nhân hóa

Câu 3:

- Việc sử dụng bằng chứng về cây bằng lăng nở hoa vào mùa hè và cây nghênh xuân nở vào mùa xuân có hiệu quả:

+, Làm cho lý lẽ trở nên cụ thể, sinh động và giàu sức thuyết phục hơn.

+, Khẳng định quy luật của tự nhiên: Mỗi loài hoa, mỗi cá nhân đều có "thời điểm rực rỡ" riêng, không đố kỵ hay so sánh khập khiễng.

+, Gợi sự thấu hiểu: Nhấn mạnh sự kiên trì và bản lĩnh vượt qua nghịch cảnh để chờ đợi thời điểm tỏa sáng của riêng mình.

Câu 4;

- Mục đích của người viết là:

+, Khuyên con người cần có sự kiên nhẫn, thái độ sống tích cực và tập trung vào hành trình bồi đắp giá trị của bản thân.

+, Thức tỉnh mọi người ngừng so sánh bản thân với người khác, tránh sự đố kỵ để tìm thấy hạnh phúc đích thực và sự bình yên trong tâm hồn.

Câu 5:

- Đồng tình, vì:

+, Sự tự do trong tâm hồn: khi không bị áp lực bởi kỳ vọng hay sự phán xét của người khác, chúng ta được sống là chính mình, phát triển theo đúng năng lực và sở thích.

+, Sự kiên định: Giống như thiên nhiên, mỗi người có một nhịp độ phát triển riêng. Việc "không để ý đến ánh mắt người khác" giúp chúng ta giữu vững niềm tin, kiên trì theo đuổi mục tiêu ngay cả khi chưa gặt hái được thành quả ngay lập tức.

+, Hạnh phúc tự thân: Hạnh phúc thật sự đến từ sự hài lòng với những gì mình đang vun đắp, chứ không phải từ sự công nhận hay tung hô nhất thời từ bên ngoài.

Câu 1:

Niềm tin là một trong những sức mạnh lớn nhất giúp con người vượt qua khó khăn để hướng tới thành công. Trong cuộc sống, không phải lúc nào chúng ta cũng gặp thuận lợi. Sẽ có những lúc thất bại, vấp ngã khiến ta muốn từ bỏ. Tuy nhiên, nếu giữ vững niềm tin rằng “cuối cùng thời điểm rực rỡ nhất của mỗi người cũng sẽ đến”, chúng ta sẽ có thêm động lực để tiếp tục cố gắng. Niềm tin giúp con người kiên trì theo đuổi mục tiêu, không nản lòng trước thử thách. Thực tế cho thấy nhiều người thành công đã từng trải qua vô số thất bại trước khi chạm tới ước mơ của mình. Chính niềm tin vào bản thân và tương lai đã giúp họ đứng dậy sau mỗi lần vấp ngã. Tuy vậy, niềm tin cần đi đôi với hành động, sự nỗ lực và tinh thần học hỏi không ngừng. Nếu chỉ tin tưởng mà không cố gắng thì thành công sẽ khó trở thành hiện thực. Vì thế, mỗi người hãy luôn nuôi dưỡng niềm tin tích cực, bền bỉ phấn đấu và không ngừng hoàn thiện bản thân. Khi đó, thời điểm rực rỡ nhất chắc chắn sẽ đến như phần thưởng xứng đáng cho những nỗ lực không ngừng nghỉ.

Câu 2:

Trong bài thơ Tổ quốc chân trời, nhà thơ Anh Ngọc đã thể hiện những cảm xúc sâu sắc của nhân vật trữ tình về hành trình khám phá, cống hiến và gắn bó với Tổ quốc. Qua đó, hình ảnh Tổ quốc hiện lên vừa gần gũi, thân thuộc, vừa rộng lớn, thiêng liêng và luôn thôi thúc con người hướng tới những chân trời mới.

Trước hết, nhân vật trữ tình cảm nhận Tổ quốc từ những điều bình dị nhất của cuộc sống: “Bắt đầu từ mảnh đất dưới chân anh”. Tổ quốc không phải khái niệm xa vời mà hiện hữu trong từng tấc đất quê hương, trong những miền đất mà con người đi qua và gắn bó. Vì thế, hành trình nhận thức về Tổ quốc cũng chính là hành trình khám phá cuộc đời. Cảm xúc chủ đạo ở đây là sự say mê, khao khát tìm hiểu và chinh phục những chân trời mới để hiểu hơn về đất nước mình.

Trên hành trình ấy, nhân vật trữ tình bày tỏ niềm tự hào sâu sắc trước vẻ đẹp và chiều dài lịch sử của dân tộc. Hình ảnh cột mốc chủ quyền trên đảo xa, bài thơ thần “Nam quốc sơn hà”, những hạt cát của quê hương hay màu xanh của biển cả đều gợi lên một Tổ quốc vừa rộng lớn vừa thiêng liêng. Từ những hình ảnh cụ thể, tác giả khơi dậy tình yêu nước chân thành, lòng biết ơn đối với cha ông đã gìn giữ non sông qua bao thế hệ. Đó là niềm xúc động của một người con khi nhận ra giá trị to lớn của đất nước mình.

Bên cạnh niềm tự hào, nhân vật trữ tình còn thể hiện khát vọng cống hiến và dấn thân. Những câu thơ: “Xòe bàn tay là gặp những chân trời / Là gặp những con đường” cho thấy tinh thần chủ động bước vào cuộc sống rộng lớn. Con đường phía trước có thể nhiều gian khó nhưng không làm nhụt chí con người. Dù thời gian trôi qua, tuổi trẻ dần lùi lại phía sau, nhân vật trữ tình vẫn giữ nguyên khát vọng khám phá và phụng sự Tổ quốc. Đó là cảm xúc lạc quan, mạnh mẽ của một con người luôn hướng về phía trước.

Đặc biệt, ở những khổ thơ cuối, cảm xúc được nâng lên thành lý tưởng sống cao đẹp. Hình ảnh “Cả đời anh với khẩu súng lên đường” gợi nhớ những năm tháng chiến đấu vì độc lập dân tộc. Trái tim người lính luôn cháy bỏng tình yêu nước, sẵn sàng vượt qua mọi gian khổ để bảo vệ quê hương. Tổ quốc trở thành mục tiêu, động lực và ý nghĩa của cuộc đời. Vì thế, “lòng anh luôn hướng tới những chân trời” không chỉ là khát vọng khám phá mà còn là khát vọng cống hiến, xây dựng và bảo vệ đất nước.

Với giọng điệu tha thiết, hình ảnh giàu sức gợi cùng cảm xúc chân thành, bài thơ đã khắc họa thành công tình yêu Tổ quốc sâu nặng của nhân vật trữ tình. Đó là niềm tự hào về lịch sử dân tộc, là khát vọng dấn thân, cống hiến và niềm tin vào tương lai đất nước. Qua những cảm xúc ấy, Anh Ngọc gửi gắm thông điệp ý nghĩa: mỗi người cần biết trân trọng, yêu thương và góp sức mình để làm cho Tổ quốc ngày càng giàu đẹp hơn.


Câu 1:

- Dấu hiệu để xác định ngôi kể trong đoạn trích là sự xuất hiện của từ xưng hô "tôi". Đây là ngôi kể thứ nhất, người kể chuyện trực tiếp tham gia vào câu chuyện và bộc lộ tâm tư, tình cảm của mình.

câu 2:

- Các chi tiết cho thấy sự thay đổi của làng quê bao gồm:

+, Mảnh ruộng ít ỏi còn lại một năm hai vụ gieo cấy.

+, Người làng từ những người nông dân chỉ biết cấy lúa, trồng rau giờ đi làm thợ xây và làm thuê cho dự án.

+, Cuộc sống bớt lam lũ và cơ cực hơn, những ngôi nhà trong làng đã khang trang hơn.

+, Không gian âm thanh thay đổi: Giữa làng quê vang lên "tiếng còi xe và nhạc băng ầm ĩ thay cho lời hát ru con mỗi cuổi trưa hè".

Câu 3:

- Biện pháp tu từ: Phép đối

- Tác dụng:

+, Về hình thức: tạo sự cân xứng, nhịp điệu hài hòa và tăng tính nhạc, tính khẳng định cho lời văn.

+, Về nội dung: Nhấn mạnh quy luật của cuộc sống và bản lĩnh của con người. Thời gian cỏ thể tàn phá sức khỏe, làm phai tàn vẻ bề ngoài của dì Lam, nhưng nghịch cảnh qua năm tháng lại rèn giũa cho con người một ý chí kiên cường, nghị lực sống phi thường để vượt qua đau thương.

Câu 4:

- Điểm nhìn trần thuật ở đây đặt vào nhân vật "tôi" - một người con của làng, một người cháu chứng kiến toàn bộ câu chuyện của mẹ và dì Lam từ quá khứ đến hiện tại.

- Sự phù hợp: Điểm nhìn này giúp câu chuyện hiện lên một cách chân thực, giàu cảm xúc và có chiều sâu kín đáo. Trải nghiệm của một người trẻ đang trưởng thành như Lâm giúp việc cảm nhận sự đổi thay này của làng quê lẫn sự thấu hiểu cho nỗi đau, sự can trường của người phụ nữ trở nên khách quan nhưng cũng đầy thấu cảm. Qua đó, chủ đề về tình yêu quê hương, tình cảm gia đình ruột thịt và sự tôn vinh vẻ đẹp tâm hồn kiên cường của người phụ nữ sau những biến động cuộc đời được bộc lộ một cách tự nhiên, sâu sắc và lay động lòng người.

Câu 5:

Sự thay đổi của các vùng nông thôn hiện nay theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một xu thế tất yếu mang lại nhiều tín hiệu tích cực, giúp đời sống vật chất của người dân được cải thiện, khang trang và bớt lam lũ hơn. Tuy nhiên, quá trình này cũng đặt ra nhiều điều đáng suy ngẫm khi những giá trị truyền thống, không gian thanh bình và tình làng nghĩa xóm nguyên sơ đang dần bị mai một bởi sự ồn ào, xô bồ của đô thị. Theo em, sự phát triển kinh tế là cần thiết, nhưng chúng ta cần phải biết dung hòa, giữ gìn những nét đẹp văn hóa, những "khoảng lặng bình yên" của làng quê để nông thôn phát triển hiện đại nhưng không mất đi cái gốc hồn hậu, nghĩa tình dân tộc.

Câu 1:

Trong đoạn trích "Thổn thức gió đồng" của Dương Giao Linh, diễn biến tâm trạng của nhân vật "tôi" khi gặp lại dì Lan được khắc họa vô cùng tinh tế, đi từ ngỡ ngàng đến thấu hiểu và bình yên. Ban đầu, khi nghe tiếng dép quen thuộc và đối diện với người đàn bà mảnh khảnh, Lâm rơi vào trạng thái "thảnh thốt", ngỡ ngàng vì sự xuất hiện đột ngột của dì sau bao năm biệt xứ, đi kèm chút bỡ ngỡ trước sự hiện diện của bé Cải. Nỗi xót xa xộc đến khi cậu nhận ra những thay đổi của thời gian trên giương mặt dì, đồng thời cảm thấy "bất an" trước sự đổi thay nhạt nhòa của làng quê và những giọt nước mẳt nghẹn ngào của mẹ khi hai chị em gặp lại. Tuy nhiên, sự trưởng thành đã giúp nhân vật "tôi" không đi sâu vào những câu hỏi chất vấn về quá khứ đau buồn của dì, mà chọn cách chấp nhận và chở che. Cuối cùng khi nhìn vài đôi mắt "vẫn giữ được trặng thái", "thanh thản và bình yên" của dì Lam, tâm trạng Lâm chuyển dịch hoàn toàn sang sự thấu hiểu sâu sắc. Cậu nhận ra sự can trường, bền bỉ của người phụ nữ sau giông bão cuộc đời. Niềm tin vào "cái tâm đã an" của dì mạng lại cho nhân vật "tôi" một cảm giác nhẹ nhõm, xoa dịu những thổn thức, xáo trộn ban đầu, khép lại bằng một sự bình yên, ấm áp tinh thần.

Câu 2:

Dịp kỷ niệm 50 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước vừa qua là một nốt lặng đầy tự hào, khơi dậy lòng yêu nước thiêng liêng trong triệu trái tim Việt Nam. Thế nhưng, bên cạnh những hình ảnh đẹp đẽ của những bạn trẻ biết trân trọng lịch sử, người ta vẫn phải chứng kiến không ít hành vi ứng xử thiếu văn hóa ngay giữa chốn công cộng. Thực trạng này đặt ra một dấu hỏi lớn về ý thức và văn hóa ứng xử nơi công cộng của thế hệ trẻ ngày nay.

Văn hóa ứng xử nơi công cộng được hiểu là hệ thống những chuẩn mực, quy tắc đạo đức, hành vi giao tiếp, thái độ ứng xử của cá nhân đối với mọi người xung quanh tại những không gian chung như công viên, đường phố, trường học hay trên các phương tiện giao thông công cộng. Đây chính là tấm giương phản chiếu chân thực nhất phẩm chất đạo đức, trình độ văn hóa của mỗi con người và là thước đo văn minh của toàn xã hội.

Nhìn vào thực tế, thế hệ trẻ ngày nay có rất nhiều điểm sáng. Trong các dịp đại lễ lớn, hình ảnh những thanh niên tình nguyện nhặt rác, hướng dẫn giao thông, hay đơn giản là hành động nghiêm trang chào cờ, biết nhường ghế cho người già trên xe buýt... chính là những minh chứng cho một thế hệ trẻ năng động, biết sẻ chia và giàu lòng nhân ái. Họ đang góp phần xây dựng một không gian công cộng văn minh, hiện đại. Tuy nhiên, một bộ phận không nhỏ người trẻ lại có những biểu hiện đi ngược lại với chuẩn mực chung. Tại các buổi lễ hội, không khó để bắt gặp hình ảnh thanh niên chen lấn, xô đẩy, chen ngang khi xếp hàng. Đáng buồn hơn, nhiều bạn trẻ vô tư xả rác bừa bãi ngay dưới chân mình, nói tực chửi thề to tiếng nơi tôn nghiêm, hay thể hiện tỉnh cảm quá mức phản cảm ở công viên. Đó là lối ứng xử ích kỷ, thiếu tôn trọng công cộng và thiếu ý thức tự trọng tối thiểu.

Nguyên nhân của thực trạng này trước hết xuất phát từ ý thức cá nhân của một bộ phận người trẻ còn kém, lối sống ích kỷ, quen được nuông chiều nên coi cái tôi của mình là trên hết. Bên cạnh đó, việc giáo dục kỹ năng sống, văn hóa ứng xử ở một số gia đình và nhà trường đôi khi còn nặng về lý thuyết, nhẹ về thực hành. Ngoài ra, tâm lý đám đông và sự thờ ơ, thiếu sự nhắc nhở, chế tài nghiêm khắc nơi công cộng cũng vô tình dung túng cho những hành vi lệch chuẩn này tiếp diễn.

Hậu quả của lối ứng xử thiếu văn hóa là vô cùng nghiêm trọng. Nó không chỉ làm xấu đi hình ảnh của chính cá nhân đó, mà còn gây ảnh hưởng tiêu cực đến không gian chung, làm rạn nứt các mối quan hệ xã hội. Đối với quốc tế, những hình ảnh nhếch nhác, thiếu văn minh ấy sẽ làm giảm đi giá trị và nét đẹp truyền thống của con người Việt Nam trong mắt bạn bè thế giới.

Để xây dựng một không gian công cộng văn minh, bản thân mỗi người trẻ cần phải tự thức tỉnh và thay đổi. Chúng ta cần rèn luyện ý thức "mình vì mọi người", học cách lắng nghe, biết xếp hàng theo thứ tự, biết giữ gìn về sinh chung và nói lời hay ý đẹp. Nhà trường và gia đình cần phối hợp chặt chẽ để giáo dục thế hệ trẻ bằng những hành động thực tế, thay vì những bài học sáo rỗng.

Là một học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường, em nhận thức sâu sắc rằng: Văn hóa ứng xử không phải là điều gì quá cao siêu, mà nó bắt đầu từ chính những hành động nhỏ nhất hằng ngày. Một cáu cúi đầu xin lỗi va chạm, một nụ cười cảm ơn hay một vỏ chai được bỏ đúng nơi quy định.... Chính là những viên gạch nhỏ tạo nên bức tường văn hóa vũng chắc. Thế hệ trẻ chúng ta hãy cùng nhau thay đổi, để mỗi không gian công cộng không chỉ là nơi ta đi qua, mà còn là nơi lưu giữ lại những giá trị văn minh, thắp sáng niềm tự hào dân tộc.