Trương Quỳnh Thu Giang

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Trương Quỳnh Thu Giang
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 2:

Nhà thơ Chế Lan Viên đã từng nói:

" Vạt áo của triệu nhà thơ không gom hết vàng đời rơi vãi

Hãy nhặt lấy vàng của đời để góp lên trang thơ."

Quả thật đúng như chia sẻ, có lẽ rằng nhà thơ Anh Ngọc đã không ngừng nhặt lấy vàng của đời để góp lên những trang thơ " Tổ quốc chân trười" đầy cảm xúc.

Ngay từ những dòng thơ đầu, nhân vật trữ tình đã bộc lộ một cảm nhận rất đặc biệt về Tổ quốc. Tổ quốc không phải là điều xa lạ, trừu tượng mà bắt đầu “từ mảnh đất dưới chân anh”. Từ điểm gần gũi ấy, Tổ quốc lại mở ra “những miền xa vợi”, những không gian rộng lớn của núi rừng, biển đảo, chân trời. Câu thơ “Tổ quốc là điều phải đi tìm mới thấy” thể hiện nhận thức sâu sắc của nhân vật trữ tình: muốn hiểu Tổ quốc, con người phải lên đường, phải trải nghiệm, phải gắn bó với từng vùng đất, từng con người, từng dấu mốc biên cương. Vì thế, “đời anh là một cuộc lên đường” không chỉ là hành trình địa lí mà còn là hành trình nhận thức, cống hiến và yêu thương.

Cảm xúc của nhân vật trữ tình trở nên xúc động và thiêng liêng khi đứng trước vùng đất Sa Vĩ, nơi địa đầu Tổ quốc. Hình ảnh “sóng chồm lên cột mốc”, “tảng đá đứng ngàn năm thách thức” gợi lên vẻ đẹp kiên cường, bền vững của đất nước nơi biên cương. Tổ quốc hiện lên trong dáng đứng hiên ngang, bất khuất trước thời gian và sóng gió. Trong không gian mênh mông ấy, câu thơ “Nam quốc sơn hà” vang lên như tiếng nói thiêng liêng của cha ông, khẳng định chủ quyền dân tộc từ ngàn xưa. Nhân vật trữ tình “vốc nắm đất” mà hình dung ra Tổ quốc, cho thấy tình yêu nước bắt đầu từ những điều bình dị nhất: một nắm đất, một hạt cát, một cột mốc, một vùng biển quê hương.

Bên cạnh niềm xúc động là tình yêu sâu nặng trước vẻ đẹp bao la của đất nước. Hình ảnh “biển thì rộng mà nhỏ nhoi hạt cát” tạo nên sự đối lập giàu ý nghĩa. Hạt cát tuy nhỏ bé nhưng lại có thể “lay động tận hồn anh” bởi trong đó có hình bóng Tổ quốc. Cánh buồm nâu trên nền biển xanh được so sánh “như chiếc lá bồng bềnh, như cánh én”, gợi vẻ đẹp mềm mại, thân thương của cuộc sống lao động nơi biển cả. Tổ quốc trong cảm nhận của nhân vật trữ tình vừa rộng lớn, hùng vĩ, vừa gần gũi, bình yên.

Cảm xúc của nhân vật trữ tình còn là niềm tự hào và ý thức trách nhiệm của một người lính. Những câu thơ “Thế hệ anh nối nhau mải miết / Ba lô đèo tuổi trẻ ở đằng sau” cho thấy hình ảnh các thế hệ thanh niên, chiến sĩ nối tiếp nhau lên đường vì Tổ quốc. Tuổi trẻ của họ gắn với ba lô, với những con đường, những cánh rừng, những chân trời không dứt. Dù “tóc đã bạc lúc nào”, lòng nhân vật trữ tình vẫn “không nguôi những chân mây góc biển”. Điều đó cho thấy tình yêu Tổ quốc không phai nhạt theo thời gian mà càng trở nên bền bỉ, sâu sắc.

Đặc biệt, hình ảnh “sắc trời tháng chín”, “nắng Ba Đình”, “sáng Tuyên ngôn” đã đưa cảm xúc của nhân vật trữ tình trở về với thời khắc lịch sử thiêng liêng của dân tộc. Đó là niềm tự hào về ngày độc lập, về bản Tuyên ngôn khai sinh đất nước Việt Nam mới. Tình yêu Tổ quốc vì thế không chỉ gắn với không gian địa lí mà còn gắn với lịch sử, với máu xương, với những giá trị thiêng liêng mà cha ông đã gây dựng.

Khổ thơ cuối khép lại bài thơ bằng cảm xúc mãnh liệt và lời khẳng định sâu sắc. “Cả đời anh với khẩu súng lên đường” cho thấy cuộc đời nhân vật trữ tình gắn liền với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Trái tim người lính vẫn đập giữa “bão giông lửa cháy”, vẫn hướng tới những chân trời. Câu thơ được lặp lại: “Tổ quốc là điều phải đi tìm mới thấy” vừa nhấn mạnh tư tưởng chủ đạo của bài thơ, vừa khẳng định tình yêu nước là một hành trình không ngừng nghỉ.

Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng nhiều hình ảnh giàu sức gợi như cột mốc, hạt cát, cánh buồm, chân trời, ba lô, khẩu súng. Giọng thơ vừa thiết tha, trữ tình, vừa khỏe khoắn, hào sảng. Các biện pháp so sánh, điệp ngữ, liên tưởng được vận dụng hiệu quả, giúp cảm xúc của nhân vật trữ tình hiện lên chân thành và sâu lắng.

Tóm lại, trong bài thơ “Tổ quốc chân trời”, nhân vật trữ tình hiện lên với tình yêu Tổ quốc tha thiết, niềm tự hào sâu sắc và ý thức trách nhiệm cao đẹp. Qua bài thơ, người đọc hiểu rằng Tổ quốc không chỉ là nơi ta sinh ra mà còn là những chân trời phải đi, phải hiểu, phải yêu và phải bảo vệ bằng cả cuộc đời mình.

Câu 1:

Niềm tin rằng “cuối cùng thời điểm rực rỡ nhất của mỗi người cũng sẽ đến” mang ý nghĩa vô cùng tích cực trong cuộc sống. Mỗi người đều có một hành trình riêng với những khó khăn, thử thách và tốc độ phát triển khác nhau. Có người thành công sớm, có người phải trải qua nhiều thất bại mới đạt được kết quả mong muốn. Nếu chỉ nhìn vào thành công của người khác mà nóng vội, chúng ta dễ chán nản và đánh mất động lực. Niềm tin giúp con người kiên trì theo đuổi mục tiêu, không bỏ cuộc trước trở ngại và luôn hướng về phía trước. Giống như một hạt giống cần thời gian để nảy mầm, phát triển rồi mới đơm hoa kết trái, con người cũng cần thời gian để hoàn thiện bản thân và tích lũy kinh nghiệm. Tuy nhiên, niềm tin phải đi cùng với sự cố gắng, nỗ lực không ngừng. Chỉ khi chăm chỉ học tập, rèn luyện và bền bỉ theo đuổi ước mơ, chúng ta mới có thể chạm tới thời điểm rực rỡ của chính mình. Vì vậy, hãy tin vào bản thân và kiên nhẫn với hành trình trưởng thành của mình.


Câu 2:

Nhà thơ Chế Lan Viên đã từng nói:

" Vạt áo của triệu nhà thơ không gom hết vàng đời rơi vãi

Hãy nhặt lấy vàng của đời để góp lên trang thơ."

Quả thật đúng như chia sẻ, có lẽ rằng nhà thơ Anh Ngọc đã không ngừng nhặt lấy vàng của đời để góp lên những trang thơ " Tổ quốc chân trười" đầy cảm xúc.

Ngay từ những dòng thơ đầu, nhân vật trữ tình đã bộc lộ một cảm nhận rất đặc biệt về Tổ quốc. Tổ quốc không phải là điều xa lạ, trừu tượng mà bắt đầu “từ mảnh đất dưới chân anh”. Từ điểm gần gũi ấy, Tổ quốc lại mở ra “những miền xa vợi”, những không gian rộng lớn của núi rừng, biển đảo, chân trời. Câu thơ “Tổ quốc là điều phải đi tìm mới thấy” thể hiện nhận thức sâu sắc của nhân vật trữ tình: muốn hiểu Tổ quốc, con người phải lên đường, phải trải nghiệm, phải gắn bó với từng vùng đất, từng con người, từng dấu mốc biên cương. Vì thế, “đời anh là một cuộc lên đường” không chỉ là hành trình địa lí mà còn là hành trình nhận thức, cống hiến và yêu thương.

Cảm xúc của nhân vật trữ tình trở nên xúc động và thiêng liêng khi đứng trước vùng đất Sa Vĩ, nơi địa đầu Tổ quốc. Hình ảnh “sóng chồm lên cột mốc”, “tảng đá đứng ngàn năm thách thức” gợi lên vẻ đẹp kiên cường, bền vững của đất nước nơi biên cương. Tổ quốc hiện lên trong dáng đứng hiên ngang, bất khuất trước thời gian và sóng gió. Trong không gian mênh mông ấy, câu thơ “Nam quốc sơn hà” vang lên như tiếng nói thiêng liêng của cha ông, khẳng định chủ quyền dân tộc từ ngàn xưa. Nhân vật trữ tình “vốc nắm đất” mà hình dung ra Tổ quốc, cho thấy tình yêu nước bắt đầu từ những điều bình dị nhất: một nắm đất, một hạt cát, một cột mốc, một vùng biển quê hương.

Bên cạnh niềm xúc động là tình yêu sâu nặng trước vẻ đẹp bao la của đất nước. Hình ảnh “biển thì rộng mà nhỏ nhoi hạt cát” tạo nên sự đối lập giàu ý nghĩa. Hạt cát tuy nhỏ bé nhưng lại có thể “lay động tận hồn anh” bởi trong đó có hình bóng Tổ quốc. Cánh buồm nâu trên nền biển xanh được so sánh “như chiếc lá bồng bềnh, như cánh én”, gợi vẻ đẹp mềm mại, thân thương của cuộc sống lao động nơi biển cả. Tổ quốc trong cảm nhận của nhân vật trữ tình vừa rộng lớn, hùng vĩ, vừa gần gũi, bình yên.

Cảm xúc của nhân vật trữ tình còn là niềm tự hào và ý thức trách nhiệm của một người lính. Những câu thơ “Thế hệ anh nối nhau mải miết / Ba lô đèo tuổi trẻ ở đằng sau” cho thấy hình ảnh các thế hệ thanh niên, chiến sĩ nối tiếp nhau lên đường vì Tổ quốc. Tuổi trẻ của họ gắn với ba lô, với những con đường, những cánh rừng, những chân trời không dứt. Dù “tóc đã bạc lúc nào”, lòng nhân vật trữ tình vẫn “không nguôi những chân mây góc biển”. Điều đó cho thấy tình yêu Tổ quốc không phai nhạt theo thời gian mà càng trở nên bền bỉ, sâu sắc.

Đặc biệt, hình ảnh “sắc trời tháng chín”, “nắng Ba Đình”, “sáng Tuyên ngôn” đã đưa cảm xúc của nhân vật trữ tình trở về với thời khắc lịch sử thiêng liêng của dân tộc. Đó là niềm tự hào về ngày độc lập, về bản Tuyên ngôn khai sinh đất nước Việt Nam mới. Tình yêu Tổ quốc vì thế không chỉ gắn với không gian địa lí mà còn gắn với lịch sử, với máu xương, với những giá trị thiêng liêng mà cha ông đã gây dựng.

Khổ thơ cuối khép lại bài thơ bằng cảm xúc mãnh liệt và lời khẳng định sâu sắc. “Cả đời anh với khẩu súng lên đường” cho thấy cuộc đời nhân vật trữ tình gắn liền với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Trái tim người lính vẫn đập giữa “bão giông lửa cháy”, vẫn hướng tới những chân trời. Câu thơ được lặp lại: “Tổ quốc là điều phải đi tìm mới thấy” vừa nhấn mạnh tư tưởng chủ đạo của bài thơ, vừa khẳng định tình yêu nước là một hành trình không ngừng nghỉ.

Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng nhiều hình ảnh giàu sức gợi như cột mốc, hạt cát, cánh buồm, chân trời, ba lô, khẩu súng. Giọng thơ vừa thiết tha, trữ tình, vừa khỏe khoắn, hào sảng. Các biện pháp so sánh, điệp ngữ, liên tưởng được vận dụng hiệu quả, giúp cảm xúc của nhân vật trữ tình hiện lên chân thành và sâu lắng.

Tóm lại, trong bài thơ “Tổ quốc chân trời”, nhân vật trữ tình hiện lên với tình yêu Tổ quốc tha thiết, niềm tự hào sâu sắc và ý thức trách nhiệm cao đẹp. Qua bài thơ, người đọc hiểu rằng Tổ quốc không chỉ là nơi ta sinh ra mà còn là những chân trời phải đi, phải hiểu, phải yêu và phải bảo vệ bằng cả cuộc đời mình.

Câu 1:

Niềm tin rằng “cuối cùng thời điểm rực rỡ nhất của mỗi người cũng sẽ đến” mang ý nghĩa vô cùng tích cực trong cuộc sống. Mỗi người đều có một hành trình riêng với những khó khăn, thử thách và tốc độ phát triển khác nhau. Có người thành công sớm, có người phải trải qua nhiều thất bại mới đạt được kết quả mong muốn. Nếu chỉ nhìn vào thành công của người khác mà nóng vội, chúng ta dễ chán nản và đánh mất động lực. Niềm tin giúp con người kiên trì theo đuổi mục tiêu, không bỏ cuộc trước trở ngại và luôn hướng về phía trước. Giống như một hạt giống cần thời gian để nảy mầm, phát triển rồi mới đơm hoa kết trái, con người cũng cần thời gian để hoàn thiện bản thân và tích lũy kinh nghiệm. Tuy nhiên, niềm tin phải đi cùng với sự cố gắng, nỗ lực không ngừng. Chỉ khi chăm chỉ học tập, rèn luyện và bền bỉ theo đuổi ước mơ, chúng ta mới có thể chạm tới thời điểm rực rỡ của chính mình. Vì vậy, hãy tin vào bản thân và kiên nhẫn với hành trình trưởng thành của mình.


Câu 1:

Đâu là cầu nối giữa quá khứ, hiện tại và tương lai, đâu là thanh nam châm thu hút mọi thế hệ, đó chẳng phải là văn học hay sao. Văn học vẫn sống một cuộc đời cao đẹp và kết tinh những giọt ngọc của thời đại, và tất cả những giá trị vĩnh cửu ấy được thăng hoa trong đoạn trích" Thổn thức gió đồng" của nhà văn Dương Giao Linh. Đoạn trích dẫn ta đi theo những tâm trạng, cảm xúc của nhân vật "tôi"- Lâm. Mở đầu đoạn trích là dòng suy tư của Lâm về những thay đổi của nơi làng quê mình đang sinh sống, thay vì vui mừng với những thay đổi, trong Lâm lại thoáng bất an với những thay đổi đó. Từ những người nông dân chất phát chỉ biết làm ruộng với trồng rau, nay họ đã đi làm thuê, đi làm thợ xây cho dự án. Những tiếng hát ru con những buổi trưa hè giờ đây được thay dần bằng tiếng còi xe và nhạc băng ầm ĩ. Nhưng gia đình Lâm thì không vậy, mẹ Lâm dù gầy rặt đi vẫn sớm hôm đan chổi nuôi sống gia đình, vẫn giữ lối sống làm nông và ngôi nhà vẫn bình lặng và an yên như vậy. Nhưng thật vui thay, gia đình Lâm hôm nay có chút khác rồi, dì Lam sau bao nhiêu năm bỏ đi biệt xứ hôm nay đã về thăm lại gia đình. Nhưng lần này trở về gì không đi một mình, theo về cùng với dì còn có bé Cải nữa. Dì Lam giờ khác quá, giờ đây dì mảnh khảnh, gò má nhô cao và còn lác đác những đốm tàn nhang nữa. Khi nghe cái tên của con bé, Lâm thoáng nghĩ: " tên em nghe buồn quá"- Cải trong những bông hoa cải bên sông làng. Nhưng nhìn thái độ của dì là biết dì yêu thương con bé nhường nào rồi. Lâm lại nhớ về lời mà mẹ nói: " Cá chuối đắm đuối vì con. Đời người dàn bà chẳng gì bằng đứa con mình dứt ruột đẻ ra. Nó là tương lai, là lẽ sống cả đời của người đàn bà. Người đàn bà bất hạnh không phải người đàn bà không được chồng thương yêu mà là người đàn bà không con." giờ nhìn dáng vẻ của dì Lam đây Lâm mới thấy câu nói đó của mẹ thật đúng. Mẹ nghe tin dì về từ đầu làng nên tất tả chạy về với dì, khác với suy nghĩ của Lâm, mẹ không còn giận dì nữa, thay vào đó là những giọt nước mắt của sự vui mừng, những giọt nước mắt mà Lâm chưa bao giờ được thấy trước đây. "Tháng năm có thể khiến con người ta tiều tụy đi, yếu mòn đi. Nhưng năm tháng lại khiến ý chí của con người ta bền bỉ." ý nghĩ đấy của Lâm của thật là đúng, dì Lam giờ đây đã khác xưa, dì không còn là cô thiếu nữ ngày nào còn ngồi chong đèn viết thơ gửi báo nữa, giờ đây dì đã trở thành một người mẹ, một người có thể hy sinh cả mạng sống để bảo về con mình. Dòng tâm trạng của nhân vật Lâm đi theo thời gian thực, đen xen với những kỉ niệm trong quá khứ. Qua đoạn trích trên cho ta thấy được tài năng của tác giả Dương Giao Linh và một viên đá quý " Thổn thức gió đồng" trong nền văn học nước ta.

Câu 2:

Dịp kỉ niệm 50 năm ngày giải phóng miền nam, thống nhất đất nước là thời khắc dân tộc tràn ngậo niềm tự hào. Tuy nhiên, bên cạnh những câu chuyện đẹp, vẫn còn những hành vi ứng xử thiếu văn hoá nơi công cộng của một bộ phận giới trẻ. Em nhận thấy hành vi đó không chỉ phản ánh phẩm chất cá nhân mà còn là thước đo văn minh xã hội.

Văn hóa ứng xử nơi công cộng là cách thể hiện thái độ, hành vi tôn trọng trong không gian chung. Với giới trẻ – lực lượng tiên phong – ứng xử văn minh khẳng định giá trị bản thân và lan tỏa điều tốt đẹp. Thực trạng xả rác, chen lấn, gây ồn ào trong các sự kiện như lễ 30/4 cho thấy một bộ phận giới trẻ thiếu ý thức, làm xấu hình ảnh chung.

Ứng xử văn minh tạo môi trường hài hòa, nâng cao vị thế Việt Nam trong dịp lễ trọng đại. Ngược lại, hành vi thiếu văn hóa gây phản cảm, giảm giá trị sự kiện. Em có từng thấy được video một nhóm bạn trẻ cười đùa lớn tiếng tại lễ hội, khiến nhiều người khó chịu, ảnh hưởng hình ảnh du khách. Ngược lại, nhiều tình nguyện viên trẻ dọn dẹp, hướng dẫn khách lịch sự trong các sự kiện 30/4, tạo ấn tượng đẹp.

Trong bối cảnh hội nhập, ứng xử văn minh của giới trẻ giúp Việt Nam sánh ngang các nước phát triển. Lễ kỷ niệm 30/4 là cơ hội để thể hiện lòng tự hào dân tộc qua hành động văn hóa. Tuy nhiên, một số bạn trẻ thờ ơ, xả rác, chen lấn, làm xấu hình ảnh thế hệ mình. Những hành vi này cần được lên án và điều chỉnh kịp thời.

Giới trẻ cần rèn luyện ý thức qua giáo dục, thực hành, giữ gìn vệ sinh, hành xử lịch sự. Gia đình, xã hội cần đẩy mạnh tuyên truyền để xây dựng thế hệ văn minh. Mỗi người trẻ phải nhận thức vai trò của mình trong việc tạo nên xã hội hài hòa.

Tóm lại, văn hóa ứng xử nơi công cộng là tấm gương phản chiếu nhân cách giới trẻ. Trong dịp kỷ niệm 50 năm thống nhất đất nước, mỗi bạn trẻ hãy biến lòng tự hào thành hành động văn minh, góp phần xây dựng Việt Nam rạng rỡ, văn hóa. Hãy để mỗi hành động nơi công cộng là lời khẳng định về trách nhiệm và bản lĩnh của thế hệ trẻ.

Câu 1:

-Ngôi kể trong đoạn trích trên: Ngôi kể thứ nhất
- Dấu hiệu: Nhân vật chính xưng "tôi", đưa ra những tâm tư, quan điểm dưới góc nhìn của mình và trực tiếp tham gia vào câu chuyện.

Câu 2:

- Những chi tiết cho thấy sự thay đổi của làng quên nơi nhân vật " tôi" sống:

+Từ những người nông dân chỉ biết cấy lúa và trồng rau giờ đi làm thợ xây và làm thuê cho dự án lớn.

+ Tiếng còi xe và nhạc băng ầm ĩ thay cho những lời hat ru con mỗi buổi trưa hè.

+ Những ngôi nhà trong làng đã khang trang.

Câu 3:

- Biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu văn trên là liệt kê: "tiều tụy đi, yếu mòn đi, can trường và bề bỉ"

-Tác dụng:

+ Tạo sức gợi hình gợi cảm cho câu văn, làm cho bài văn thêm sinh động, hấp dẫn.

+ Biện pháp tu từ liệt kê đó đã chỉ ra cho ta thấy được sự phũ phàng của thời gian, thời gian không hề ưu ái với một ai cả. Nhưng nếu có ý chí nghị lực và sự quyết tâm, thời gian lại là thứ khiến cho chúng ta "can trường và bền bỉ hơn".

=> Từ đó ta cũng thấy được dòng hàm ý đầy tinh tường của tác giả, chính tác giả đã nhận thấy được sự phũ phàng của thời gian nên thông qua những dòng văn, tác giả muốn nhắc nhở chúng ta hay biết trân trọng từng giây từng phút trôi qua và tận dụng từng giây từng phút ấy khiến cho ta "bền bỉ và can trường" hơn.

Câu 4:

-Tác dụng điểm nhìn trần thuật:

+ Ngôi kể thứ nhất giúp câu chuyện trở nên trân thực hơn.

+ Khiến người đọc, người nghe có cảm giác như mình chính là một nhân vật trong câu chuyện.

Câu 5:

Cuộc sống nông thôn thay đổi, khiến những nhu cầu sống của người dân cũng dần thay đổi. Và dần dần những sự thay đổi đấy sẽ thay thế dần cho những thói quen trước kia. Không phải cuộc sống nông thôn như trước kia hay cuộc sống dần đô thị hóa như bây giờ là hoàn hảo hoàn toàn, mỗi cuộc sống đều có những tiện ích và bất lợi riêng của nó. Cuộc sống nông thôn như trước kia thật yên bình, không bị ô nhiễm bởi khói bụi xe máy hay công trường, đồ ăn thì hoàn toàn an toàn và hữu cơ, nhưng thay vào đó là sự cổ hủ của những thế hệ đi trước, do thiếu hiểu biết và thiếu tiếp cận, những đứa trẻ sinh ra sẽ là nạn nhân của những suy nghĩ cổ hủ đó. Còn cuộc sống dần đô thị hóa, người dân sẽ có được công ăn việc làm tạo nên thu nhập tốt hơn, cuộc sống tinh thần và vật chất được cải thiện hơn, những đứa trẻ sinh ra sẽ được tiếp cận với thế giới bên ngoài một cách dễ dàng hơn, nhưng thay vào đó là ô nhiễm môi trường và những tệ nạn xã hội sẽ liên tục gia tăng. Không có thứ gì là hoàn hảo tuyệt đối cả, điều mà chúng ta cần làm là cân bằng và duy trì song song hai cuộc sống đó. Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc kết hợp với giao thoa hội nghị quốc tế sẽ giúp cuộc sống ngày càng tố đẹp và ý nghĩa hơn.