Nguyễn Văn Tú
Giới thiệu về bản thân
lí lẽ
- Tác giả đưa ra sự phân biệt cốt lõi: văn xuôi chủ yếu dựa vào "ý tại ngôn tại" (ý ở ngay trong lời), còn thơ ca dựa vào "ý tại ngôn ngoại" (ý ở ngoài lời). Đây là một lí lẽ sâu sắc, chạm đến bản chất của nghệ thuật ngôn từ, cho thấy thơ cần sự hàm súc, đa nghĩa.
- Từ đó, tác giả khẳng định chữ trong thơ không chỉ ở "nghĩa tiêu dùng", nghĩa tự vị mà còn ở "diện mạo, âm lượng, độ vang vọng, sức gợi cảm". Điều này làm nổi bật vai trò quan trọng của nhạc tính và khả năng khơi gợi liên tưởng, cảm xúc của từ ngữ trong thơ.
- Tác giả trích dẫn ý kiến của nhà thơ, nhà phê bình nổi tiếng Va-lê-ri-nơ (Valéry): "chữ trong thơ và văn xuôi tuy giống nhau về hình thức nhưng khác nhau về hoá trị". Dẫn chứng này mang tính quốc tế, uy tín, giúp tăng sức thuyết phục cho luận điểm của người viết về sự khác biệt chức năng của từ ngữ trong hai thể loại văn học.
- Tác giả sử dụng chính những câu thơ cụ thể (ví dụ: "một nắng hai sương") để phân tích, chứng minh cách một chữ bình thường ("chữ") được "bầu lên" và trở nên giàu giá trị nghệ thuật, đòi hỏi quá trình lao động công phu của nhà thơ.
- Rất ghét cái định kiến quái gở, không biết xuất hiện từ bao giờ: các nhà thơ Việt Nam thường chín sớm nên cũng lụi tàn sớm. Những nhà thơ chủ yếu sống bằng vốn trời cho
- Không mê những nhà thơ thần đồng
- Ưa những nhà thơ một nắng hai sương, lầm lũ, lực điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ
Lệ Đạt triển khai quan điểm này bằng cách nhấn mạnh vai trò trung tâm của ngôn từ, sự lao động công phu, kiên trì của nhà thơ với chữ nghĩa và dẫn chứng ý kiến của các nhà văn lớn trên thế giới để bảo vệ luận điểm của mình
ý kiến “ nhà thơ một nắng hai sương, lầm lũ, lực điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ“ có nghĩa là quá trình sáng tạo thơ ca đòi hỏi sự lao động vất vả, công phu, kiên nhẫn và khổ luyện không kém gù công việc làm đồng nặng nhọc của nông dân