Hồ Việt An

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Hồ Việt An
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Chữ bầu lên nhà thơ Bài GV giao Bài 1 Tác giả "rất ghét" hay "không mê những gì? Ngược lại, ông "ưa đối tượng nào? Tác giả “rất ghét” quan niệm cho rằng các nhà thơ Việt Nam thường chín sớm nên cũng tàn lụi sớm. Ông không mê những nhà thơ thần đồng, những người chỉ sống bằng năng khiếu trời cho và làm thơ theo kiểu bốc đồng, nhanh chóng mà không có sự rèn luyện. Ngược lại, tác giả ưa những nhà thơ chăm chỉ lao động nghệ thuật, những người "một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ". Đây là những nhà thơ kiên trì rèn luyện, trau dồi và lao động nghiêm túc Bài 2 Bạn hiểu như thế nào về ý kiến "nhà thơ một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ." CHỮ BẦU LÊN NHÀ THƠ 1. Tôi xin phép được nhắc lại tóm tắt một số ý kiến cần thiết đã được phát biểu tại cuộc Hội thảo Văn Miếu và trong tập Bóng chữ: - Văn xuôi chủ yếu dựa vào “ý tại ngôn tại”. - Thơ khác hẳn, dựa vào “ý tại ngôn ngoại”. Đã “ý tại ngôn ngoại” tất nhiên phải cô đúc và đa nghĩa. - Người ta làm thơ không phải bằng ý mà bằng chữ. - Nhà thơ làm chữ chủ yếu không phải ở “nghĩa tiêu dùng”, nghĩa tự vị của nó, mà ở diện mạo, âm lượng, độ vang vọng, sức gợi cảm của chữ trong tương quan hữu cơ với câu, bài thơ. Nói như Va-lê-ri, chữ trong thơ và văn xuôi tuy giống nhau về hình thức nhưng khác nhau về hoá trị. […] 2. Người ta hay nói đến công phu người viết tiểu thuyết. Tôn-xtôi đã chữa đi chữa lại nhiều lần cuốn tiểu thuyết đồ sộ Chiến tranh và hoà bình. Phlô-be cân nhắc chữ trên cân tiểu li như một thầy lang bốc những vị thuốc công phạt có thể chết người. Nhưng các nhà lí thuyết ít nói đến công phu của nhà thơ. Ngược lại thiên hạ sính ca tụng những nhà thơ viết tức khắc trong những cơn bốc đồng, những nhà thơ thiên phú. Trời cho thì trời lại lấy đi. Những cơn bốc đồng thường ngắn ngủi. Tôi rất biết những câu thơ hay đều kì ngộ, nhưng là kì ngộ kết quả của một thành tâm kiên trì, một đa mang đắm đuối, làm động lòng quỷ thần, chứ không phải may rủi đơn thuần. Làm thơ không phải đánh quả. Và không ai trúng số độc đắc suốt đời. Có người hiểu lầm câu nói của Trang Tử vứt thánh bỏ trí để coi thường việc học tập, rèn luyện, làm như Trang Tử khuyến khích một nỗ lực vô văn hoá. Vứt thánh bỏ trí được lắm. Nhưng trước khi vứt, khi bỏ phải có đã chứ. Tôi rất ghét cái định kiến quái gở, không biết xuất hiện từ bao giờ: các nhà thơ Việt Nam thường chín sớm nên cũng tàn lụi sớm. Đó là những nhà thơ chủ yếu sống bằng vốn trời cho. Mà trời tuy là kho vô tận, thường khí cũng bủn xỉn lắm. Hình như tất cả những người “chơ” đều bủn xỉn. Và hoàn toàn sống dựa vào viện trợ, dầu là hào phóng, vô tư nhất nhiều khi còn khổ quá đi ăn mày. Tôi không mê những nhà thơ thần đồng. Tôi ưa những nhà thơ một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hỡi lấy từng hạt chữ. Chúng ta cần học những nhà thơ như Lý Bạch, Xa-a-đi, Gớt, Ta-go, ở vào buổi chiều tóc bạc vẫn thu hoạch những mùa thơ dậy thì. Cái trẻ, cái già của nhà thơ quyết định không phải đo ở tuổi trời, mà ở nội lực của chữ. Pi-cát-xô có nói một câu khá thâm thuý: “Người ta cần rất nhiều thời gian để trở nên trẻ.” Có lẽ vì vậy mà tôi rất ủng hộ lời phát biểu của một nhà thơ Pháp, gốc Do Thái Ét-mông Gia-bét: Chữ bầu lên nhà thơ. Gia-bét muốn nói rằng không có chức nhà thơ suốt đời. Mỗi lần làm một bài thơ, nhà thơ lại phải ứng cử trong một cuộc bầu khắc nghiệt của cử tri chữ. Tôi không nhớ Gít-đơ hay Pét-xoa - nhà thơ lớn Bồ Đào Nha - đã có một nhận xét khá nghiêm khắc về Vích-to Huy-gô: Vích-to nhiều lần tưởng mình là Huy-gô. Như thế có nghĩa mặc dầu là một thiên tài đồ sộ đã không ít lần Huy-gô không được tái cử vào cương vị nhà thơ qua cuộc bỏ phiếu của chữ. 3. Con đường thơ gồm nhiều con đường riêng rất khác nhau của từng người. Không có đại lộ chung một chiều cho tất cả. Ta có thể nói con đường thơ chính là số phận của một nhà thơ. Nhưng, dầu theo con đường nào, một nhà thơ cũng phải cúc cung tận tuy đem hết tâm trí dùi mài và lao động chữ, biến ngôn ngữ công cộng thành ngôn ngữ đặc sản độc nhất làm phong phú cho tiếng mẹ như một lão bộc trung thành của ngôn ngữ. (Lê Đạt, Đối thoại với đời & thơ, NXB. Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2011, tr. 86 - 88) ​ Ý kiến “nhà thơ một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ” thể hiện quan niệm của Lê Đạt về thơ như một dạng lao động nghệ thuật nghiêm túc, bền bỉ và đầy thử thách. Trước hết, câu nói khẳng định làm thơ không chỉ dựa vào cảm hứng bất chợt hay năng khiếu trời cho. Cảm hứng có thể giúp khởi đầu một bài thơ nhưng để tạo ra giá trị nghệ thuật đích thực, nhà thơ phải lao động chữ nghĩa kiên trì, khổ luyện. Vì vậy, thơ không phải kết quả của may mắn mà là thành quả của sự rèn luyện bền bỉ và ý thức nghề nghiệp cao. Hình ảnh so sánh nhà thơ với người nông dân "một nắng hai sương", "lầm lũi lực điền" gợi ra sự nhọc nhằn, cần mẫn và lặng lẽ. Nếu người nông dân cày xới đất đai để thu hoạch lúa gạo thì nhà thơ "cày xới" ngôn ngữ, tìm tòi cấu trúc, âm điệu, nhạc tính để chắt lọc từng con chữ. Mỗi chữ vì vậy không chỉ mang nghĩa thông thường mà còn phải được đánh thức về âm thanh, hình ảnh và sức gợi. Ý kiến cũng khẳng định giá trị của sự lao động trí tuệ trong thơ. Chữ trong thơ không chỉ để diễn đạt ý mà còn phải mở ra nhiều tầng nghĩa, gợi cảm xúc sâu sắc. Muốn đạt được điều đó, nhà thơ phải học hỏi, tích lũy, rèn luyện lâu dài để chữ nghĩa "bầu" họ trở thành nhà thơ đúng nghĩa. Tóm lại, câu nói nhấn mạnh thơ là lao động nghệ thuật nghiêm túc. Nhà thơ chân chính không sống bằng khoảnh khắc hứng khởi mà bằng sự kiên trì, tỉnh táo và đam mê với con chữ. Chỉ khi chấp nhận "đổi mồ hôi lấy từng hạt chữ", nhà thơ mới có thể sáng tạo nên những tác phẩm có giá trị bền vững.. Bài 3 Tác giả đã đưa ra những lí lẽ và dẫn chứng nào để tranh luận trong phần 2? Nêu nhận xét của bạn. CHỮ BẦU LÊN NHÀ THƠ 1. Tôi xin phép được nhắc lại tóm tắt một số ý kiến cần thiết đã được phát biểu tại cuộc Hội thảo Văn Miếu và trong tập Bóng chữ: - Văn xuôi chủ yếu dựa vào “ý tại ngôn tại”. - Thơ khác hẳn, dựa vào “ý tại ngôn ngoại”. Đã “ý tại ngôn ngoại” tất nhiên phải cô đúc và đa nghĩa. - Người ta làm thơ không phải bằng ý mà bằng chữ. - Nhà thơ làm chữ chủ yếu không phải ở “nghĩa tiêu dùng”, nghĩa tự vị của nó, mà ở diện mạo, âm lượng, độ vang vọng, sức gợi cảm của chữ trong tương quan hữu cơ với câu, bài thơ. Nói như Va-lê-ri, chữ trong thơ và văn xuôi tuy giống nhau về hình thức nhưng khác nhau về hoá trị. […] 2. Người ta hay nói đến công phu người viết tiểu thuyết. Tôn-xtôi đã chữa đi chữa lại nhiều lần cuốn tiểu thuyết đồ sộ Chiến tranh và hoà bình. Phlô-be cân nhắc chữ trên cân tiểu li như một thầy lang bốc những vị thuốc công phạt có thể chết người. Nhưng các nhà lí thuyết ít nói đến công phu của nhà thơ. Ngược lại thiên hạ sính ca tụng những nhà thơ viết tức khắc trong những cơn bốc đồng, những nhà thơ thiên phú. Trời cho thì trời lại lấy đi. Những cơn bốc đồng thường ngắn ngủi. Tôi rất biết những câu thơ hay đều kì ngộ, nhưng là kì ngộ kết quả của một thành tâm kiên trì, một đa mang đắm đuối, làm động lòng quỷ thần, chứ không phải may rủi đơn thuần. Làm thơ không phải đánh quả. Và không ai trúng số độc đắc suốt đời. Có người hiểu lầm câu nói của Trang Tử vứt thánh bỏ trí để coi thường việc học tập, rèn luyện, làm như Trang Tử khuyến khích một nỗ lực vô văn hoá. Vứt thánh bỏ trí được lắm. Nhưng trước khi vứt, khi bỏ phải có đã chứ. Tôi rất ghét cái định kiến quái gở, không biết xuất hiện từ bao giờ: các nhà thơ Việt Nam thường chín sớm nên cũng tàn lụi sớm. Đó là những nhà thơ chủ yếu sống bằng vốn trời cho. Mà trời tuy là kho vô tận, thường khí cũng bủn xỉn lắm. Hình như tất cả những người “chơ” đều bủn xỉn. Và hoàn toàn sống dựa vào viện trợ, dầu là hào phóng, vô tư nhất nhiều khi còn khổ quá đi ăn mày. Tôi không mê những nhà thơ thần đồng. Tôi ưa những nhà thơ một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hỡi lấy từng hạt chữ. Chúng ta cần học những nhà thơ như Lý Bạch, Xa-a-đi, Gớt, Ta-go, ở vào buổi chiều tóc bạc vẫn thu hoạch những mùa thơ dậy thì. Cái trẻ, cái già của nhà thơ quyết định không phải đo ở tuổi trời, mà ở nội lực của chữ. Pi-cát-xô có nói một câu khá thâm thuý: “Người ta cần rất nhiều thời gian để trở nên trẻ.” Có lẽ vì vậy mà tôi rất ủng hộ lời phát biểu của một nhà thơ Pháp, gốc Do Thái Ét-mông Gia-bét: Chữ bầu lên nhà thơ. Gia-bét muốn nói rằng không có chức nhà thơ suốt đời. Mỗi lần làm một bài thơ, nhà thơ lại phải ứng cử trong một cuộc bầu khắc nghiệt của cử tri chữ. Tôi không nhớ Gít-đơ hay Pét-xoa - nhà thơ lớn Bồ Đào Nha - đã có một nhận xét khá nghiêm khắc về Vích-to Huy-gô: Vích-to nhiều lần tưởng mình là Huy-gô. Như thế có nghĩa mặc dầu là một thiên tài đồ sộ đã không ít lần Huy-gô không được tái cử vào cương vị nhà thơ qua cuộc bỏ phiếu của chữ. 3. Con đường thơ gồm nhiều con đường riêng rất khác nhau của từng người. Không có đại lộ chung một chiều cho tất cả. Ta có thể nói con đường thơ chính là số phận của một nhà thơ. Nhưng, dầu theo con đường nào, một nhà thơ cũng phải cúc cung tận tuy đem hết tâm trí dùi mài và lao động chữ, biến ngôn ngữ công cộng thành ngôn ngữ đặc sản độc nhất làm phong phú cho tiếng mẹ như một lão bộc trung thành của ngôn ngữ. (Lê Đạt, Đối thoại với đời & thơ, NXB. Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2011, tr. 86 - 88) ​ 1. Lí lẽ và dẫn chứng tác giả đưa ra trong phần 2 Trong phần 2, Lê Đạt sử dụng nhiều lí lẽ kết hợp dẫn chứng cụ thể để bảo vệ quan điểm: thơ không chỉ là kết quả của cảm hứng bẩm sinh, mà là thành quả của lao động nghệ thuật nghiêm túc, bền bỉ. Có thể hệ thống thành các ý sau: --- a. Nêu thực tế lao động nghệ thuật nghiêm túc của các nhà văn lớn Dẫn chứng: Tôn-xtôi sửa chữa nhiều lần Chiến tranh và hòa bình, Phlô-be cân nhắc từng chữ. → Mục đích: khẳng định sáng tạo văn chương nói chung là lao động kĩ càng, công phu. --- b. Phê phán quan niệm sai lầm đề cao cảm hứng tức thời trong thơ Ông chỉ ra rằng xã hội “sính ca tụng những nhà thơ viết tức khắc”, xem cảm hứng là yếu tố quyết định. → Luận điểm: cảm hứng bột phát chỉ nhất thời, “trời cho thì trời lại lấy đi”. --- c. Khẳng định thơ hay phải là kết quả của sự lao động kiên trì Lập luận: thơ hay là “kì ngộ”, nhưng không phải may mắn mà do "đa mang đắm đuối” và “thành tâm kiên trì". So sánh: làm thơ không phải “đánh quả”, không ai “trúng số độc đắc suốt đời”. --- d. Phê phán suy nghĩ sai về học tập và rèn luyện Dẫn chứng việc hiểu lệch câu của Trang Tử “vứt thánh bỏ trí”. → Lập luận: muốn bỏ phải có trước đã, nghĩa là không thể coi thường học hỏi. --- e. Phê phán định kiến “nhà thơ Việt Nam chín sớm, tàn sớm” Giải thích nguyên nhân: nhiều người chỉ dựa vào năng khiếu “trời cho” nên nhanh cạn. --- f. Đưa ra chuẩn mực lao động nghệ thuật đúng đắn So sánh và biểu dương những nhà thơ lao động nghiêm túc như: Lý Bạch, Xa-a-đi, Gớt, Ta-go, vẫn sáng tạo ở tuổi già. Dẫn lời Picasso: “Người ta cần rất nhiều thời gian để trở nên trẻ.” Dẫn lời Ét-mông Gia-bét: “Chữ bầu lên nhà thơ.” Câu chuyện về Vích-to Huy-gô: thiên tài nhưng không phải lúc nào cũng được “chữ” công nhận. --- 2. Nhận xét Lập luận của tác giả giàu tính thuyết phục nhờ kết hợp đa dạng các phương thức: so sánh, phê phán, chứng minh, bình luận. Các dẫn chứng được chọn lựa từ nhiều lĩnh vực (văn học, triết học, hội họa) và từ những tên tuổi lớn, tạo sức nặng và độ tin cậy. Giọng văn vừa sắc sảo vừa giàu cảm xúc, có tính triết lí nhưng vẫn Bài 4 Quan điểm "chữ bầu lên nhà thơ" đã được tác giả triển khai như thế nào CHỮ BẦU LÊN NHÀ THƠ 1. Tôi xin phép được nhắc lại tóm tắt một số ý kiến cần thiết đã được phát biểu tại cuộc Hội thảo Văn Miếu và trong tập Bóng chữ: - Văn xuôi chủ yếu dựa vào “ý tại ngôn tại”. - Thơ khác hẳn, dựa vào “ý tại ngôn ngoại”. Đã “ý tại ngôn ngoại” tất nhiên phải cô đúc và đa nghĩa. - Người ta làm thơ không phải bằng ý mà bằng chữ. - Nhà thơ làm chữ chủ yếu không phải ở “nghĩa tiêu dùng”, nghĩa tự vị của nó, mà ở diện mạo, âm lượng, độ vang vọng, sức gợi cảm của chữ trong tương quan hữu cơ với câu, bài thơ. Nói như Va-lê-ri, chữ trong thơ và văn xuôi tuy giống nhau về hình thức nhưng khác nhau về hoá trị. […] 2. Người ta hay nói đến công phu người viết tiểu thuyết. Tôn-xtôi đã chữa đi chữa lại nhiều lần cuốn tiểu thuyết đồ sộ Chiến tranh và hoà bình. Phlô-be cân nhắc chữ trên cân tiểu li như một thầy lang bốc những vị thuốc công phạt có thể chết người. Nhưng các nhà lí thuyết ít nói đến công phu của nhà thơ. Ngược lại thiên hạ sính ca tụng những nhà thơ viết tức khắc trong những cơn bốc đồng, những nhà thơ thiên phú. Trời cho thì trời lại lấy đi. Những cơn bốc đồng thường ngắn ngủi. Tôi rất biết những câu thơ hay đều kì ngộ, nhưng là kì ngộ kết quả của một thành tâm kiên trì, một đa mang đắm đuối, làm động lòng quỷ thần, chứ không phải may rủi đơn thuần. Làm thơ không phải đánh quả. Và không ai trúng số độc đắc suốt đời. Có người hiểu lầm câu nói của Trang Tử vứt thánh bỏ trí để coi thường việc học tập, rèn luyện, làm như Trang Tử khuyến khích một nỗ lực vô văn hoá. Vứt thánh bỏ trí được lắm. Nhưng trước khi vứt, khi bỏ phải có đã chứ. Tôi rất ghét cái định kiến quái gở, không biết xuất hiện từ bao giờ: các nhà thơ Việt Nam thường chín sớm nên cũng tàn lụi sớm. Đó là những nhà thơ chủ yếu sống bằng vốn trời cho. Mà trời tuy là kho vô tận, thường khí cũng bủn xỉn lắm. Hình như tất cả những người “chơ” đều bủn xỉn. Và hoàn toàn sống dựa vào viện trợ, dầu là hào phóng, vô tư nhất nhiều khi còn khổ quá đi ăn mày. Tôi không mê những nhà thơ thần đồng. Tôi ưa những nhà thơ một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hỡi lấy từng hạt chữ. Chúng ta cần học những nhà thơ như Lý Bạch, Xa-a-đi, Gớt, Ta-go, ở vào buổi chiều tóc bạc vẫn thu hoạch những mùa thơ dậy thì. Cái trẻ, cái già của nhà thơ quyết định không phải đo ở tuổi trời, mà ở nội lực của chữ. Pi-cát-xô có nói một câu khá thâm thuý: “Người ta cần rất nhiều thời gian để trở nên trẻ.” Có lẽ vì vậy mà tôi rất ủng hộ lời phát biểu của một nhà thơ Pháp, gốc Do Thái Ét-mông Gia-bét: Chữ bầu lên nhà thơ. Gia-bét muốn nói rằng không có chức nhà thơ suốt đời. Mỗi lần làm một bài thơ, nhà thơ lại phải ứng cử trong một cuộc bầu khắc nghiệt của cử tri chữ. Tôi không nhớ Gít-đơ hay Pét-xoa - nhà thơ lớn Bồ Đào Nha - đã có một nhận xét khá nghiêm khắc về Vích-to Huy-gô: Vích-to nhiều lần tưởng mình là Huy-gô. Như thế có nghĩa mặc dầu là một thiên tài đồ sộ đã không ít lần Huy-gô không được tái cử vào cương vị nhà thơ qua cuộc bỏ phiếu của chữ. 3. Con đường thơ gồm nhiều con đường riêng rất khác nhau của từng người. Không có đại lộ chung một chiều cho tất cả. Ta có thể nói con đường thơ chính là số phận của một nhà thơ. Nhưng, dầu theo con đường nào, một nhà thơ cũng phải cúc cung tận tuy đem hết tâm trí dùi mài và lao động chữ, biến ngôn ngữ công cộng thành ngôn ngữ đặc sản độc nhất làm phong phú cho tiếng mẹ như một lão bộc trung thành của ngôn ngữ.

1. Lí lẽ và dẫn chứng tác giả đưa ra trong phần 2 Trong phần 2, Lê Đạt sử dụng nhiều lí lẽ kết hợp dẫn chứng cụ thể để bảo vệ quan điểm: thơ không chỉ là kết quả của cảm hứng bẩm sinh, mà là thành quả của lao động nghệ thuật nghiêm túc, bền bỉ. Có thể hệ thống thành các ý sau: --- a. Nêu thực tế lao động nghệ thuật nghiêm túc của các nhà văn lớn Dẫn chứng: Tôn-xtôi sửa chữa nhiều lần Chiến tranh và hòa bình, Phlô-be cân nhắc từng chữ. → Mục đích: khẳng định sáng tạo văn chương nói chung là lao động kĩ càng, công phu. --- b. Phê phán quan niệm sai lầm đề cao cảm hứng tức thời trong thơ Ông chỉ ra rằng xã hội “sính ca tụng những nhà thơ viết tức khắc”, xem cảm hứng là yếu tố quyết định. → Luận điểm: cảm hứng bột phát chỉ nhất thời, “trời cho thì trời lại lấy đi”. --- c. Khẳng định thơ hay phải là kết quả của sự lao động kiên trì Lập luận: thơ hay là “kì ngộ”, nhưng không phải may mắn mà do "đa mang đắm đuối” và “thành tâm kiên trì". So sánh: làm thơ không phải “đánh quả”, không ai “trúng số độc đắc suốt đời”. --- d. Phê phán suy nghĩ sai về học tập và rèn luyện Dẫn chứng việc hiểu lệch câu của Trang Tử “vứt thánh bỏ trí”. → Lập luận: muốn bỏ phải có trước đã, nghĩa là không thể coi thường học hỏi. --- e. Phê phán định kiến “nhà thơ Việt Nam chín sớm, tàn sớm” Giải thích nguyên nhân: nhiều người chỉ dựa vào năng khiếu “trời cho” nên nhanh cạn. --- f. Đưa ra chuẩn mực lao động nghệ thuật đúng đắn So sánh và biểu dương những nhà thơ lao động nghiêm túc như: Lý Bạch, Xa-a-đi, Gớt, Ta-go, vẫn sáng tạo ở tuổi già. Dẫn lời Picasso: “Người ta cần rất nhiều thời gian để trở nên trẻ.” Dẫn lời Ét-mông Gia-bét: “Chữ bầu lên nhà thơ.” Câu chuyện về Vích-to Huy-gô: thiên tài nhưng không phải lúc nào cũng được “chữ” công nhận. --- 2. Nhận xét Lập luận của tác giả giàu tính thuyết phục nhờ kết hợp đa dạng các phương thức: so sánh, phê phán, chứng minh, bình luận. Các dẫn chứng được chọn lựa từ nhiều lĩnh vực (văn học, triết học, hội họa) và từ những tên tuổi lớn, tạo sức nặng và độ tin cậy. Giọng văn vừa sắc sảo vừa giàu cảm xúc, có tính triết lí nhưng vẫn

Ý kiến “nhà thơ một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ” thể hiện quan niệm của Lê Đạt về thơ như một dạng lao động nghệ thuật nghiêm túc, bền bỉ và đầy thử thách. Trước hết, câu nói khẳng định làm thơ không chỉ dựa vào cảm hứng bất chợt hay năng khiếu trời cho. Cảm hứng có thể giúp khởi đầu một bài thơ nhưng để tạo ra giá trị nghệ thuật đích thực, nhà thơ phải lao động chữ nghĩa kiên trì, khổ luyện. Vì vậy, thơ không phải kết quả của may mắn mà là thành quả của sự rèn luyện bền bỉ và ý thức nghề nghiệp cao. Hình ảnh so sánh nhà thơ với người nông dân "một nắng hai sương", "lầm lũi lực điền" gợi ra sự nhọc nhằn, cần mẫn và lặng lẽ. Nếu người nông dân cày xới đất đai để thu hoạch lúa gạo thì nhà thơ "cày xới" ngôn ngữ, tìm tòi cấu trúc, âm điệu, nhạc tính để chắt lọc từng con chữ. Mỗi chữ vì vậy không chỉ mang nghĩa thông thường mà còn phải được đánh thức về âm thanh, hình ảnh và sức gợi. Ý kiến cũng khẳng định giá trị của sự lao động trí tuệ trong thơ. Chữ trong thơ không chỉ để diễn đạt ý mà còn phải mở ra nhiều tầng nghĩa, gợi cảm xúc sâu sắc. Muốn đạt được điều đó, nhà thơ phải học hỏi, tích lũy, rèn luyện lâu dài để chữ nghĩa "bầu" họ trở thành nhà thơ đúng nghĩa. Tóm lại, câu nói nhấn mạnh thơ là lao động nghệ thuật nghiêm túc. Nhà thơ chân chính không sống bằng khoảnh khắc hứng khởi mà bằng sự kiên trì, tỉnh táo và đam mê với con chữ. Chỉ khi chấp nhận "đổi mồ hôi lấy từng hạt chữ", nhà thơ mới có thể sáng tạo nên những tác phẩm có giá trị bền vững..


Tác giả “rất ghét” quan niệm cho rằng các nhà thơ Việt Nam thường chín sớm nên cũng tàn lụi sớm. Ông không mê những nhà thơ thần đồng, những người chỉ sống bằng năng khiếu trời cho và làm thơ theo kiểu bốc đồng, nhanh chóng mà không có sự rèn luyện.


Ngược lại, tác giả ưa những nhà thơ chăm chỉ lao động nghệ thuật, những người "một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ". Đây là những nhà thơ kiên trì rèn luyện, trau dồi và lao động nghiêm túc