Đinh Bảo Vy
Giới thiệu về bản thân
Bài thơ Bảo kính cảnh giới (Bài 33) của Nguyễn Trãi thể hiện sâu sắc tâm hồn và nhân cách của một bậc đại trí, đại nhân khi lui về ở ẩn. Qua đó, tác giả gửi gắm quan niệm sống thanh cao, coi trọng sự nhàn tản và giữ gì
Trước hết, bài thơ mở ra hoàn cảnh và lựa chọn sống của Nguyễn Trãi:
“Rộng khơi ngại vượt bể triều quan,
Lui tới đòi thì miễn phận an.”
Ông ý thức được chốn quan trường đầy sóng gió nên chọn cách “lui tới đòi thì”, sống thuận theo thời thế để giữ lấy sự bình yên. Đây không phải là sự trốn tránh mà là một lựa chọn có suy nghĩ, thể hiện thái độ tỉnh táo trước danh lợi.
Hai câu thực khắc họa bức tranh đời sống ẩn dật giản dị mà tinh tế:
“Hé cửa đêm chờ hương quế lọt,
Quét hiên ngày lệ bóng hoa tan.”
Không gian sống thanh tĩnh, gần gũi với thiên nhiên. Hình ảnh “hương quế”, “bóng hoa” gợi vẻ đẹp nhẹ nhàng, trong trẻo, cho thấy tâm hồn thi nhân hòa hợp với thiên nhiên, tìm thấy niềm vui trong những điều giản dị.
Đến hai câu luận, Nguyễn Trãi bộc lộ rõ quan niệm sống và nhân cách:
“Đời dùng người có tài Y, Phó,
Nhà ngặt, ta bền đạo Khổng, Nhan.”
Ông thừa nhận xã hội cần những người tài giỏi, nhưng bản thân vẫn kiên định giữ đạo lý Nho gia, sống ngay thẳng, thanh cao. Dù hoàn cảnh khó khăn (“nhà ngặt”), ông vẫn không từ bỏ nguyên tắc sống của mình. Điều này thể hiện phẩm chất trung thực, bền bỉ và lòng tự trọng cao.
Hai câu kết khẳng định dứt khoát lựa chọn sống:
“Kham hạ hiền xưa toan lẩn được,
Ngâm câu: ‘danh lợi bất như nhàn’.”
Nguyễn Trãi chấp nhận ở vị thế thấp, tránh xa vòng danh lợi để giữ lấy sự thanh thản. Quan niệm “nhàn” ở đây không phải là lười biếng mà là trạng thái tâm hồn tự do, không bị ràng buộc bởi danh lợi tầm thường.
Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật với ngôn ngữ cô đọng, hàm súc. Hình ảnh thơ giàu tính gợi, vừa mang nét cổ kính vừa gần gũi đời sống. Phép đối trong các cặp câu được vận dụng chặt chẽ, góp phần làm nổi bật ý tưởng và cảm xúc của tác giả.
Vậy, Bảo kính cảnh giới (Bài 33) không chỉ thể hiện vẻ đẹp tâm hồn thanh cao của Nguyễn Trãi mà còn gửi gắm triết lí sống sâu sắc: biết buông bỏ danh lợi để giữ gìn nhân cách và tìm sự an nhiên trong tâm hồn.
câu 1
- Văn bản trên thuộc kiểu văn bản thông tin
câu 2
- Phương thức biểu đạt chính là thuyết minh
câu 3
- Nhan đề “Phát hiện 4 hành tinh trong hệ sao láng giềng của Trái đất” được đặt ngắn gọn, rõ ràng, giàu tính thông tin và có sức hấp dẫn. Nhan đề nêu trực tiếp nội dung chính và yếu tố gây chú ý (“láng giềng của Trái đất”), từ đó kích thích sự tò mò của người đọc.
câu 4
- Phương tiện phi ngôn ngữ: Hình ảnh mô phỏng sao Barnard và các hành tinh của nó.
- Tác dụng là:
+ Giúp người đọc hình dung trực quan về hệ sao và các hành tinh được nhắc đến.
+ Làm cho văn bản sinh động, dễ hiểu hơn so với chỉ có chữ viết.
+ Tăng tính thuyết phục và hấp dẫn, hỗ trợ việc tiếp nhận thông tin khoa học.
câu 5
- Văn bản có tính chính xác và khách quan cao:
+ Thông tin được dẫn từ các nguồn uy tín như tạp chí khoa học (The Astrophysical Journal Letters), đài ABC News, Đại học Chicago.
+ Có dẫn chứng cụ thể (thời gian công bố, tên nhà nghiên cứu, địa điểm quan sát…).
+ Ngôn ngữ mang tính trung lập, khoa học, không biểu lộ cảm xúc cá nhân.
-> Nhờ đó, văn bản đảm bảo độ tin cậy và giá trị khoa học.
câu 1
Trong bối cảnh thế giới không ngừng biến đổi, tính sáng tạo trở thành một phẩm chất đặc biệt quan trọng đối với thế hệ trẻ. Sáng tạo giúp người trẻ không chỉ tiếp nhận tri thức một cách thụ động mà còn biết biến đổi, phát triển và tạo ra những giá trị mới. Nhờ sáng tạo, họ có thể tìm ra những cách học hiệu quả hơn, giải quyết vấn đề linh hoạt hơn và thích ứng nhanh với những thay đổi của xã hội hiện đại. Trong thời đại công nghệ số, nơi thông tin luôn dồi dào, sự khác biệt không nằm ở việc biết nhiều mà ở khả năng nghĩ khác và làm mới. Bên cạnh đó, sáng tạo còn nuôi dưỡng đam mê, khơi gợi tinh thần khám phá và giúp mỗi người khẳng định bản thân. Tuy nhiên, sáng tạo không phải là điều tự nhiên có sẵn mà cần được rèn luyện thông qua học tập, trải nghiệm và dám thử thách. Vì vậy, mỗi bạn trẻ cần chủ động trau dồi tư duy độc lập, không ngại sai lầm để từng bước phát triển khả năng sáng tạo. Có thể nói, sáng tạo chính là chìa khóa giúp thế hệ trẻ mở ra cánh cửa tương lai và đóng góp tích cực cho xã hội.
câu 2
Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn tiêu biểu của văn học Nam Bộ, với lối viết mộc mạc mà sâu sắc, giàu chất đời. Trong truyện ngắn Biển người mênh mông, qua hai nhân vật Phi và ông Sáu Đèo, tác giả đã khắc họa rõ nét vẻ đẹp của con người Nam Bộ: chân chất, giàu tình nghĩa nhưng cũng mang nhiều nỗi đau và cô đơn.
Trước hết, nhân vật Phi hiện lên là một con người bất hạnh, thiếu thốn tình cảm gia đình từ nhỏ. Sinh ra không có cha bên cạnh, mẹ lại vì hoàn cảnh mà rời xa, Phi lớn lên trong sự nuôi dưỡng của bà ngoại. Dù vậy, cuộc đời anh luôn bị ám ảnh bởi ánh nhìn lạnh lẽo của người cha và sự xa cách của mẹ. Những tổn thương ấy khiến Phi trở nên lôi thôi, buông xuôi, sống thiếu sự chăm sóc bản thân. Tuy nhiên, ẩn sâu trong con người ấy vẫn là một tấm lòng hiền lành, giàu tình cảm. Anh biết quan tâm, giúp đỡ người khác, đặc biệt là với ông Sáu Đèo – người hàng xóm nghèo khổ. Việc Phi nhận lời nuôi con bìm bịp cho ông Sáu không chỉ là một hành động giúp đỡ đơn thuần mà còn thể hiện sự trân trọng niềm tin và tình nghĩa giữa con người với nhau.
Bên cạnh Phi, ông Sáu Đèo là hình ảnh tiêu biểu cho người dân Nam Bộ giàu nghĩa tình và thủy chung. Cuộc đời ông gắn liền với sông nước, lang bạt khắp nơi, sống nghèo nhưng đầy tình cảm. Điều đáng trân trọng nhất ở ông là tình yêu sâu nặng dành cho người vợ đã rời bỏ mình. Dù đã gần bốn mươi năm trôi qua, ông vẫn không ngừng tìm kiếm, chỉ với một mong muốn giản dị: được nói lời xin lỗi. Hành trình ấy cho thấy sự thủy chung, chân thành và cũng đầy day dứt của một con người sống nặng tình. Không chỉ vậy, ông còn là người giàu lòng tin và nghĩa khí, khi gửi gắm con bìm bịp cho Phi – một người không ruột thịt – như trao lại một phần cuộc đời mình.
Qua hai nhân vật, Nguyễn Ngọc Tư đã khắc họa hình ảnh con người Nam Bộ vừa mộc mạc, chân thành, vừa sâu sắc trong tình cảm. Họ có thể nghèo về vật chất, chịu nhiều mất mát nhưng luôn giàu lòng yêu thương, thủy chung và nghĩa tình. Đồng thời, tác phẩm cũng gợi lên nỗi cô đơn, lạc lõng của con người trong “biển người mênh mông”, nơi mà ai cũng đang kiếm tìm một sự gắn kết, một điểm tựa tinh thần.
Vậy, Phi và ông Sáu Đèo không chỉ là những số phận riêng lẻ mà còn là đại diện cho vẻ đẹp tâm hồn của con người Nam Bộ. Qua đó, Nguyễn Ngọc Tư gửi gắm thông điệp sâu sắc về tình người – thứ giá trị luôn bền vững giữa cuộc đời rộng lớn và nhiều biến động.
câu 1
- Kiểu văn bản của ngữ liệu trên là: văn bản thuyết minh
câu 2
- Người bán, người mua đều đi bằng xuồng ghe
- Rao hàng bằng "cây bẹo" treo trái cây, rau củ
- Dùng kèn để thu hút khách
- Người bán đồ ăn rao bằng những lời ngọt ngào để thu hút khách
câu 3
- Tác dụng của việc nêu tên địa danh là:
+ làm tăng tính cụ thể, xác thực cho văn bản
+ giúp người đọc hình dung ẽo các chợ nổi nổi tiếng
+thể hiện sự phong phú, đa dạng của chợ nổi miền tây
câu 4
- Tác dụng của phương tiện phi ngôn ngữ trong văn bản trên là:
+ thu hút sự chú ý của khách từ xa
+ giúp việc mua bán nhanh chóng và thuận lợi
+ tạo nét độc đáo, đặc trưng cho văn hóa của chợ nổi
câu 5
- Vai trò của chợ nổi đối với đời sống của người dân miền tây là:
+ là nơi trao đổi hàng hóa sinh hoạt hằng ngày
+ góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa sông nước
+ thu hút khách du lịch, và phát triển kinh tế địa phương
- Dẫn ý kiến của các nhà thơ, nhà văn lớn trên thế giới (Ét-mông Gia-bét - Edmond Jabès, Gít-đơ - Gide, Pét-xoa - Pessoa), xem như đó là sự hậu thuẫn tích cực cho cách lí giải vấn đề của mình. - Diễn giải ý kiến của Ét-mông Gia-bét theo hướng bám sát ý tưởng đã được đề cập từ nhan đề và phần đầu văn bản. Nếu trong phát biểu của mình, Ét-mông Gia-bét gần như chỉ nói đến vai trò của sáng tạo ngôn từ trong việc xác định danh vị đích thực của nhà thơ, thì Lê Đạt lại phát triển thêm, cho rằng mỗi lần sáng tạo tác phẩm mới lại một lần nhà thơ phải vật lộn với chữ. Rõ ràng, “nhà thơ” không phải là danh vị được tạo một lần cho mãi mãi. Nó có thể bị tước đoạt nếu nhà thơ không chịu khổ công lao động với ngôn từ mỗi khi viết một bài thơ mới.
- Dẫn ý kiến của các nhà thơ, nhà văn lớn trên thế giới (Ét-mông Gia-bét - Edmond Jabès, Gít-đơ - Gide, Pét-xoa - Pessoa), xem như đó là sự hậu thuẫn tích cực cho cách lí giải vấn đề của mình. - Diễn giải ý kiến của Ét-mông Gia-bét theo hướng bám sát ý tưởng đã được đề cập từ nhan đề và phần đầu văn bản. Nếu trong phát biểu của mình, Ét-mông Gia-bét gần như chỉ nói đến vai trò của sáng tạo ngôn từ trong việc xác định danh vị đích thực của nhà thơ, thì Lê Đạt lại phát triển thêm, cho rằng mỗi lần sáng tạo tác phẩm mới lại một lần nhà thơ phải vật lộn với chữ. Rõ ràng, “nhà thơ” không phải là danh vị được tạo một lần cho mãi mãi. Nó có thể bị tước đoạt nếu nhà thơ không chịu khổ công lao động với ngôn từ mỗi khi viết một bài thơ mới.
- Dẫn ý kiến của các nhà thơ, nhà văn lớn trên thế giới (Ét-mông Gia-bét - Edmond Jabès, Gít-đơ - Gide, Pét-xoa - Pessoa), xem như đó là sự hậu thuẫn tích cực cho cách lí giải vấn đề của mình. - Diễn giải ý kiến của Ét-mông Gia-bét theo hướng bám sát ý tưởng đã được đề cập từ nhan đề và phần đầu văn bản. Nếu trong phát biểu của mình, Ét-mông Gia-bét gần như chỉ nói đến vai trò của sáng tạo ngôn từ trong việc xác định danh vị đích thực của nhà thơ, thì Lê Đạt lại phát triển thêm, cho rằng mỗi lần sáng tạo tác phẩm mới lại một lần nhà thơ phải vật lộn với chữ. Rõ ràng, “nhà thơ” không phải là danh vị được tạo một lần cho mãi mãi. Nó có thể bị tước đoạt nếu nhà thơ không chịu khổ công lao động với ngôn từ mỗi khi viết một bài thơ mới.