Lê Nguyễn Phương Uyên
Giới thiệu về bản thân
Câu 1
Câu nói "Bí mật của cuộc sống là ngã bảy lần và đứng dậy tám lần" trong tác phẩm Nhà giả kim của Paulo Coelho là bài học sâu sắc về sự kiên cường và tinh thần vượt khó. "Ngã bảy lần" tượng trưng cho những thất bại, khó khăn không thể tránh khỏi, trong khi "đứng dậy tám lần" thể hiện quyết tâm, sự kiên trì vượt lên trên nghịch cảnh. Nó khẳng định rằng, giá trị con người không nằm ở việc chưa bao giờ thất bại, mà là khả năng đứng dậy sau mỗi lần vấp ngã. Cuộc sống không bao giờ phẳng lặng, nên chỉ khi dám đối mặt và bền bỉ theo đuổi mục tiêu, ta mới tìm thấy thành công và ý nghĩa thực sự của sự sống. Hãy coi thất bại là cơ hội học hỏi, không bao giờ bỏ cuộc, bởi "bí mật" để đi đến đích chính là bền chí. Tóm lại, câu nói nhắc nhở chúng ta cần rèn luyện bản lĩnh, dũng cảm đối mặt với khó khăn để vươn tới thành công.
Câu 2
"Bảo kính cảnh giới" của Nguyễn Trãi là bức tranh tâm cảnh đặc sắc, thể hiện triết lý sống nhàn tản, giữ vững đạo đức cao đẹp giữa thời cuộc biến động. Tác phẩm nổi bật với nghệ thuật thơ Nôm Đường luật kết hợp câu lục ngôn, ngôn ngữ bình dị nhưng giàu sức gợi. Hai câu đề xác lập tâm thế "lánh đục tìm trong". Tác giả thể hiện thái độ ngại ngần trước "bể triều quan" - chốn quan trường hiểm độc, bon chen. Từ đó, ông chọn cách sống ẩn dật, "miễn phận an" - bằng lòng với sự yên bình, lui tới đúng chừng mực. Đây không phải là sự hèn nhát mà là lựa chọn đạo đức để giữ mình trong sạch, không hòa tan vào danh lợi. Hai câu thực và luận khắc họa cuộc sống nhàn tản, thanh cao qua hình ảnh "hương quế lọt" đêm khuya và "bóng hoa tan" ngày quét hiên. Nhịp sống chậm rãi, gần gũi với thiên nhiên cho thấy tâm hồn thư thái, tinh tế. Nguyễn Trãi khẳng định lý tưởng sống: "Nhà ngặt, ta bền đạo Khổng, Nhan". Dù hoàn cảnh khó khăn ("nhà ngặt"), ông vẫn kiên định với đạo lý cao đẹp, không bán rẻ lương tâm. Việc nhắc đến Y, Phó (người có tài) thể hiện tư tưởng trung quân ái quốc vẫn âm ỉ, nhưng ông chọn cách ẩn mình khi thời thế không hợp. Câu kết trích dẫn ý thơ, khẳng định sự trân trọng "nhàn" - cuộc sống thanh nhàn, an nhiên - hơn là theo đuổi danh lợi phù phiếm. Nghệ thuật sử dụng điển tích, điển cố kết hợp với ngôn từ giản dị tạo nên chiều sâu triết lý. Tóm lại, "Bảo kính cảnh giới" (bài 33) là tiếng lòng của một nhân cách cao thượng. Bài thơ vừa là lời tâm sự, vừa là bài học nhân sinh về việc giữ mình, tìm kiếm sự thảnh thơi trong tâm hồn trước những xô bồ của cuộc đời.Câu 1
Kiểu văn bản: Văn bản thông tin (kết hợp yếu tố thuyết minh và miêu tả)
Câu 2
Phương thức biểu đạt chính: Thuyết minh.
câu 3
Nhan đề "Phát hiện 4 hành tinh trong hệ sao láng giềng của Trái đất" rất trực tiếp, ngắn gọn và hấp dẫn. Nó nêu bật thông tin quan trọng nhất (số lượng hành tinh) và tính gần gũi (hệ sao láng giềng), kích thích sự tò mò của người đọc về tin tức thiên văn mới.
Câu 4
- Phương tiện phi ngôn ngữ: Hình ảnh mô phỏng sao Barnard và các hành tinh của nó.
- Tác dụng: Giúp người đọc dễ dàng hình dung về hệ sao, kích thước và vị trí của các hành tinh so với sao mẹ, làm tăng tính trực quan, sinh động và độ tin cậy cho nội dung khoa học khô khan.
- Câu 5
- Văn bản đảm bảo tính chính xác và khách quan:
- Nguồn tin uy tín: Dẫn từ báo cáo trên chuyên san The Astrophysical Journal Letters và các đài thiên văn hàng đầu (Gemini, VLT).
- Thông tin cụ thể: Đưa ra con số chính xác về vị trí (cách chưa đầy 6 năm ánh sáng), số lượng hành tinh (4), khối lượng (20-30% Trái đất) và loại hành tinh (đá).
- Dẫn chứng khách quan: Sử dụng lời kể của các nhà nghiên cứu (Ritvik Basant)
Câu 1
Nhân vật Tâm trong truyện ngắn "Cô hàng xén" của Thạch Lam để lại trong em niềm xúc động sâu sắc về vẻ đẹp tảo tần, hi sinh và giàu tình yêu thương của người phụ nữ Việt Nam truyền thống. Tâm hiện lên là một cô gái nhỏ bé, gánh trên vai cả cuộc mưu sinh vất vả, gánh cả nỗi lo toan cho gia đình, mẹ già và các em. Dù sống trong cảnh nghèo khó, gò bó, Tâm không một lời than vãn, luôn giữ phẩm giá trong sạch, nhân hậu và dịu dàng. Ngòi bút nhẹ nhàng của Thạch Lam đã khắc họa Tâm như một biểu tượng của sự hy sinh thầm lặng, một cuộc đời "xén" nhỏ mình để vun vén cho người khác. Cảm nhận về Tâm là sự thương cảm cho kiếp người nhỏ bé, đồng thời trân trọng, ngợi ca đức tính cao quý, sự bền bỉ của người phụ nữ trước những khắc nghiệt của cuộc sống.
Câu 2
“Hãy nhìn con chim đậu trên cành liễu: Nó thấy cánh sắp gãy mà vẫn vui vẻ hót vì biết rằng mình vẫn còn đôi cánh” (V. Huygo) - Chú chim đậu trên cành nhưng không sợ cành gãy vì nó tin vào đôi cánh, tin vào chính mình. Con người ta cũng vậy, trên chặng đường ta đi, bất cứ lúc nào cũng phải đứng trên vực thẳm khó khăn và ta có niềm tin mọi thứ sẽ được cứu vớt. Bởi thế trong cuốn “Dám thành công” tác giả có viết: “Một người đánh mất niềm tin vào bản thân thì chắc chắn sẽ còn đánh mất thêm nhiều thứ quý giá khác”.
“Niềm tin vào bản thân” là niềm tin vào chính mình, vào năng lực, trí tuệ, phẩm chất, giá trị của mình trong cuộc sống. Đó còn là mình hiểu mình và tự đánh giá được vị trí, vai trò của mình trong các mối quan hệ của cuộc sống. Khi ta đánh mất niềm tin vào bản thân là ta đánh mất tất cả, đánh mất những điều kiện cơ bản và cần thiết để đạt đến những giá trị quý báu khác. Câu nói nhắc nhở chúng ta hãy có niềm tin vào bản thân, đó là bản lĩnh, phẩm chất, năng lực của mỗi người và là nền tảng của niềm yêu cuộc sống, là con đường dẫn tới mọi sự thành công.
Vậy vì sao khi đánh mất niềm tin vào bản thân ta sẽ đánh mất đi nhiều điều quý giá khác? Vì niềm tin vào bản thân là điều cần thiết ở mỗi con người. Mỗi chúng ta luôn mang trong mình những hoài bão, ước mơ riêng. Người luôn tin chính mình sẽ xác định được con đường tương lai riêng và nếu như con đường tàu mơ ước ấy bị cuộc sống đẩy va vào những tảng đá sắc cạnh của thực tế thì họ càng vững vàng vượt qua. Họ tin vào ý chí, nghị lực nên “nghịch cảnh chính là cơ hội để họ bứt phá” (Henry Fielding). Không những vậy niềm tin còn đem lại cho ta tình yêu cuộc sống, yêu con người và luôn hy vọng hướng tới những điều tốt đẹp. Như vậy, phải chăng niềm tin chính là “món quà quý báu” mà tạo hóa ban tặng cho chúng ta. Đánh mất niềm tin thì con người sẽ không còn ý chí, nghị lực để vươn lên bởi “thiếu tự tin là nguyên nhân của phần lớn thất bại” (Bovee) và “niềm tin mà chúng ta dành cho năng lực bản thân sẽ ảnh hưởng một cách sâu sắc đến năng lực chính mình”. Cuộc sống muôn hình vạn trạng, người thiếu tự tin chỉ cần vướng mắc nhỏ đã lo sợ về bản thân không đủ bản lĩnh để vượt qua, dần buông xuôi phó mặc, đầu hàng số phận và đánh mất chính mình. Khi ấy ta đã để đánh mất đi những điều quý giá như tình yêu, hạnh phúc, cơ hội và thời gian… thậm chí là cả sự sống của chính mình.
Trong cuộc sống, không phải con đường nào cũng bằng phẳng mà nó đôi khi là gồ ghề, khúc khuỷu. Nhưng lúc này vẫn có bao con người sẵn sàng vượt qua. Tiêu biểu trong số đó là Roger Bannister. Bạn có tin rằng ta có thể chạy một dặm trong một phút không? Ông ấy thì tin. Ông đã quyết tâm thực hiện đều không thể này bằng việc thể dục hằng ngày và luôn không ngừng lặp lại trong tâm trí rằng mình có thể làm được và ông đã thành công. Hay vận động viên Glenn Cunningham khi còn nhỏ là một cậu bé bị bỏng nặng, phần thân dưới hoàn toàn bị mất cảm giác. Không cam chịu suốt cuộc đời gắn liền với chiếc xe lăn, bằng niềm tin của chính mình, anh đã vươn lên tất cả và trở thành huyền thoại của làng điền kinh Mỹ. Có thể nói, niềm tin đã tạo nên điều kì diệu trong cuộc sống.
Tuy nhiên, ngày nay, có những người luôn thiếu sự tự tin vào chính mình, cũng có những người mới vấp ngã, thất bại lần đầu nhưng lo sợ không làm chủ được mình từ đó dẫn đến thất bại để lại nhiều hậu quả về sau. Hay cũng có nhiều người ngay từ nhỏ đã đủ đầy về vật chất, sống dựa vào bố mẹ mà khi ra ngoài không làm chủ được bản thân trước nhiều khó khăn thử thách. Và họ đều cần lên án, phê phán.
Mỗi chúng ta đều cần nhận thức được tự tin là điều cần thiết nên có ở mỗi người. Nhưng tự tin là cũng phải đi liền với sự khiêm tốn, cẩn trọng, đừng tự tin một cách thái quá mà bước sang ranh giới của tự kiêu, tự phụ. Đừng bao giờ từ bỏ chính mình, bạn hãy tiếp tục đi và rồi bạn sẽ đến đích. Nếu có cảm thấy mệt mỏi, bạn hãy nhìn vào những điều tốt đẹp trong quá khứ để có thể vực dậy niềm tin. Hãy hài lòng với những gì mà bạn đang sở hữu, luôn nhìn mọi việc theo chiều hướng tốt đẹp. Đừng để nỗi sợ hãi cản trở bạn thực hiện những mục tiêu mà mình đã đặt ra. Niềm tin giúp bạn sống lạc quan hơn, giảm bớt căng thẳng, lo âu, phiền muộn. Đồng thời đem đến nguồn năng lượng sống tích cực tới cho mọi người. Nếu xung quanh mình là những người luôn tự tin, bạn sẽ cảm thấy mình mạnh mẽ hơn.
Niềm tin sẽ trở thành động lực thúc đẩy chúng ta vượt qua khó khăn, bất hạnh, như nhà văn Nguyễn Khải đã viết: “Ở đời này không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải có đủ sức mạnh để bước qua những ranh giới ấy”. Cuộc sống này không gì không thể, chỉ cần có niềm tin vào bản thân mọi ranh giới “sẽ dần bị xóa bỏ và bạn sẽ thành công”.
- Bến vắng bên sông (nơi đón nhận những con thuyền tránh gió).
- Cây (tự quên mình trong quả).
- Trời xanh nhẫn nại sau mây.
- Biện pháp tu từ: So sánh (Đời mẹ như cây tự quên mình...) hoặc có thể nhận diện là Câu hỏi tu từ ("Quả chín rồi ai dễ nhớ ơn cây").
- Tác dụng: Nhấn mạnh sự hy sinh thầm lặng, quên mình của người mẹ vì con cái, đồng thời gợi suy ngẫm, nhắc nhở về sự vô tâm của con người khi thường quên đi công lao của đấng sinh thành.
- Thể hiện mong muốn, ước nguyện chân thành của người con muốn dành những lời nói ấm áp, âu yếm, sự quan tâm, chăm sóc ("lời đằm thắm") để an ủi, vỗ về, mang lại sự bình yên, hạnh phúc cho mẹ khi về già.
- Sự thức tỉnh về trách nhiệm hiếu thảo, muốn bù đắp những vất vả, hy sinh mà mẹ đã trải qua.
- Sự hy sinh của mẹ là vô điều kiện và thầm lặng, con cái cần biết ơn và trân trọng.
- Cần thể hiện tình yêu thương, sự quan tâm bằng hành động và lời nói cụ thể trước khi quá muộn.
- Trách nhiệm hiếu thảo, chăm sóc cha mẹ khi về già.
Câu 1
Trong thời đại số hóa và biến động không ngừng, tính sáng tạo là yếu tố sống còn, chìa khóa vàng giúp thế hệ trẻ khẳng định bản thân và kiến tạo tương lai. Sáng tạo giúp người trẻ vượt qua lối mòn tư duy, tìm ra những giải pháp đột phá, hiệu quả trong học tập và công việc. Nó không chỉ thúc đẩy sự phát triển cá nhân, giúp các bạn thích nghi nhanh chóng với công nghệ mới mà còn là động lực khởi nghiệp, tạo ra giá trị vật chất và tinh thần to lớn cho cộng đồng
. Thiếu sự sáng tạo, giới trẻ dễ trở nên thụ động, máy móc và tụt hậu trước sự tiến bộ của xã hội. Hơn nữa, sáng tạo thể hiện bản sắc riêng, dám nghĩ dám làm, giúp người trẻ biến những ý tưởng táo bạo thành hiện thực, từ đó đóng góp vào sự tiến bộ chung của đất nước. Vì vậy, nuôi dưỡng tư duy sáng tạo trên nền tảng tri thức vững chắc là trách nhiệm và cơ hội để thế hệ trẻ tạo nên những dấu ấn rực rỡ trong thời đại mới.Câu 2
Nguyễn Ngọc Tư từ lâu đã nổi tiếng với những trang văn thấm đẫm tình người, phác họa nên những mảnh đời lênh đênh trên vùng sông nước Nam Bộ. Trong truyện ngắn Biển người mênh mông, qua hai nhân vật Phi và ông Sáu Đèo, tác giả đã khắc họa một cách sâu sắc vẻ đẹp tâm hồn của con người nơi đây: bình dị, bao dung, trọng tình nghĩa và đầy khao khát yêu thương giữa cái "biển người" mênh mông cô đơn. Trước hết, nhân vật Phi gợi lên sự đồng cảm về một kiếp người chịu nhiều thiếu thốn tình cảm. Sinh ra không có ba, má bỏ đi, Phi sống với ngoại, lớn lên trong sự hững hờ của đấng sinh thành. Sự lôi thôi, xấp xãi ở tuổi 33 của Phi không chỉ là vẻ bề ngoài mà là sự hoang hoải của một tâm hồn thiếu vắng sự chăm sóc. Tuy nhiên, ẩn sau dáng vẻ ấy là một tâm hồn nhạy cảm, trân trọng nghĩa tình. Dù má không quan tâm, Phi vẫn lặng lẽ nhận lấy những lời hờ hững. Nỗi cô đơn của Phi là nỗi cô đơn của biết bao thân phận lạc lõng, cần một chỗ dựa tinh thần. Đối lập và cũng là người bạn lớn của Phi là ông già Sáu Đèo. Ông Sáu là hình ảnh tiêu biểu cho sự chân thành, mộc mạc và thủy chung của người dân Nam Bộ. Dù nghèo khó, chỉ với "bốn cái thùng các tông" đồ đạc, ông mang đến sự ấm áp lạ thường. Câu chuyện tình yêu dang dở của ông - đi tìm vợ suốt 40 năm chỉ để nói lời xin lỗi - khiến người đọc xúc động sâu sắc. Nó cho thấy lòng nhân hậu, sự hối lỗi và khao khát gắn kết tình cảm vượt lên trên những toan tính đời thường. Ông Sáu không chỉ mang nỗi buồn riêng mà còn là người thấu hiểu, san sẻ nỗi cô đơn với Phi, trở thành điểm tựa vững chãi cho cậu. Tình cảm giữa Phi và ông Sáu Đèo - hai kẻ xa lạ dọn về chung vách - là minh chứng cho sự gắn bó, tình làng nghĩa xóm cao đẹp. Sự tin tưởng của ông Sáu khi gửi gắm con bìm bịp cho Phi, hay sự run rẩy, lo lắng của Phi khi ông đi, cho thấy họ đã trở thành gia đình của nhau. Đó là sự sẻ chia, thấu hiểu giữa những con người cùng khổ, tìm thấy nhau giữa biển người mênh mông. Truyện Biển người mênh mông không chỉ là câu chuyện về hai nhân vật, mà là khúc ca về tình người bền chặt. Con người Nam Bộ qua ngòi bút Nguyễn Ngọc Tư, dù có phải trải qua bao thăng trầm, "dời nhà ba mươi ba bận", vẫn giữ được nét chân chất, bao dung và tấm lòng ấm áp. Tóm lại, qua Phi và ông Sáu Đèo, Nguyễn Ngọc Tư đã tôn vinh những vẻ đẹp tâm hồn cao quý của con người Nam Bộ. Họ là những điểm sáng nhân văn, khiến biển người dù mênh mông, lạnh lẽo đến đâu cũng trở nên ấm áp, đáng sống bởi tình người ấm nồng.Câu 1
Kiểu văn bản: Văn bản thông tin (kết hợp yếu tố thuyết minh và miêu tả)
Câu 2
Những hình ảnh, chi tiết thú vị về cách giao thương, mua bán:- Người buôn bán, người mua đi lại, nhóm họp bằng xuồng, ghe (xuồng ba lá, ghe máy).
- Cảnh giao thương trên sông, xuồng con len lỏi giữa hàng trăm ghe thuyền.
- Cách "bẹo hàng": Dùng cây sào tre treo hàng hóa (trái cây, củ khoai, chôm chôm...) lên cao để khách dễ nhìn thấy từ xa.
- "Bẹo" bằng âm thanh: Kèn bấm tay, kèn đạp chân, lời rao chè đậu đen, nước dừa... lảnh lót, thiết tha.
- "Bẹo" bằng hiện vật: Treo tấm lá lợp nhà để rao bán chiếc ghe.
- Câu 3
- Tác dụng của việc sử dụng tên các địa danh (Cái Bè, Cái Răng, Phong Điền, Ngã Bảy, Ngã Năm, Cà Mau...):
- Tạo sự cụ thể, chân thực, độ tin cậy cho thông tin.
- Cho thấy chợ nổi là nét đặc trưng, phổ biến, tiêu biểu khắp vùng miền Tây Nam Bộ.
- Giúp người đọc dễ hình dung về không gian văn hóa sông nước.
- Câu 4
Tác dụng của phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ (hình ảnh minh họa chợ nổi, "cây bẹo", xuồng ghe): - Giúp văn bản sinh động, hấp dẫn, trực quan hơn.
- Cụ thể hóa các khái niệm "bẹo hàng", "cây sào tre", "xuồng ghe", giúp người đọc dễ dàng hình dung nét đặc trưng của chợ nổi.
- Làm tăng tính thuyết phục và xác thực của thông tin.
Vai trò của chợ nổi đối với đời sống người dân miền Tây:
- Về kinh tế: Là nơi giao thương, buôn bán hàng hóa (nông sản, trái cây, thực phẩm) chính của người dân, đóng góp vào sự phát triển kinh tế vùng.
- Về văn hóa: Lưu giữ, bảo tồn nét sinh hoạt, tập quán độc đáo của cư dân vùng sông nước từ xưa đến nay.
- Về du lịch: Trở thành điểm tham quan hấp dẫn, thu hút khách du lịch, giúp quảng bá hình ảnh văn hóa miền Tây.
- Về đời sống: Là một phần không thể thiếu, gắn liền với nhịp sống hàng ngày của người dân nơi đây.
Gọi chều dài đoạn dây điện kéo từ A đến B là AB=x (km) (0<x<5)
Khi đó chiều dài dây điện kéo từ B đến C là BC=√1+(5−x)2=√x2−10x+26 (km)
Tổng số tiền công là 3√x2−10x+26+2x=13 (triệu đồng).
Theo đề ta có: 3√x2−10x+26+2x=13⇔3√x2−10x+26=13−2x.
Bình phương hai về của phương trình ta được:
9(x2−10x+26)=169−52x+4x2⇔5x2−38x+65=0⇔[x=5x=135.
Thay các giá trị của x vào phương trình ban đầu và kết hợp với điều kiện ta thấy x=135 là nghiệm.
Khi đó AB=x=135⇒BC=135.
Vậy tổng chiều dài dây điện đã kéo từ A đến C là AB+BC=265=5,2 (km).
a) Tính \(c o s \alpha\)
- Xác định hệ số a, b của các đường thẳng:
- Đường thẳng \(\Delta : 3 x + 4 y + 7 = 0\) => \(a_{1} = 3 , b_{1} = 4\)
- Đường thẳng \(\Delta_{1} : 5 x - 12 y + 7 = 0\) => \(a_{2} = 5 , b_{2} = - 12\)
- Sử dụng công thức tính \(cos \) của góc giữa hai đường thẳng:
\(c o s \alpha = \frac{a_{1} a_{2} + b_{1} b_{2}}{\sqrt{\left(\right. a_{1}^{2} + b_{1}^{2} \left.\right) \left(\right. a_{2}^{2} + b_{2}^{2} \left.\right)}}\) - Thay số và tính toán:
\(c o s \alpha = \frac{3 \cdot 5 + 4 \cdot \left(\right. - 12 \left.\right)}{\sqrt{\left(\right. 3^{2} + 4^{2} \left.\right) \left(\right. 5^{2} + \left(\right. - 12 \left.\right)^{2} \left.\right)}}\)
\(= \frac{15 - 48}{\sqrt{\left(\right. 9 + 16 \left.\right) \left(\right. 25 + 144 \left.\right)}}\)
\(= \frac{- 33}{\sqrt{25 \cdot 169}} = \frac{- 33}{65}\)
Kết quả a:
\(c o s \alpha = \frac{- 33}{65}\)
b) Viết phương trình đường thẳng vuông góc với \(\Delta\) và tiếp xúc \(\left(\right. C \left.\right)\)
- Tính hệ số góc của đường thẳng \(\Delta\):
\(\text{H}ệ \& \text{nbsp} ; \text{s} \& \text{nbsp} ; \text{g} \text{c} \& \text{nbsp} ; \left(\right. \text{m} \left.\right) \& \text{nbsp} ; \text{c}ủ\text{a} \& \text{nbsp} ; \Delta = - \frac{a_{1}}{b_{1}} = - \frac{3}{4}\) - Hệ số góc của đường thẳng vuông góc với \(\Delta\):
\(m_{1} = \frac{4}{3}\) - Viết phương trình dạng tổng quát:
\(y - y_{0} = m_{1} \left(\right. x - x_{0} \left.\right)\)
với \(\left(\right. x_{0} , y_{0} \left.\right)\) là điểm tiếp xúc. Điểm tiếp xúc sẽ nằm trên đường tròn, nên ta cần tìm điểm đó. - Tính tọa độ tâm và bán kính:
Tâm \(T \left(\right. 3 , - 2 \left.\right)\) và bán kính \(R = 6\) (vì \(\left(\right. x - 3 \left.\right)^{2} + \left(\right. y + 2 \left.\right)^{2} = 36\)) - Phương trình đường thẳng tiếp xúc tại điểm \(P\) có tọa độ \(\left(\right. x_{0} , y_{0} \left.\right)\) sẽ có dạng:
\(\left(\right. y + 2 \left.\right) = \frac{4}{3} \left(\right. x - 3 \left.\right)\)
Thay \(y\) vào phương trình đường tròn \(\left(\right. C \left.\right)\):
\(\left(\right. x - 3 \left.\right)^{2} + \left(\left(\right. \left(\right. \frac{4}{3} \left(\right. x - 3 \left.\right) - 2 \left.\right) \left.\right)\right)^{2} = 36\) - Giải phương trình để tìm \(x_{0}\) và \(y_{0}\):
Giải phương trình trên sẽ cho ta điểm tiếp xúc \(\left(\right. x_{0} , y_{0} \left.\right)\). - Từ tọa độ \(P \left(\right. x_{0} , y_{0} \left.\right)\), viết phương trình đường thẳng vuông góc với \(\Delta\) và có dạng:
\(y - y_{0} = \frac{4}{3} \left(\right. x - x_{0} \left.\right)\)
a) −2x2+18x+200≥0
x2−9x−100≤0
(x+1)(x−10)≤0
⇒[x+1≥0x−10≤0
⇒[x≥−1x≤10
⇒−1≤x≤10
Vậy −1≤x≤10
b) ĐKXĐ: \(2 x^{2} - 8 x + 4 > = 0\)
=>\(x^{2} - 4 x + 2 > = 0\)
=>\(x^{2} - 4 x + 4 - 2 > = 0\)
=>\(\left(\left(\right. x - 2 \left.\right)\right)^{2} > = 2\)
=>\(\left[\right. x - 2 > = \sqrt{2} \\ x - 2 < = - \sqrt{2} \Leftrightarrow \left[\right. x > = 2 + \sqrt{2} \\ x < = - \sqrt{2} + 2\)
\(\sqrt{2 x^{2} - 8 x + 4} = x - 2\)
=>\(\left{\right. 2 x^{2} - 8 x + 4 = \left(\left(\right. x - 2 \left.\right)\right)^{2} \\ x - 2 > = 0\)
=>\(\left{\right. 2 x^{2} - 8 x + 4 - x^{2} + 4 x - 4 = 0 \\ x > = 2 \Leftrightarrow \left{\right. x^{2} - 4 x = 0 \\ x > = 2\)
=>x=4(nhận)
Cách triển khai quan điểm Luận điểm chính: "Chữ bầu lên nhà thơ" có nghĩa là quá trình lao động sáng tạo với ngôn từ (chữ nghĩa) là yếu tố cốt lõi, quyết định sự thành công của nhà thơ, chứ không phải một danh xưng hay chức vụ do người khác phong tặng. Lí lẽ và dẫn chứng: Tác giả đã đưa ra nhiều lí lẽ và dẫn chứng để làm rõ luận điểm này, bao gồm: Phân tích từ ngữ: Tác giả phân tích ý nghĩa của các từ "bầu" (mang tính dân chủ, tôn vinh) và "chức nhà thơ" (danh xưng hành chính, không phản ánh thực chất tài năng). Dẫn chứng từ thực tế văn học: Sử dụng các ví dụ cụ thể về những nhà thơ tài năng nhưng không có "chức" hoặc những người có "chức" nhưng không được công chúng thừa nhận qua tác phẩm. Khẳng định vai trò của chữ nghĩa: Nhấn mạnh rằng công việc của nhà thơ là "xe chữ", "làm xiếc với chữ", tìm tòi và sáng tạo ra những từ ngữ độc đáo, có sức sống.