Nghiêm Nam Khánh
Giới thiệu về bản thân
Truyện ngắn Biển người mênh mông của Nguyễn Ngọc Tư đã khắc họa rõ nét vẻ đẹp và số phận của con người Nam Bộ qua hai nhân vật Phi và ông Sáu Đèo – những con người bình dị nhưng giàu tình nghĩa. Trước hết, Phi hiện lên là một con người cô đơn, lớn lên trong hoàn cảnh thiếu thốn tình cảm gia đình. Từ nhỏ đã không có cha bên cạnh, mẹ lại rời xa, Phi sống nương tựa vào bà ngoại nên sớm trải đời, hiểu chuyện. Dù cuộc sống nhiều tổn thương, anh vẫn âm thầm chịu đựng, không oán trách, thể hiện sự nhẫn nại, chịu thương chịu khó – phẩm chất quen thuộc của người Nam Bộ. Bên cạnh đó, Phi còn là người giàu tình cảm, biết trân trọng những mối quan hệ giản dị, thể hiện qua việc gắn bó và tin tưởng ông Sáu Đèo.
Nhân vật ông Sáu Đèo lại mang một vẻ đẹp khác: chân chất, phóng khoáng nhưng rất nặng tình, nặng nghĩa. Cuộc đời ông lênh đênh sông nước, từng có một gia đình nghèo nhưng ấm áp. Khi vợ bỏ đi vì cuộc sống khó khăn, ông không oán hận mà dành gần cả đời để tìm kiếm chỉ với mong muốn được nói một lời xin lỗi. Điều đó cho thấy tấm lòng thủy chung, nghĩa tình sâu nặng của con người Nam Bộ. Ngay cả khi rời đi, ông vẫn gửi lại con bìm bịp cho Phi, thể hiện niềm tin và sự gắn bó giữa những con người xa lạ mà thân thương.
Qua hai nhân vật, Nguyễn Ngọc Tư đã làm nổi bật vẻ đẹp của con người Nam Bộ: mộc mạc, chân thành, giàu tình cảm và nghĩa khí, dù cuộc đời còn nhiều khó khăn, bất hạnh. Đồng thời, tác phẩm còn thành công về nghệ thuật với lối kể chuyện tự nhiên, ngôn ngữ đậm chất Nam Bộ, giàu sức gợi, góp phần khắc họa sâu sắc hình ảnh con người và cuộc sống nơi đây.
Câu 1.
Văn bản trên thuộc kiểu văn bản thông tin (thuyết minh), cung cấp tri thức về chợ nổi – một nét văn hóa đặc trưng của miền Tây.
Câu 2:
Một số hình ảnh, chi tiết cho thấy cách giao thương thú vị trên chợ nổi
-Người mua, người bán đều di chuyển bằng xuồng, ghe; các xuồng len lỏi giữa hàng trăm ghe thuyền.
-Cách rao hàng bằng “cây bẹo”: treo trái cây, rau củ lên sào để khách nhìn thấy từ xa.
-“Bẹo” hàng bằng âm thanh: dùng kèn bấm tay, kèn đạp chân.
-Rao hàng bằng lời: những câu mời gọi dân dã, gần gũi như “Ai ăn chè đậu đen… hôn?”.
Câu 3:
Việc sử dụng tên các địa danh (Cái Bè, Cái Răng, Phong Điền, Ngã Bảy, Ngã Năm,…) có tác dụng:
-Tăng tính cụ thể, xác thực cho thông tin
-Giúp người đọc hình dung rõ phạm vi phân bố của chợ nổi
-Góp phần làm nổi bật sự phong phú, đặc trưng của văn hóa miền Tây
Câu 4.
Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ trong văn bản là “cây bẹo”, âm thanh kèn,… có tác dụng:
-Giúp việc mua bán trở nên thuận tiện trên sông nước
-Thu hút sự chú ý của khách hàng
-Tạo nên nét độc đáo, đặc trưng riêng của chợ nổi
Câu 5.
Chợ nổi có vai trò quan trọng đối với đời sống người dân miền Tây:
-Là nơi giao thương, buôn bán, trao đổi hàng hóa
-Góp phần duy trì và phát triển kinh tế địa phương
-Thể hiện nét văn hóa đặc trưng của vùng sông nước
-Trở thành điểm thu hút du lịch, quảng bá hình ảnh miền Tây
Câu 1:
Câu nói: “Bí mật của cuộc sống là ngã bảy lần và đứng dậy tám lần” đã gửi gắm một thông điệp sâu sắc về ý chí và nghị lực của con người trong hành trình sống. Trong cuộc đời, không ai có thể tránh khỏi những thất bại, vấp ngã; điều quan trọng không phải là ta đã ngã bao nhiêu lần, mà là sau mỗi lần như vậy, ta có đủ dũng khí để đứng lên hay không. Thất bại giúp con người nhận ra hạn chế của bản thân, từ đó rút ra bài học quý giá để trưởng thành hơn. Nếu dễ dàng buông xuôi, con người sẽ mãi giậm chân tại chỗ và đánh mất cơ hội chạm đến thành công. Ngược lại, sự kiên trì và tinh thần không bỏ cuộc sẽ giúp ta vượt qua nghịch cảnh, khẳng định giá trị của chính mình. Thực tế đã chứng minh, nhiều người thành công đều từng trải qua không ít thất bại trước khi đạt được thành tựu. Vì vậy, mỗi người cần rèn luyện bản lĩnh, giữ vững niềm tin và ý chí vươn lên trong cuộc sống. Chỉ khi biết đứng dậy sau những lần vấp ngã, ta mới có thể tiến xa và chạm tới những điều tốt đẹp hơn.
Câu 2:
Bài thơ “Bảo kính cảnh giới” (bài 33) của Nguyễn Trãi thể hiện sâu sắc tâm trạng và nhân cách cao đẹp của một trí thức lớn trong hoàn cảnh nhiều biến động. Trước hết, về nội dung, bài thơ bộc lộ thái độ chán ghét danh lợi, mong muốn sống thanh nhàn, giữ trọn khí tiết. Hai câu đề cho thấy sự lựa chọn dứt khoát của tác giả: không màng “vượt bể triều quan” mà chọn “miễn phận an”, sống cuộc đời ẩn dật, tránh xa vòng danh lợi. Hai câu thực gợi tả bức tranh sinh hoạt giản dị mà tinh tế: hương quế thoảng trong đêm, cánh hoa rụng trước hiên nhà, qua đó thể hiện tâm hồn nhạy cảm, yêu thiên nhiên và tìm thấy sự an yên trong những điều bình dị. Đến hai câu luận, tác giả bày tỏ quan niệm sống rõ ràng: dù đời cần người tài như Y, Phó, nhưng trong hoàn cảnh “nhà ngặt”, ông vẫn giữ vững đạo lý của bậc hiền triết “Khổng, Nhan”. Hai câu kết khẳng định dứt khoát lựa chọn sống ẩn dật, đề cao lối sống thanh cao, coi nhẹ danh lợi: “danh lợi bất như nhàn”.
Về nghệ thuật, bài thơ được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, với kết cấu chặt chẽ, đối ngẫu cân xứng. Ngôn ngữ cô đọng, hàm súc, giàu tính biểu cảm; hình ảnh thiên nhiên giàu sức gợi, vừa tả cảnh vừa ngụ tình. Việc sử dụng điển tích (Y, Phó; Khổng, Nhan) góp phần làm tăng tính trang trọng và chiều sâu tư tưởng. Giọng điệu trầm tĩnh, suy tư, thể hiện phong thái ung dung, tự tại của tác giả.
Nhìn chung, bài thơ không chỉ thể hiện tâm hồn thanh cao, khí tiết của Nguyễn Trãi mà còn gửi gắm triết lí sống sâu sắc: biết buông bỏ danh lợi để giữ gìn nhân cách và tìm đến sự an nhiên trong tâm hồn.
Câu 1:
Đây là văn bản thông tin
Văn bản cung cấp thông tin về việc phát hiện các hành tinh quanh sao Barnard, kèm theo số liệu và dẫn chứng cụ thể
Câu 2:
Phương thức biểu đạt chính là thuyết minh.
Ngoài ra, có kết hợp yếu tố tường thuật (kể lại quá trình phát hiện) và trích dẫn ý kiến chuyên gia để tăng độ tin cậy.
Câu 3:
-Ngắn gọn, rõ ràng, nêu trực tiếp nội dung chính
-Có tính thời sự và hấp dẫn (gợi sự tò mò về “hệ sao láng giềng”)
-Mang tính thông tin cao, giúp người đọc nhanh chóng nắm được vấn đề chính.
Câu 4:
Phương tiện phi ngôn ngữ: Hình ảnh mô phỏng sao Barnard và các hành tinh của nó
- Tác dụng:
+Minh họa trực quan cho nội dung văn bản
+Giúp người đọc dễ hình dung hệ hành tinh được đề cập
+Tăng tính sinh động và hấp dẫn cho bài viết
+Hỗ trợ việc tiếp nhận thông tin khoa học hiệu quả hơn
Câu 5 :
Văn bản có tính chính xác và khách quan cao, vì:
+Đưa ra thông tin cụ thể (thời gian công bố, số lượng hành tinh, khoảng cách…)
+Có dẫn nguồn rõ ràng (tạp chí khoa học, đài ABC News, Đại học Chicago)
+Trích dẫn ý kiến của nhà khoa học
+Ngôn ngữ mang tính trung lập, ít cảm xúc
Dẫn ý kiến của các nhà thơ, nhà văn lớn trên thế giới (Ét-mông Gia-bét - Edmond Jabès, Gít-đơ - Gide, Pét-xoa - Pessoa), xem như đó là sự hậu thuẫn tích cực cho cách lí giải vấn đề của mình.
- Diễn giải ý kiến của Ét-mông Gia-bét theo hướng bám sát ý tưởng đã được đưa ra đề đề và phần đầu văn bản. Nếu trong phát biểu của mình, Ét-mông Gia-bét gần như chỉ nói đến vai trò của sáng tạo ngôn ngữ trong công việc xác định mục tiêu đích thực của nhà thơ, thì Lê Đạt lại phát triển thêm, cho rằng mỗi lần sáng tạo tác phẩm mới lại một lần nhà thơ phải vật lộn với chữ. Rõ ràng, “nhà thơ” không phải là danh vị được tạo ra một lần cho mãi mãi. Nó có thể được mã hóa nếu nhà thơ không chịu đau khổ lao động với ngôn ngữ mỗi khi viết một bài thơ mới.
Tác giả lập luận rằng chữ nghĩa không chỉ là công cụ biểu đạt mà còn là yếu tố tạo nên giá trị nghệ thuật của thơ. Dẫn chứng là những ví dụ về cách dùng chữ độc đáo, sáng tạo của các nhà thơ nổi tiếng, thể hiện khả năng biến hóa ngôn từ thành cảm xúc và hình ảnh sống động.
- Lập luận của tác giả sâu sắc, giàu tính thuyết phục, cho thấy sự am hiểu về ngôn ngữ và nghệ thuật thơ. Việc sử dụng dẫn chứng cụ thể giúp tăng tính thực tiễn và làm nổi bật vai trò của chữ trong việc hình thành phong cách thơ độc đáo.
=> Sự so sánh ngầm, dựa trên sự phát hiện về mối tương đồng giữa hoạt động sáng tạo của nhà thơ và lao động của người nông dân trên đồng ruộng, xét trên cả hai mặt: sự lao khổ và thành tựu cuối cùng có được đều do sự lao động vất vả, nghiêm túc, tâm huyết mà có.
Tác giả “rất ghét” cái quan niệm: các nhà thơ Việt Nam thường chín sớm nên cũng lụi tàn và “không mê” các nhà thơ thần đồng, những người sống bằng vốn trời cho
Tác giả "ưa" những nhà thơ chăm chỉ làm việc trên cánh đồng giấy, tích góp từng câu chữ, hạt chữ.