Ngô Minh Hằng
Giới thiệu về bản thân
Câu 1:
Câu nói của Paul Coelho: “Bí mật của cuộc sống là ngã bảy lần và đứng dậy tám lần” nhấn mạnh ý nghĩa của sự kiên trì trong cuộc sống. Thất bại là điều không thể tránh khỏi, bởi mỗi con người đều phải trải qua những thử thách, khó khăn trên hành trình trưởng thành. Tuy nhiên, điều quan trọng không nằm ở việc ta đã ngã bao nhiêu lần, mà là sau mỗi lần vấp ngã, ta có đủ dũng khí để đứng dậy hay không. Đứng dậy sau thất bại giúp con người rút ra bài học, tích lũy kinh nghiệm và trở nên mạnh mẽ hơn. Nếu dễ dàng bỏ cuộc, ta sẽ không bao giờ đạt được thành công. Trong thực tế, nhiều người nổi tiếng đã từng thất bại nhiều lần trước khi thành công, chính sự kiên trì đã giúp họ chạm tới ước mơ. Vì vậy, mỗi học sinh cần rèn luyện ý chí, không sợ sai, không nản chí trước khó khăn. Câu nói là lời nhắc nhở mỗi chúng ta phải luôn vững vàng, lạc quan và không ngừng cố gắng để vươn tới mục tiêu trong cuộc sống.
Câu 2:
Nguyễn Trãi (1380 – 1442) là một vị anh hùng tên tuổi lẫy lừng trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta, là một con người tài năng kiệt xuất. “Quốc âm thi tập” là một tác phẩm thơ Nôm vô cùng nổi tiếng của Nguyễn Trãi. Bài thơ Cảnh ngày hè là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất trong tập thơ. Bài thơ là nơi mà tác giả đã gửi gắm mọi tư tưởng, tình cảm yêu đời, yêu thiên nhiên và ước vọng cao đẹp của mình
Bài thơ Cảnh ngày hè thể hiện vẻ đẹp độc đáo của bức tranh ngày hè và vẻ đẹp tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu đời, yêu nhân dân, đất nước của Nguyễn Trãi. Bài thơ mang vẻ đẹp bình dị, tự nhiên, có sự đan xen câu lục ngôn và bài thơ thất ngôn. Mạch cảm xúc của bài thơ từ thư thái, thanh thản pha sắc thái bất đắc dĩ, có phần chán ngán đến hứng khởi, phấn chấn đó là mạch cảm xúc của Cảnh ngày hè.
Cảnh ngày hè hiện ra thật đẹp, đầy sức sống với những chi tiết cụ thể, sinh động: tán hoè xanh thẫm che rợp, thạch hựu bên hiên nhà còn phun màu đỏ, sen hồng trong ao ngát mùi hương, tiếng lao xao vọng lại từ làng chài, tiếng ve như tiếng đàn vang dội lên. Bức tranh cho thấy sức sống sinh sôi, rạo rực khắp nơi nơi.
Bức tranh ngày hè được hiện lên một cách nhàn tản nhưng vẫn sinh động và đầy sức sống. Cảnh sắc hè trước hết là bóng hòe, màn hòe. Lá hòe xanh thẫm, xanh lục. Cảnh hòe sum sê, um tùm, lá “đùn đùn” lên thành chùm, thành đám xanh tươi, tràn đầy sức sống:
“Rồi hóng mát thuở ngày trường.
Hòe lục đùn đùn tán rợp trương
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương”
Màu xanh của hòe, đỏ của lựu, sen hồng dưới ao.Tất cả hiện lên rực rỡ, màu sắc có sự hài hòa, tươi thắm. Ba loài cây với ba dáng vẻ khác nhau nhưng tất cả đều có hồn. Thiên nhiên ấy chứa chan bao cảm xúc, lúc dịu nhẹ lan tỏa lúc bừng bừng phun trào. Nguyễn Trãi đã chọn hòe, thạch lựu, sen hồng đưa vào thơ. Sen là biểu tượng cho cảnh sắc mùa hè làng quê ta. Sen trong ao làng đã “tiễn mùi hương” gợi không cảnh làng quê thanh bình, không khí thanh cao thoát tục. Cảnh sắc ấy vô cùng xinh đẹp và bình dị. Nhà thơ đã gắn tâm hồn mình với cảnh vật mùa hè bằng một tình quê đẹp và cảm nhận vẻ đẹp của nó bằng nhiều giác quan.
Giữa khung cảnh thiên nhiên ấy, nhà thơ để lòng mình hòa cùng thiên nhiên đầy sức sống. Nguyễn Trãi không chỉ nhìn bằng mắt mà còn trải lòng mình để lắng nghe âm thanh muôn vẻ của thiên nhiên:
"Lao xao chợ cá làng ngư phủ
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương”
Chợ là hình ảnh thái bình trong tiềm thức của người Việt. Chợ đông vui thì đất nước thái bình thịnh trị, dân giàu đủ.Nhà thơ lắng nghe nhịp sống đời thường ấy với bao niềm vui. “Lao xao” là từ láy tượng thanh gợi tả sự ồn ào, nhộn nhịp Cảnh vật yên vui bởi sự thanh thản đang xâm chiếm tâm hồn nhà thơ.Bức tranh thiên nhiên ấy đã thổi bùng lên trong ông khát vọng cháy bỏng:
“Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng
Dân giàu đủ khắp đòi phương”
Ngu cầm là cây đàn thần của Thuấn, vua Nghiêu, Thuấn là hai ông vua thời cổ đại Trung Quốc với triều đại lý trị vì lý tưởng nhân dân được sống trong hạnh phúc, thanh bình. Nguyễn Trãi mơ chiếc đàn của vua Thuấn để gảy khúc nam phong cho dân được ấm no hạnh phúc. Câu thơ 6 chữ kết thúc nhấn mạnh niềm ước mơ ấy. Ước mơ rất đỗi bình thường mà vĩ đại, lãng mạn mà thực tế. Nó thể hiện tư tưởng nhân nghĩa của ông. Lý tưởng dân giàu đủ khắp đòi phương của Nguyễn Trãi với hôm nay vẫn còn mang ý nghĩa thẩm mỹ. Câu kết cảm xúc trữ tình được diễn tả bằng một điển tích phản ánh khát vọng cao đẹp của nhà thơ.
Nguyễn Trãi là một con người kiệt xuất của dân tộc ta, cả cuộc đời ông là một cuộc hành trình dài, nhiều gian lao về lý tưởng lo cho dân, cho nước. Công trạng cũng nhiều, ông là người đã có những đóng góp to lớn trong lĩnh vực quân sự và nhiếp chính khi ông còn đương nhiệm làm quan. Một lòng một dạ trung quân, ái quốc, tấm lòng ấy có trời biết, đất biết, cũng rất được công nhận. Tuy nhiên, ông cũng phải chấp nhận lẽ đời mà ông không sao chống lại được. Cũng như bao con người trí thức, có tấm lòng biệt nhỡn liên tài nhưng không được trọng dụng, họ lại tìm đến những thú vui tao nhã điền viên – lâm tuyền để cân bằng lại cho mình những niềm tin, những hy vọng. Nguyễn Trãi cũng vậy, ông sớm nhận ra sự phù du của vòng danh lợi và rồi chọn cuộc sống ẩn dật, lánh đời, tự do tự tại, giúp tâm hồn có những khoảnh khắc thanh thản nhẹ nhàng lạ thường. Tuy nhiên, không phải ông đi lánh đờ là rũ bỏ hết trách nhiệm với đời mà ông vẫn quan tâm đến việc thế sự theo một cách rất riêng biệt.
Bài thơ miêu tả bức tranh ngày hè sinh động và tràn đầy sức sống. Sức sống của sự vật trong trong bức tranh tả cảnh mùa hè cũng thể hiện cảm xúc, niềm yêu đời trong tâm hồn nhà thơ.
Câu 1.
Kiểu văn bản: Văn bản thông tin.
Câu 2.
Phương thức biểu đạt chính: Thuyết minh.
Câu 3.
Nhan đề “Phát hiện 4 hành tinh trong hệ sao láng giềng của Trái Đất”:
- Là một nhan đề rõ ràng, thể hiện trực tiếp đối tượng thông tin trong văn bản (4 hành tinh mới trong một hệ sao gần Trái đất) và khái quát được nội dung cốt lõi của bài viết.
- Có tính hấp dẫn, khơi gợi sự tò mò của người đọc khi sử dụng động từ “phát hiện” ở đầu câu và dùng cụm từ “hệ sao láng giềng” thúc đẩy người đọc quan tâm, tìm hiểu về những phát hiện mới mẻ này.
=> Nhan đề ngắn gọn, súc tích, truyền tải chính xác nội dung cốt lõi, đồng thời khơi gợi trí tò mò của người đọc về một khám phá khoa học mới mẻ, hấp dẫn.
Câu 4.
- Phương tiện phi ngôn ngữ: Hình ảnh mô phỏng sao Barnard và các hành tinh của nó.
- Tác dụng: Giúp người đọc hình dung được rõ ràng, chính xác hơn về hệ sao Barnard và những hành tinh mới được phát hiện, đồng thời làm tăng tính trực quan, hấp dẫn cho bài viết.
Câu 5.
Văn bản có tính chính xác và khách quan cao, vì thông tin được trích dẫn từ các nguồn uy tín như chuyên san "The Astrophysical Journal Letters", Đài ABC News và Đại học Chicago. Các báo cáo khoa học, tên công trình nghiên cứu, và các cơ quan, cá nhân tham gia đều được đề cập rõ ràng.
Câu 1:
Trong kỷ nguyên số đầy biến động, tính sáng tạo không chỉ là một kỹ năng bổ trợ mà đã trở thành "chìa khóa vàng" mở ra cánh cửa thành công cho thế hệ trẻ. Sáng tạo là khả năng vượt thoát khỏi những tư duy lối mòn, dám nhìn nhận vấn đề từ những góc độ mới lạ để đưa ra các giải pháp đột phá. Đối với người trẻ, sáng tạo chính là nguồn sống giúp họ không bị hòa tan trong guồng quay của sự bão hòa. Khi một cá nhân biết sáng tạo, họ biến những điều khô khan trở nên thú vị, biến thách thức thành cơ hội và biến ước mơ thành hiện thực. Chính sự sáng tạo giúp thế hệ trẻ khẳng định bản sắc riêng, tạo ra những giá trị mới đóng góp cho cộng đồng. Tuy nhiên, sáng tạo không đồng nghĩa với sự bay bổng xa rời thực tế; nó cần được nuôi dưỡng bằng tri thức, bản lĩnh và lòng kiên trì. Một thế hệ trẻ biết sáng tạo là một thế hệ giàu sức sống, sẵn sàng thích nghi và làm chủ tương lai. Ngược lại, nếu thiếu đi tư duy sáng tạo, người trẻ sẽ sớm trở nên lạc hậu và đánh mất chính mình. Vì vậy, mỗi bạn trẻ hãy không ngừng rèn luyện tư duy, dám thử sai và không ngại làm mới bản thân mỗi ngày.
Câu 2:
Nguyễn Ngọc Tư từ lâu đã khẳng định vị thế là một trong những cây bút đương đại xuất sắc nhất của dòng văn học Nam Bộ. Những trang văn của chị không lộng lẫy, kiêu sa mà luôn thấm đẫm mùi bùn đất phù sa, vị mặn của mồ hôi và cả nỗi buồn mênh mang của những phận đời lênh đênh sông nước. Truyện ngắn "Biển người mênh mông" chính là một nét vẽ tinh tế, đầy ám ảnh trong bức tranh đời sống ấy. Qua cuộc gặp gỡ giữa hai thế hệ – chàng trai trẻ Phi và ông già Sáu Đèo – tác giả đã khéo léo bóc tách từng lớp vỏ tâm hồn để làm ngời sáng lên cốt cách con người miền Tây: dù trong nghịch cảnh trớ trêu hay sự cô độc bủa vây giữa dòng đời, họ vẫn sống với nhau bằng cái tình nồng hậu, sự bao dung và một lòng tin sắt son vào sự tử tế giữa "biển người" vô tận.
Trước hết, nhân vật Phi hiện lên trong tác phẩm với một số phận đầy thương cảm, là điển hình cho những đứa trẻ lớn lên trong sự khuyết thiếu tình thân. Sinh ra đã không biết mặt cha, năm tuổi rưỡi mẹ lại đi bước nữa theo chồng mới, Phi lớn lên trong vòng tay bảo bọc nhưng cũng đầy nghiêm khắc của bà ngoại. Sự thiếu vắng hơi ấm trực tiếp từ đấng sinh thành đã nhào nặn nên một chàng trai có vẻ ngoài "lôi thôi", "xấp xãi", mang dáng vẻ bất cần đời. Người đời nhìn vào chỉ thấy một kẻ "du côn" qua lời mắng của ngoại, một tâm hồn dường như đã bị chai sạn bởi nỗi cô đơn và những tổn thương sâu sắc từ quá khứ.
Tuy nhiên, nếu bình tâm quan sát, ta sẽ thấy Phi là một con người vô cùng nghị lực và giàu lòng tự trọng. Dù sống trong cảnh bầy hầy, Phi vẫn âm thầm nỗ lực vươn lên: anh lên thị xã mướn nhà trọ đi học, vừa học vừa làm thêm để tự lo cho bản thân mà không hề dựa dẫm hay than vãn. Sự bướng bỉnh, lầm lì của Phi thực chất là một lớp "giáp sắt" tự vệ để che giấu một trái tim nhạy cảm, khao khát được thấu hiểu. Phi chính là hình ảnh tiêu biểu của một bộ phận người trẻ Nam Bộ: có chút ngang tàng, bộc trực, đôi khi dùng vẻ lạnh lùng để che đậy nỗi cô độc giữa thế gian, nhưng sâu thẳm lại vô cùng trọng nghĩa tình và luôn nỗ lực vươn lên từ nghịch cảnh.
Đối lập với vẻ trẻ trung nhưng đầy ưu tư của Phi là sự già nua, cũ kỹ của ông Sáu Đèo. Ông dọn đến ở trọ sát vách nhà Phi với hành trang chỉ vẻn vẹn mấy cái thùng các-tông và một con bìm bịp làm bạn. Nhưng đằng sau vẻ ngoài khắc khổ ấy là một câu chuyện đời thắt lòng: vợ ông bỏ đi sau một lần hai người cãi vã. Điểm sáng lung linh nhất ở nhân vật này chính là hành trình đi tìm vợ ròng rã suốt mấy mươi năm trời qua bao nhiêu nẻo đường sông nước. Ông không đi tìm để trách móc, không đi tìm để đòi lại công bằng hay trút giận, mà ông đi tìm chỉ để được gặp lại và nói một lời "xin lỗi" chân thành.
Hình ảnh ông Sáu Đèo dời nhà đến "ba mươi ba bận", lội bộ đến rã cặp giò đã chạm đến tận cùng cảm xúc của người đọc về nghĩa nặng tình sâu của người chồng miền Tây. Đó chính là vẻ đẹp của sự thủy chung – một phẩm chất cao quý truyền thống của con người đất phương Nam. Ông Sáu sống nghèo khổ, chỉ có con bìm bịp làm bạn tâm giao, nhưng tâm hồn ông lại giàu có vô biên. Ông coi con vật như một thực thể sống, nâng niu, chăm chút và trò chuyện với nó như người thân ruột thịt. Sự hào sảng của ông còn thể hiện ở cách ông mở lòng với Phi. Ông không hề phán xét vẻ ngoài hay tính cách của anh, trái lại, ông dùng sự chân thành, ấm áp của một người đi trước để sưởi ấm tâm hồn đứa trẻ đang lạc lõng giữa dòng đời.
Giữa "biển người mênh mông" đầy xa lạ và đôi khi tàn nhẫn, hai tâm hồn cô độc ấy đã tình cờ tìm thấy nhau và bồi đắp cho nhau những khoảng trống lòng. Ông Sáu nhìn thấy ở Phi một đứa trẻ đáng thương cần sự định hướng, sẻ chia; còn Phi lại tìm thấy ở ông lão một điểm tựa tinh thần ấm áp, một người cha, người ông mà bấy lâu anh hằng thiếu hụt. Mối quan hệ giữa họ không đơn thuần là hàng xóm sát vách, mà đã trở thành một thứ tình thân thiêng liêng giữa những con người cùng khổ nhưng giàu lòng nhân ái
Chi tiết đắt giá nhất tác phẩm là khi ông Sáu Đèo, trước khi tiếp tục hành trình phiêu bạt tìm vợ, đã tin tưởng gửi gắm con bìm bịp – "gia tài" và cũng là niềm an ủi duy nhất đời mình – cho Phi chăm sóc. Lời dặn "Đừng phụ lòng qua" vang lên đầy sức nặng, khiến người đọc không khỏi xúc động. Đó không chỉ là việc gửi một con chim nhỏ, mà là gửi gắm cả niềm tin vào con người, là sự chuyển giao ngọn lửa tình thương từ thế hệ này sang thế hệ khác. Phi đã đón nhận nó bằng tất cả sự trân trọng và trách nhiệm. Kết thúc truyện, ông Sáu chưa trở lại, nhưng con bìm bịp vẫn ở đó với Phi, vẫn kêu lên những tiếng gọi tha thiết. Họ đã không còn cô đơn nữa, bởi họ đã chạm được vào trái tim của nhau, đã thắp lên một đốm lửa nhân văn rực sáng giữa dòng đời lạnh lẽo.
Vẻ đẹp của Phi và ông Sáu Đèo không thể tách rời khỏi bối cảnh sông nước miền Tây đặc trưng. Từ ngôn ngữ đối thoại rặt mùi bùn đất phù sa như "qua", "rầy", "xấp xãi" đến những hành động hào hiệp, trọng lời hứa, tất cả đều toát lên cốt cách của con người vùng đất chín rồng. Nguyễn Ngọc Tư đã rất thành công khi xây dựng nhân vật qua những chi tiết đời thường, giản dị nhưng có sức gợi hình, gợi cảm vô cùng lớn. Tác giả không hề tô hồng cuộc sống, chị để nhân vật chìm trong nỗi đau và sự cô độc, nhưng chính từ bóng tối của nỗi buồn đó, ánh sáng của lòng nhân hậu, sự vị tha mới tỏa ra rạng rỡ, chân thực và đầy thuyết phục nhất
Câu 1.
Văn bản thông tin.
Câu 2.
Một số hình ảnh, chi tiết cho thấy cách giao thương, mua bán thú vị trên chợ nổi.:
Các ghe bán hàng dạo chế ra cách “bẹo” hàng bằng âm thanh lạ tai của những chiếc kèn: Có kèn bấm bằng tay (loại kèn nhỏ, bằng nhựa), có kèn đạp bằng chân (loại kèn lớn, còn gọi là kèn cóc).
Riêng các cô gái bán đồ ăn thức uống thì thường “bẹo hàng” bằng lời rao: Ai ăn chè đậu đen, nước dừa đường cát hôn...? Ai ăn bánh bò hôn...? Những tiếng rao mời mọc nơi chợ nổi, nghe sao mà lảnh lót, thiết tha!
Câu 3.
Việc sử dụng tên các địa danh giúp thông tin trở nên phong phú, xác thực và sinh động.
Câu 4.
Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản trên giúp tăng tính xác thực và trực quan cho thông tin.
Câu 5.
Chợ nổi có vai trò về mặt kinh tế và tinh thần đối với đời sống người dân miền Tây:
- Thúc đẩy sự phát triển kinh tế, đảm bảo cuộc sống cho người dân.
- Thể hiện nét đẹp văn hóa đặc trưng của miền Tây.
- Dẫn ý kiến của các nhà thơ, nhà văn lớn trên thế giới (Ét-mông Gia-bét - Edmond Jabès, Gít-đơ - Gide, Pét-xoa - Pessoa), xem như đó là sự hậu thuẫn tích cực cho cách lí giải vấn đề của mình.
- Diễn giải ý kiến của Ét-mông Gia-bét theo hướng bám sát ý tưởng đã được đề cập từ nhan đề và phần đầu văn bản. Nếu trong phát biểu của mình, Ét-mông Gia-bét gần như chỉ nói đến vai trò của sáng tạo ngôn từ trong việc xác định danh vị đích thực của nhà thơ, thì Lê Đạt lại phát triển thêm, cho rằng mỗi lần sáng tạo tác phẩm mới lại một lần nhà thơ phải vật lộn với chữ. Rõ ràng, “nhà thơ” không phải là danh vị được tạo một lần cho mãi mãi. Nó có thể bị tước đoạt nếu nhà thơ không chịu khổ công lao động với ngôn từ mỗi khi viết một bài thơ mới.
- Trọng tâm Toán, Văn, Anh 10 cho cả 3 bộ KNTT, CTST, CD VietJack - Sách 2025 ( 13.600₫ )
- Sách - Sổ tay kiến thức trọng tâm Vật lí 10 VietJack - Sách 2025 theo chương trình mới cho 2k9 ( 31.000₫ )
- Sách lớp 10 - Combo Trọng tâm Toán, Văn, Anh và Lí, Hóa, Sinh cho cả 3 bộ KNTT, CD, CTST VietJack ( 75.000₫ )
- Sách lớp 11 - Trọng tâm Toán, Lý, Hóa, Sử, Địa lớp 11 3 bộ sách KNTT, CTST, CD VietJack ( 52.000₫ )
CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ
Câu 1
Lời giải
Luận điểm chính của đoạn trích là bày tỏ sự đồng cảm, đồng tình với những “nhà thơ một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ:
Nét độc đáo trong cách nêu luận điểm của tác giả:
- Đầu tiên, tác giả gây chú ý bằng việc tỏ thái độ bác bỏ thẳng thừng đối với định kiến mà ông gọi là “quái gở”: “các nhà thơ Việt Nam thường chín sớm nên cũng tàn lụi sớm”. Theo ông, đây hẳn là một cách cắt nghĩa hời hợt dựa vào thuyết định mệnh.
- Tiếp theo, tác giả xác định lí do “tàn lụi sớm” không ở chỗ “chín sớm” mà ở thái độ không đúng của nhiều nhà thơ khi nghĩ về nghề và làm nghề - nghề thơ. Quả là nhiều người “chủ yếu sống bằng vốn trời cho” mà theo tác giả, “những người “cho” đều bủn xỉn” chẳng nên kì vọng gì nhiều. Cách liên hệ - so sánh của tác giả rất thú vị, giúp người đọc nhanh chóng nhìn ra bản chất của vấn đề.
- Luận điểm chính của đoạn trích được nêu cuối cùng, sau bước “dọn đường "bằng
những lí lẽ phản biện sắc sảo với cả người nêu nhận định về “chín sớm” lẫn những nhà thơ chưa có ý thức đầy đủ về công phu lao động chữ nghĩa của nghề thơ.
Câu 2
Lời giải
Tác giả ghét định kiến cho rằng “các nhà thơ Việt Nam thường chín sớm nên cũng tàn lụi sớm” có thể vì:
- Định kiến này xuất phát từ một cách nhìn nhận, đánh giá phiến diện về lĩnh vực sáng tạo thơ.
- Định kiến này có thể ru ngủ nhà thơ, khiến họ cam chịu trước điều vẫn được cho là “định mệnh”, không muốn vượt lên với nỗ lực cao nhất.
Câu 3
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 199K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Câu 4
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 199K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Câu 5
Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:
(Trần Đình Sử, Đọc văn học văn, NXB Giáo dục, 2001, tr. 6 — 7)
Xác định câu chủ đề của đoạn trích. Vì sao bạn xác định như vậy?
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 199K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Câu 6
Theo những gì được tác giả dẫn giải, sự “diệu kì” của tác phẩm văn học và hoạt động đọc văn học thể hiện ở những điểm nào?
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 199K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
- Tầng 2, Tòa G5, Five Star, số 2 Kim Giang, Phường Kim Giang, quận Thanh Xuân, Hà Nội.
- Phone: 084 283 45 85
- Email: vietjackteam@gmail.com
Liên kết
- Đội ngũ giáo viên tại VietJack
- Danh sách khóa học, bài giảng
- Danh sách Câu hỏi trắc nghiệm
- Danh sách Câu hỏi tự luận
- Bộ đề trắc nghiệm các lớp
- Giải bài tập các môn
- Hỏi đáp bài tập
- Thông tin tuyển sinh
Thông tin Vietjack
- Giới thiệu công ty
- Chính sách hoàn học phí
- Chính sách bảo mật
- Điều khoản dịch vụ
- Hướng dẫn thanh toán VNPAY
- Tuyển dụng - Việc làm
- Bảo mật thông tin
Tải ứng dụng
Thanh toán

CÔNG TY TNHH ĐẦU TƯ VÀ DỊCH VỤ GIÁO DỤC VIETJACK
Giấy chứng nhận ĐKKD số: 0108307822 do Sở KH & ĐT TP Hà Nội cấp lần đầu ngày 04/06/2018
© 2017 Vietjack37. All Rights Reserved.
- Dẫn ý kiến của các nhà thơ, nhà văn lớn trên thế giới (Ét-mông Gia-bét - Edmond Jabès, Gít-đơ - Gide, Pét-xoa - Pessoa), xem như đó là sự hậu thuẫn tích cực cho cách lí giải vấn đề của mình.
- Diễn giải ý kiến của Ét-mông Gia-bét theo hướng bám sát ý tưởng đã được đề cập từ nhan đề và phần đầu văn bản. Nếu trong phát biểu của mình, Ét-mông Gia-bét gần như chỉ nói đến vai trò của sáng tạo ngôn từ trong việc xác định danh vị đích thực của nhà thơ, thì Lê Đạt lại phát triển thêm, cho rằng mỗi lần sáng tạo tác phẩm mới lại một lần nhà thơ phải vật lộn với chữ. Rõ ràng, “nhà thơ” không phải là danh vị được tạo một lần cho mãi mãi. Nó có thể bị tước đoạt nếu nhà thơ không chịu khổ công lao động với ngôn từ mỗi khi viết một bài thơ mới.
- Trọng tâm Toán, Văn, Anh 10 cho cả 3 bộ KNTT, CTST, CD VietJack - Sách 2025 ( 13.600₫ )
- Sách - Sổ tay kiến thức trọng tâm Vật lí 10 VietJack - Sách 2025 theo chương trình mới cho 2k9 ( 31.000₫ )
- Sách lớp 10 - Combo Trọng tâm Toán, Văn, Anh và Lí, Hóa, Sinh cho cả 3 bộ KNTT, CD, CTST VietJack ( 75.000₫ )
- Sách lớp 11 - Trọng tâm Toán, Lý, Hóa, Sử, Địa lớp 11 3 bộ sách KNTT, CTST, CD VietJack ( 52.000₫ )
CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ
Câu 1
Lời giải
Luận điểm chính của đoạn trích là bày tỏ sự đồng cảm, đồng tình với những “nhà thơ một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ:
Nét độc đáo trong cách nêu luận điểm của tác giả:
- Đầu tiên, tác giả gây chú ý bằng việc tỏ thái độ bác bỏ thẳng thừng đối với định kiến mà ông gọi là “quái gở”: “các nhà thơ Việt Nam thường chín sớm nên cũng tàn lụi sớm”. Theo ông, đây hẳn là một cách cắt nghĩa hời hợt dựa vào thuyết định mệnh.
- Tiếp theo, tác giả xác định lí do “tàn lụi sớm” không ở chỗ “chín sớm” mà ở thái độ không đúng của nhiều nhà thơ khi nghĩ về nghề và làm nghề - nghề thơ. Quả là nhiều người “chủ yếu sống bằng vốn trời cho” mà theo tác giả, “những người “cho” đều bủn xỉn” chẳng nên kì vọng gì nhiều. Cách liên hệ - so sánh của tác giả rất thú vị, giúp người đọc nhanh chóng nhìn ra bản chất của vấn đề.
- Luận điểm chính của đoạn trích được nêu cuối cùng, sau bước “dọn đường "bằng
những lí lẽ phản biện sắc sảo với cả người nêu nhận định về “chín sớm” lẫn những nhà thơ chưa có ý thức đầy đủ về công phu lao động chữ nghĩa của nghề thơ.
Câu 2
Lời giải
Tác giả ghét định kiến cho rằng “các nhà thơ Việt Nam thường chín sớm nên cũng tàn lụi sớm” có thể vì:
- Định kiến này xuất phát từ một cách nhìn nhận, đánh giá phiến diện về lĩnh vực sáng tạo thơ.
- Định kiến này có thể ru ngủ nhà thơ, khiến họ cam chịu trước điều vẫn được cho là “định mệnh”, không muốn vượt lên với nỗ lực cao nhất.
Câu 3
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 199K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Câu 4
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 199K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Câu 5
Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:
(Trần Đình Sử, Đọc văn học văn, NXB Giáo dục, 2001, tr. 6 — 7)
Xác định câu chủ đề của đoạn trích. Vì sao bạn xác định như vậy?
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 199K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Câu 6
Theo những gì được tác giả dẫn giải, sự “diệu kì” của tác phẩm văn học và hoạt động đọc văn học thể hiện ở những điểm nào?
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 199K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
- Tầng 2, Tòa G5, Five Star, số 2 Kim Giang, Phường Kim Giang, quận Thanh Xuân, Hà Nội.
- Phone: 084 283 45 85
- Email: vietjackteam@gmail.com
Liên kết
- Đội ngũ giáo viên tại VietJack
- Danh sách khóa học, bài giảng
- Danh sách Câu hỏi trắc nghiệm
- Danh sách Câu hỏi tự luận
- Bộ đề trắc nghiệm các lớp
- Giải bài tập các môn
- Hỏi đáp bài tập
- Thông tin tuyển sinh
Thông tin Vietjack
- Giới thiệu công ty
- Chính sách hoàn học phí
- Chính sách bảo mật
- Điều khoản dịch vụ
- Hướng dẫn thanh toán VNPAY
- Tuyển dụng - Việc làm
- Bảo mật thông tin
Tải ứng dụng
Thanh toán

CÔNG TY TNHH ĐẦU TƯ VÀ DỊCH VỤ GIÁO DỤC VIETJACK
Giấy chứng nhận ĐKKD số: 0108307822 do Sở KH & ĐT TP Hà Nội cấp lần đầu ngày 04/06/2018
© 2017 Vietjack37. All Rights Reserved.
- Dẫn ý kiến của các nhà thơ, nhà văn lớn trên thế giới (Ét-mông Gia-bét - Edmond Jabès, Gít-đơ - Gide, Pét-xoa - Pessoa), xem như đó là sự hậu thuẫn tích cực cho cách lí giải vấn đề của mình.
- Diễn giải ý kiến của Ét-mông Gia-bét theo hướng bám sát ý tưởng đã được đề cập từ nhan đề và phần đầu văn bản. Nếu trong phát biểu của mình, Ét-mông Gia-bét gần như chỉ nói đến vai trò của sáng tạo ngôn từ trong việc xác định danh vị đích thực của nhà thơ, thì Lê Đạt lại phát triển thêm, cho rằng mỗi lần sáng tạo tác phẩm mới lại một lần nhà thơ phải vật lộn với chữ. Rõ ràng, “nhà thơ” không phải là danh vị được tạo một lần cho mãi mãi. Nó có thể bị tước đoạt nếu nhà thơ không chịu khổ công lao động với ngôn từ mỗi khi viết một bài thơ mới.
- Trọng tâm Toán, Văn, Anh 10 cho cả 3 bộ KNTT, CTST, CD VietJack - Sách 2025 ( 13.600₫ )
- Sách - Sổ tay kiến thức trọng tâm Vật lí 10 VietJack - Sách 2025 theo chương trình mới cho 2k9 ( 31.000₫ )
- Sách lớp 10 - Combo Trọng tâm Toán, Văn, Anh và Lí, Hóa, Sinh cho cả 3 bộ KNTT, CD, CTST VietJack ( 75.000₫ )
- Sách lớp 11 - Trọng tâm Toán, Lý, Hóa, Sử, Địa lớp 11 3 bộ sách KNTT, CTST, CD VietJack ( 52.000₫ )
CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ
Câu 1
Lời giải
Luận điểm chính của đoạn trích là bày tỏ sự đồng cảm, đồng tình với những “nhà thơ một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ:
Nét độc đáo trong cách nêu luận điểm của tác giả:
- Đầu tiên, tác giả gây chú ý bằng việc tỏ thái độ bác bỏ thẳng thừng đối với định kiến mà ông gọi là “quái gở”: “các nhà thơ Việt Nam thường chín sớm nên cũng tàn lụi sớm”. Theo ông, đây hẳn là một cách cắt nghĩa hời hợt dựa vào thuyết định mệnh.
- Tiếp theo, tác giả xác định lí do “tàn lụi sớm” không ở chỗ “chín sớm” mà ở thái độ không đúng của nhiều nhà thơ khi nghĩ về nghề và làm nghề - nghề thơ. Quả là nhiều người “chủ yếu sống bằng vốn trời cho” mà theo tác giả, “những người “cho” đều bủn xỉn” chẳng nên kì vọng gì nhiều. Cách liên hệ - so sánh của tác giả rất thú vị, giúp người đọc nhanh chóng nhìn ra bản chất của vấn đề.
- Luận điểm chính của đoạn trích được nêu cuối cùng, sau bước “dọn đường "bằng
những lí lẽ phản biện sắc sảo với cả người nêu nhận định về “chín sớm” lẫn những nhà thơ chưa có ý thức đầy đủ về công phu lao động chữ nghĩa của nghề thơ.
Câu 2
Lời giải
Tác giả ghét định kiến cho rằng “các nhà thơ Việt Nam thường chín sớm nên cũng tàn lụi sớm” có thể vì:
- Định kiến này xuất phát từ một cách nhìn nhận, đánh giá phiến diện về lĩnh vực sáng tạo thơ.
- Định kiến này có thể ru ngủ nhà thơ, khiến họ cam chịu trước điều vẫn được cho là “định mệnh”, không muốn vượt lên với nỗ lực cao nhất.
Câu 3
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 199K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Câu 4
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 199K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Câu 5
Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:
(Trần Đình Sử, Đọc văn học văn, NXB Giáo dục, 2001, tr. 6 — 7)
Xác định câu chủ đề của đoạn trích. Vì sao bạn xác định như vậy?
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 199K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Câu 6
Theo những gì được tác giả dẫn giải, sự “diệu kì” của tác phẩm văn học và hoạt động đọc văn học thể hiện ở những điểm nào?
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 199K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
- Tầng 2, Tòa G5, Five Star, số 2 Kim Giang, Phường Kim Giang, quận Thanh Xuân, Hà Nội.
- Phone: 084 283 45 85
- Email: vietjackteam@gmail.com
Liên kết
- Đội ngũ giáo viên tại VietJack
- Danh sách khóa học, bài giảng
- Danh sách Câu hỏi trắc nghiệm
- Danh sách Câu hỏi tự luận
- Bộ đề trắc nghiệm các lớp
- Giải bài tập các môn
- Hỏi đáp bài tập
- Thông tin tuyển sinh
Thông tin Vietjack
- Giới thiệu công ty
- Chính sách hoàn học phí
- Chính sách bảo mật
- Điều khoản dịch vụ
- Hướng dẫn thanh toán VNPAY
- Tuyển dụng - Việc làm
- Bảo mật thông tin
Tải ứng dụng
Thanh toán

CÔNG TY TNHH ĐẦU TƯ VÀ DỊCH VỤ GIÁO DỤC VIETJACK
Giấy chứng nhận ĐKKD số: 0108307822 do Sở KH & ĐT TP Hà Nội cấp lần đầu ngày 04/06/2018
© 2017 Vietjack37. All Rights Reserved.

