Trần Hiển Anh Duy
Giới thiệu về bản thân
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1.
Văn bản trên thuộc kiểu văn bản thông tin.
Câu 2.
Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản là thuyết minh.
Câu 3.
Nhan đề “Phát hiện 4 hành tinh trong hệ sao láng giềng của Trái đất” ngắn gọn, rõ ràng, trực tiếp nêu nội dung chính của văn bản. Từ “phát hiện” tạo sự hấp dẫn, gợi tò mò cho người đọc. Cụm từ “hệ sao láng giềng của Trái đất” nhấn mạnh ý nghĩa của khám phá khoa học.
Câu 4.
Phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng là hình ảnh mô phỏng sao Barnard và các hành tinh của nó.
Tác dụng:
- Giúp người đọc hình dung trực quan hơn về hệ sao và các hành tinh.
- Làm cho văn bản sinh động, hấp dẫn hơn.
- Tăng tính thuyết phục cho thông tin khoa học.
Câu 5.
Văn bản có tính chính xác và khách quan cao vì:
- Thông tin được dẫn từ các nguồn đáng tin cậy.
- Có số liệu, thời gian và địa điểm cụ thể.
- Ngôn ngữ khoa học, trung lập.
- Nội dung dựa trên nghiên cứu và ý kiến của các nhà khoa học.
II. LÀM VĂN
Câu 1
Paul Coelho từng nói: “Bí mật của cuộc sống là ngã bảy lần và đứng dậy tám lần.” Câu nói khẳng định ý nghĩa của nghị lực và lòng kiên trì trong cuộc sống. “Ngã” là những thất bại, khó khăn mà con người gặp phải, còn “đứng dậy” là sự mạnh mẽ vượt qua nghịch cảnh để tiếp tục tiến về phía trước. Trong cuộc sống, không ai luôn thành công ngay từ đầu. Có những lúc chúng ta thất vọng vì học tập chưa tốt, công việc gặp trở ngại hay ước mơ chưa đạt được. Nếu dễ dàng bỏ cuộc, con người sẽ mãi thất bại. Ngược lại, người biết đứng lên sau vấp ngã sẽ trưởng thành và bản lĩnh hơn. Thực tế cho thấy nhiều người thành công nhờ ý chí bền bỉ, như Thomas Edison đã trải qua hàng nghìn lần thất bại trước khi phát minh ra bóng đèn điện. Tuy nhiên, kiên trì không có nghĩa là cố chấp mà cần biết rút kinh nghiệm để thay đổi phù hợp. Câu nói của Paul Coelho nhắc nhở mỗi người phải luôn mạnh mẽ, không sợ thất bại và kiên trì theo đuổi mục tiêu của mình.
Câu 2
Nguyễn Trãi là nhà thơ lớn của dân tộc, có tâm hồn thanh cao và tư tưởng nhân nghĩa sâu sắc. Bài thơ “Bảo kính cảnh giới” bài 33 thể hiện tâm trạng và quan niệm sống của ông khi lui về ở ẩn.
Hai câu đề cho thấy thái độ chán ngán chốn quan trường của Nguyễn Trãi:
“Rộng khơi ngại vượt bể triều quan,
Lui tới đòi thì miễn phận an.”
Hình ảnh “bể triều quan” gợi môi trường quan trường phức tạp và nhiều hiểm nguy. Từ “ngại vượt” cho thấy tâm trạng mệt mỏi, không còn tha thiết với danh lợi. Ông lựa chọn sống thuận theo thời thế để giữ sự bình yên cho bản thân.
Hai câu thực khắc họa cuộc sống thanh nhàn nơi thôn dã:
“Hé cửa đêm chờ hương quế lọt,
Quét hiên ngày lệ bóng hoa tan.”
Những hình ảnh “hương quế”, “bóng hoa” tạo nên không gian thơ mộng, thanh sạch. Nhà thơ sống hòa hợp với thiên nhiên và cảm nhận vẻ đẹp bình dị của cuộc sống. Qua đó cho thấy tâm hồn nhạy cảm và tình yêu thiên nhiên của Nguyễn Trãi.
Hai câu luận thể hiện quan niệm về tài năng và đạo đức:
“Đời dùng người có tài Y, Phó,
Nhà ngặt, ta bền đạo Khổng, Nhan.”
Tác giả nhắc đến những người tài giỏi để khẳng định người có tài sẽ được trọng dụng. Dù hoàn cảnh khó khăn, ông vẫn giữ vững đạo lý Nho gia và sống thanh bạch, trung thực. Điều đó thể hiện khí tiết cao đẹp của Nguyễn Trãi.
Hai câu kết bộc lộ triết lí sống của nhà thơ:
“Kham hạ hiền xưa toan lẩn được,
Ngâm câu: danh lợi bất như nhàn.”
Nguyễn Trãi lựa chọn cuộc sống nhàn tản, tránh xa danh lợi để giữ nhân cách thanh cao. “Nhàn” ở đây là lối sống thanh sạch, không bị cuốn vào vòng danh lợi tầm thường.
Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật với ngôn ngữ cô đọng, hàm súc, hình ảnh giàu sức gợi và nhiều điển tích sâu sắc.
Qua bài thơ, Nguyễn Trãi hiện lên là con người thanh cao, yêu thiên nhiên, coi thường danh lợi và luôn giữ vững nhân cách giữa cuộc đời nhiều biến động.