Nguyễn Lê Quỳnh Chi
Giới thiệu về bản thân
Câu 1. Văn bản trên thuộc kiểu văn bản thông tin
Câu 2. Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản là thuyết minh.
Câu 3. Cách đặt nhan đề của tác giả ngắn gọn, rõ ràng, trực tiếp nêu nội dung chính của văn bản: thông báo việc phát hiện 4 hành tinh trong hệ sao láng giềng của Trái Đất. Nhan đề có tính thời sự, hấp dẫn, thu hút người đọc.
Câu 4. Phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng là hình ảnh mô phỏng sao Barnard và các hành tinh của nó.
Tác dụng: giúp người đọc dễ hình dung nội dung được nói tới, làm văn bản sinh động, trực quan hơn, tăng sức hấp dẫn và độ tin cậy cho thông tin khoa học.
Câu 5. Văn bản có tính chính xác, khách quan vì:
-Đưa ra các số liệu cụ thể: “cách Trái Đất chưa đầy 6 năm ánh sáng”, “70% số sao của Dải Ngân hà…”, “20% đến 30%…”.
-Nêu rõ nguồn tin, thời gian công bố, trích dẫn ý kiến chuyên gia và tổ chức nghiên cứu.
-Trình bày sự kiện theo lối thông tin khoa học, không bộc lộ cảm xúc chủ quan.
Tác giả triển khai quan điểm “chữ bầu lên nhà thơ” bằng cách khẳng định vai trò quyết định của chữ trong thơ. Người làm thơ không chỉ viết bằng ý mà bằng chữ, phải lao động nghệ thuật nghiêm túc, rèn luyện ngôn từ tinh luyện, chứ không chỉ dựa vào cảm hứng hay thiên bẩm
-Lí lẽ:
+Tác giả phản bác quan niệm cho rằng thơ là sự bốc đồng, là thiên phú trời cho.
+Ông khẳng định thơ hay là kết quả của “một thành tâm kiên trì, một đà mang đắm đuối, làm động lòng quỷ thần”, chứ không phải “may rủi đơn thuần”.
+“Làm thơ không phải đánh quả, và không ai trúng số độc đắc suốt đời.”
-Dẫn chứng:
+Dẫn lời Trang Tử về “vứt thánh bỏ trí” để nói rằng cần bỏ điều cũ, nhưng phải có hiểu biết, có “chữ” rồi mới bỏ.
+Dẫn các nhà thơ lớn như Lý Bạch, Gớt, Ta-go – những người đã lao động bền bỉ, sáng tác suốt đời, không chỉ dựa vào thiên bẩm.
-Nhận xét:
+Lập luận của tác giả chặt chẽ, lí lẽ rõ ràng, ví dụ cụ thể và thuyết phục.
+Giọng văn vừa sâu sắc, vừa dí dỏm, thể hiện tình yêu và sự trân trọng đối với lao động nghệ thuật chân chính.
-Lí lẽ:
+Tác giả phản bác quan niệm cho rằng thơ là sự bốc đồng, là thiên phú trời cho.
+Ông khẳng định thơ hay là kết quả của “một thành tâm kiên trì, một đà mang đắm đuối, làm động lòng quỷ thần”, chứ không phải “may rủi đơn thuần”.
+“Làm thơ không phải đánh quả, và không ai trúng số độc đắc suốt đời.”
-Dẫn chứng:
+Dẫn lời Trang Tử về “vứt thánh bỏ trí” để nói rằng cần bỏ điều cũ, nhưng phải có hiểu biết, có “chữ” rồi mới bỏ.
+Dẫn các nhà thơ lớn như Lý Bạch, Gớt, Ta-go – những người đã lao động bền bỉ, sáng tác suốt đời, không chỉ dựa vào thiên bẩm.
-Nhận xét:
+Lập luận của tác giả chặt chẽ, lí lẽ rõ ràng, ví dụ cụ thể và thuyết phục.
+Giọng văn vừa sâu sắc, vừa dí dỏm, thể hiện tình yêu và sự trân trọng đối với lao động nghệ thuật chân chính.
-Lí lẽ:
+Tác giả phản bác quan niệm cho rằng thơ là sự bốc đồng, là thiên phú trời cho.
+Ông khẳng định thơ hay là kết quả của “một thành tâm kiên trì, một đà mang đắm đuối, làm động lòng quỷ thần”, chứ không phải “may rủi đơn thuần”.
+“Làm thơ không phải đánh quả, và không ai trúng số độc đắc suốt đời.”
-Dẫn chứng:
+Dẫn lời Trang Tử về “vứt thánh bỏ trí” để nói rằng cần bỏ điều cũ, nhưng phải có hiểu biết, có “chữ” rồi mới bỏ.
+Dẫn các nhà thơ lớn như Lý Bạch, Gớt, Ta-go – những người đã lao động bền bỉ, sáng tác suốt đời, không chỉ dựa vào thiên bẩm.
-Nhận xét:
+Lập luận của tác giả chặt chẽ, lí lẽ rõ ràng, ví dụ cụ thể và thuyết phục.
+Giọng văn vừa sâu sắc, vừa dí dỏm, thể hiện tình yêu và sự trân trọng đối với lao động nghệ thuật chân chính.