Nghiêm Gia Bảo
Giới thiệu về bản thân
Câu 1. Văn bản thông tin .
Câu 2. Một số hình ảnh, chi tiết :
+Phương tiện: Người dân dùng đủ loại xuồng ghe (xuồng ba lá, ghe tam bản, tắc ráng, ghe máy) để đi lại và họp chợ. Những chiếc xuồng con len lỏi khéo léo giữa hàng trăm ghe thuyền mà hiếm khi va quệt.
+Cách rao hàng (bẹo hàng) độc đáo:Dùng "cây bẹo": Treo hàng hóa lên sào tre cao để khách từ xa có thể nhìn thấy.
+Treo lá lợp nhà: Dấu hiệu đặc biệt để rao bán chính chiếc ghe đó.
+Âm thanh rao hàng: Sử dụng kèn bấm tay, kèn đạp chân (kèn cóc) hoặc những lời rao lảnh lót, thiết tha của các cô gái bán đồ ăn vặt.
Câu 3. Tác dụng của việc sử dụng tên các địa danh : Giúp tăng độ tin cậy và tính xác thực , giúp người đọc có thể dễ dàng tìm hiểu về các điểm đến văn hóa cụ thể.
Câu 4. Phương tiện phi ngôn ngữ trong văn bản gồm hình ảnh minh họa (ảnh chợ nổi Ngã Bảy) và các tín hiệu như cây bẹo, tiếng kèn. Tác dụng của là làm cho văn bản sinh động, trực quan,giúp người đọc dễ dàng hình dung ra không khí sầm uất và cách thức bán hàng "lạ đời" mà lời nói đôi khi không tả hết được.
Câu 5. Với người dân miền tây ,chợ nổi không chỉ là nơi mua bán, mà còn giữ những vai trò quan trọng.Về kinh tế , là "hơi thở" sinh kế, nơi tiêu thụ nông sản chủ lực và tạo ra công ăn việc làm cho hàng ngàn hộ dân vùng sông nước.Về văn hóa ,chợ nổi là bảo tàng sống lưu giữ hồn cốt của văn minh miệt vườn, thể hiện tính cách hào sảng, thích nghi cao độ của con người với thiên nhiên.Về đời sống tinh thần , Chợ nổi là không gian sinh hoạt cộng đồng, nơi kết nối những tình cảm xóm giềng, bè bạn ngay trên sóng nước bao la.
Câu 1: Câu nói của Paul Coelho trong tác phẩm Nhà giả kim: “Bí mật của cuộc sống là ngã bảy lần và đứng dậy tám lần” nhấn mạnh ý nghĩa của bản lĩnh và kiên trì trong cuộc sống .“Ngã” tượng trưng cho những thất bại, sai lầm hay nghịch cảnh mà bất kỳ ai cũng sẽ phải đối mặt trên hành trình trưởng thành. Trong khi đó, việc “đứng dậy” chính là sự nỗ lực, là quyết tâm vượt qua để tiếp tục bước tiếp.Thất bại không phải là dấu chấm hết, nó là những trải nghiệm giúp ta rèn luyện ý chí và trở nên mạnh mẽ hơn mỗi ngày, như một cái cây đang dần trở nên cứng cáp sau mưa bão .Và trong thực tế, không ít người đã vượt qua nghịch cảnh để chạm tới vinh quang như jackma , như Nick Vujicic .Nếu ta chỉ biết gục ngã và đầu hàng trước số phận, ta sẽ mãi dậm chân và đánh mất cơ hội của bản thân mình. Tóm lại, bí mật của một cuộc đời ý nghĩa không nằm ở việc chưa bao giờ thất bại, mà nằm ở tinh thần bất khuất: mỗi lần vấp ngã là một lần đứng dậy mạnh mẽ hơn.
Câu 2 :
Nguyễn Trãi không chỉ là một nhà quân sự hiền tài mà còn là một nhà thơ với tâm hồn thanh cao, ông là người luôn trăn trở giữa việc "nợ nước" và "vui thú điền viên". Và trong suốt sự nghiệp thơ ca của mình , ông đã sáng tác bài thơ Bảo kính cảnh giới thuộc tập Quốc âm thi tập , là minh chứng tiêu biểu cho vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách của ông trong những ngày tháng lui về ở ẩn.
Về nội dung, bài thơ đã thể hiện quan niệm sống an nhiên, tự tại của người quân tử trước thời thế. Hai câu đầu: "Rộng khơi ngại vượt bể triều quan , "Lui tới đòi thì miễn phận an" cho thấy tâm thế tránh xa chốn quan trường xô bồ, hiểm nguy như "bể triều". Nguyễn Trãi chọn cách sống thuận theo thời thế, cốt để giữ cho tâm hồn được bình yên.
Bức tranh cuộc sống ẩn dật hiện lên qua hai câu thực: "Hé cửa đêm chờ hương quế lọt , "Quét hiên ngày lệ bóng hoa tan". Nghệ thuật đối lập giữa đêm và ngày, giữa "hương quế" và "bóng hoa" cho thấy một tâm hồn tinh tế, nhạy cảm với vẻ đẹp của thiên nhiên. Ông nâng niu từng mùi hương, tiếc nuối cả bóng hoa tan dưới hiên nhà. Dù sống trong cảnh "nhà ngặt", ông vẫn khẳng định lý tưởng sống cao đẹp: "Nhà ngặt, ta bền đạo Khổng, Nhan". Giống như Khổng Tử và Nhan Hồi, Nguyễn Trãi giữ vững đạo đức, lấy cái nghèo làm thanh sạch tâm hồn chứ không chạy theo cái danh lợi .
Bài thơ khép lại bằng lời đúc kết: "Ngâm câu: danh lợi bất như nhàn". Đây không phải là cái "nhàn" của lười biếng mà là cái "nhàn" trong tâm hồn, thể hiện sự buông bỏ trước cám dỗ vật chất.
Về nghệ thuật, bài thơ đã sử dụng thể thất ngôn xen lục ngôn , một sáng tạo độc đáo của Nguyễn Trãi giúp câu thơ mang nhịp điệu hài hòa, đậm bản sắc dân tộc. Ngôn ngữ bài thơ cũng là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa từ ngữ Hán học (Y, Phó, Khổng, Nhan) và những từ thuần Việt giản dị, giàu sức biểu cảm (ngặt, bền, lọt, tan). Bên cạnh đó , cách sử dụng điển tích điển cố khéo léo giúp tác giả tôn lên cái chí cao cả của mình .
Có thể nói , bài thơ không chỉ phản ánh tâm trạng của Nguyễn Trãi mà còn thể hiện cái nhân cách cao đẹp và triết lí sống đáng trân trọng của ông dù trong hoàn cảnh nào vẫn giữ trọn tấm lòng trung hiếu và tình yêu thiên nhiên thiết tha.
Câu 1 : Văn bản trên thuộc kiểu văn bản thông tin
Câu 2 : Phương thức biểu đạt chính là thuyết minh
Câu 3 : Nhan đề "Phát hiện 4 hành tinh trong hệ sao láng giềng của Trái đất" thể hiện tính trực diện khi nêu thẳng trọng tâm chính của bài . Từ đó giúp người đọc nắm bắt được nội dung chính của bài qua việc đọc nhan đề .
Câu 4 : Phương tiện phi ngôn ngữ là hình ảnh với dòng chú thích "Hình ảnh mô phỏng sao Barnard và các hành tinh của nó".
Tác dụng: Giúp người đọc dễ dàng hình dung ra hình dáng, vị trí của sao Barnard và các hành tinh, vốn là những khái niệm trừu tượng, giúp thu hút sự chú ý của người đọc hơn và giúp minh họa các số liệu và mô tả bằng lời trong văn bản . Từ đó giúp thông tin truyền tải hiệu quả hơn.
Câu 5 : Nhận xét : Văn bản đã trích dẫn thông tin từ các nguồn uy tín (các đài thiên văn danh tiếng (Gemini, VLT), chuyên san khoa học (The Astrophysical Journal Letters), và trường Đại học Chicago).Bên cạnh đó tác giả cũng đã sử dụng các thuật ngữ chuyên môn (sao khổng lồ đỏ, hành tinh đá, hành tinh khí) và trích dẫn trực tiếp lời của nhà nghiên cứu (Ritvik Basant) thay vì đưa ra quan điểm cá nhân .
Tác giả “rất ghét” hay không mê những nhà thơ chỉ sống bằng vốn trời cho, làm thơ theo cảm hứng bốc đồng, hoặc thần đồng sớm nở chóng tàn.Và ông phê phán định kiến cho rằng “nhà thơ Việt Nam thường chín sớm nên tàn sớm” , bởi vì đó là những người dựa dẫm vào thiên phú, không chịu rèn luyện.Ngược lại, ông lại “ưa” những nhà thơ lao động nghệ thuật cần mẫn, “một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy”,nghĩa là những người kiên trì, khổ luyện, rèn chữ từng chút một để sáng tạo thơ thực sự có giá trị.
Đây là một ẩn dụ rất đẹp và sâu sắc.Với chi tiết “Một nắng hai sương” và “lực điền trên cánh đồng giấy” ví nhà thơ như người nông dân chăm chỉ,phải lao động miệt mài, cày xới ngôn từ, chắt lọc từng chữ như gặt hái từng hạt lúa.Bên cạnh đó , chi tiết “Đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ” nhấn mạnh rằng "Làm thơ là một quá trình lao động nghệ thuật gian khổ,đòi hỏi tâm huyết, sự nhẫn nại và tài năng thực sự, chứ không phải cảm hứng bốc đồng hay may mắn nhất thời."
- Lí lẽ chính:
-Làm thơ không chỉ dựa vào cảm hứng thiên phú, mà là kết quả của lao động, học tập, rèn luyện nghiêm túc.
-Những “cơn bốc đồng” hay “thiên phú” chỉ đem lại thành công nhất thời, không thể duy trì lâu dài.
- Dẫn chứng tiêu biểu:
-Tôn-xtôi chữa đi chữa lại Chiến tranh và hoà bình nhiều lần.
-Phlô-be cân nhắc từng chữ “trên cân tiểu li”.
-Phê phán định kiến “nhà thơ chín sớm tàn sớm”.
-Nêu gương Lý Bạch, Gớt, Ta-go – những nhà thơ vẫn sáng tạo ở tuổi già.
- Nhận xét:
-Lí lẽ rõ ràng, chặt chẽ
-Dẫn chứng phong phú, xác thực, có sức thuyết phục
-Giọng văn châm biếm mà sâu sắc, thể hiện quan điểm nghệ thuật nghiêm túc và nhân văn.
tác giải Lê Đạt đã dựa vào phát biểu của nhà thơ Ét-mông Gia-bét để làm nổi bật quan điểm này.Và ông cho rằng:Không có “chức vụ nhà thơ” suốt đời.Mỗi lần sáng tác, người làm thơ phải ứng cử lại trước “cử tri chữ”.“Chữ” là yếu tố quyết định xem tác phẩm có giá trị hay không, có xứng đáng để người viết được gọi là “nhà thơ” hay không.