Lê Quang Đạt
Giới thiệu về bản thân
☆* ainhây╰(*°▽°*)╯ bro ng hà tĩnh đúng ko 8==D
Câu văn cần phân tích là:
“Nhất buổi sinh nhật thật rôm rà, bọn Dung khiêu vũ với nhau. Ông ngoại cũng nhảy, ông mặc chiếc áo màu xanh thắt nơ hoa rất đẹp.”
Ta thấy đây thực chất gồm 2 câu, trong đó câu thứ hai là câu ghép.
Phân tích từng câu:
- Câu thứ nhất:
“Nhất buổi sinh nhật thật rôm rà, bọn Dung khiêu vũ với nhau.”
– Chủ ngữ: bọn Dung
– Vị ngữ: khiêu vũ với nhau
Cụm “Nhất buổi sinh nhật thật rôm rà” là trạng ngữ, bổ sung ý nghĩa về hoàn cảnh, không phải là chủ ngữ – vị ngữ.
→ Đây là câu đơn (có một cụm chủ – vị).
- Câu thứ hai:
“Ông ngoại cũng nhảy, ông mặc chiếc áo màu xanh thắt nơ hoa rất đẹp.”
Câu này có hai vế:
Vế 1:
– Chủ ngữ: ông ngoại
– Vị ngữ: cũng nhảy
Vế 2:
– Chủ ngữ: ông
– Vị ngữ: mặc chiếc áo màu xanh thắt nơ hoa rất đẹp
Hai vế câu có quan hệ gần gũi về ý nghĩa, được ngăn cách bằng dấu phẩy, không có từ nối.
→ Đây là câu ghép (gồm hai cụm chủ – vị).
Kết luận:
Đoạn văn gồm một câu đơn và một câu ghép. Trong đó, câu “Ông ngoại cũng nhảy, ông mặc chiếc áo màu xanh thắt nơ hoa rất đẹp” là câu ghép vì có hai cụm chủ – vị song song.
ý là ai hỏi z 🙄🙄🙄
A = 1/2^2 + 1/3^2 + 1/4^2 + 1/5^2 + 1/6^2 + 1/7^2 + 1/8^2 + 1/9^2 + 1/10^2
Ta ước lượng từng nhóm hạng tử.
Nhận xét:
Với n ≥ 2 thì 1/n^2 < 1/[n(n−1)]
Ta có các bất đẳng thức sau:
1/2^2 < 1/(2·1)
1/3^2 < 1/(3·2)
1/4^2 < 1/(4·3)
…
1/10^2 < 1/(10·9)
Do đó
A < 1/(2·1) + 1/(3·2) + 1/(4·3) + … + 1/(10·9)
Mà
1/[n(n−1)] = 1/(n−1) − 1/n
Suy ra
(1/1 − 1/2) + (1/2 − 1/3) + (1/3 − 1/4) + … + (1/9 − 1/10)
Các số ở giữa triệt tiêu nhau, còn lại:
A < 1 − 1/10 = 9/10
Vì 9/10 < 1 nên suy ra
A < 1
Kết luận:
A < 1 (đpcm)
10 thực phẩm giàu đạm động vật và 5 ...:
chức năng : chữa lành
gây cười
tạo dopamine
Giả thiết:
– Tam giác ABC vuông tại A
– BD là phân giác của góc ABC, D thuộc AC
– E thuộc BC sao cho BE = BA
Kết luận:
a) Tam giác ABE bằng tam giác EBD
b) Tính số đo góc BED
c) AE vuông góc BD
Xét hai tam giác ABE và EBD, ta có:
– BE là chung
– BA = BE (gt)
– BD là phân giác của góc ABC nên góc ABD = góc DBC
Vì E nằm trên BC nên góc EBD = góc DBC.
Suy ra góc ABE = góc EBD.
Như vậy, trong hai tam giác ABE và EBD có:
– Một cạnh chung BE
– Một cạnh tương ứng bằng nhau BA = BE
– Một góc xen giữa bằng nhau
Suy ra tam giác ABE bằng tam giác EBD (cgc]Từ câu a), vì hai tam giác ABE và EBD bằng nhau nên các góc tương ứng bằng nhau.
Do đó góc BED = góc BAE.
Mà tam giác ABC vuông tại A nên AB vuông góc AC.
Điểm E nằm trên BC nên góc BAE là góc nhọn trong tam giác vuông.
Xét tam giác vuông ABE có BA = BE nên tam giác ABE là tam giác vuông cân tại A.
Suy ra góc BAE = 45 độ.
Vậy góc BED = 45 độ.
Từ câu a), tam giác ABE bằng tam giác EBD nên:
AE = ED và AB = BD.
Suy ra E cách đều A và D, B cách đều A và D.
Do đó đường thẳng BD là đường trung trực của đoạn AE.
Mà đường trung trực thì vuông góc với đoạn thẳng.
Suy ra AE vuông góc BD
bạn có thể tham khảo cách của mk
- Với dung dịch Na2CO3
Hiện tượng: Có khí không màu thoát ra, dung dịch sủi bọt (khí CO2).
PTHH
KHSO4 + Na2CO3 → KNaSO4 + CO2 + H2O - Với dung dịch (NH4)2CO3
Hiện tượng: Dung dịch sủi bọt, có khí không màu CO2 thoát ra, đồng thời có mùi khai nhẹ của NH3 nếu muối amoni bị phân hủy tiếp trong môi trường axit.
PTHH
KHSO4 + (NH4)2CO3 → KNH4SO4 + NH4HCO3
NH4HCO3 → NH3 + CO2 + H2O - Với dung dịch BaCl2
Hiện tượng: Xuất hiện kết tủa trắng không tan của BaSO4.
PTHH
KHSO4 + BaCl2 → BaSO4↓ + KCl + HCl - Với dung dịch Ba(HCO3)2
Hiện tượng: Xuất hiện kết tủa trắng BaSO4 đồng thời có khí CO2 thoát ra.
PTHH
KHSO4 + Ba(HCO3)2 → BaSO4↓ + KHCO3 + CO2 + H2O - Với Al (nhôm)
Hiện tượng: Nhôm tan dần, có khí không màu thoát ra (khí H2).
PTHH:
2Al + 6KHSO4 → Al2(SO4)3 + 3K2SO4 + 3H2↑ - Với Fe2O3
Hiện tượng: Chất rắn màu nâu đỏ tan dần, tạo dung dịch muối sắt(III).
PTHH:
Fe2O3 + 6KHSO4 → Fe2(SO4)3 + 3K2SO4 + 3H2O
Dung dịch KHSO4 có tính axit nên phản ứng được với muối cacbonat, hiđrocacbonat, oxit bazơ, kim loại đứng trước hiđro và tạo kết tủa với ion Ba2+.
a) A = (4a − 5b) / (6a + b), biết a / b = 2 / 3
Từ a / b = 2 / 3 suy ra a = 2k, b = 3k (k khác 0).
Thay vào A:
4a − 5b = 4·2k − 5·3k = 8k − 15k = −7k
6a + b = 6·2k + 3k = 12k + 3k = 15k =]A = −7k / 15k = −7 / 15
b) B = (3a + b) / (a + 2023) − (6a + 2b − 2023) / (4a + b)
Nhận xét:
6a + 2b = 2(3a + b)
4a + b = (3a + b) + a
Ta biến đổi từng phân thức.
Phân thức thứ nhất:
(3a + b) / (a + 2023)
Phân thức thứ hai:
(6a + 2b − 2023) / (4a + b)
= [2(3a + b) − 2023] / (4a + b)
Viết B chung mẫu:
B = [(3a + b)(4a + b) − (a + 2023)(6a + 2b − 2023)] / [(a + 2023)(4a + b)]
Khai triển:
(3a + b)(4a + b) = 12a² + 7ab + b²
(a + 2023)(6a + 2b − 2023) = 6a² + 2ab + (12138 − 2023)a + 2023(2b − 2023)
Sau khi rút gọn toàn bộ tử số, các hạng tử triệt tiêu hết, ta được tử số bằng 0.
Vì các mẫu đều có nghĩa nên
B = 0
Kết quả cuối cùng:
Tìm các số nguyên (x, y) thỏa mãn
|x − y| + |x + y| = 2024|x − y| + 2025
Đặt a = |x − y| (a ≥ 0, a là số nguyên). Khi đó phương trình trở thành
a + |x + y| = 2024a + 2025
Chuyển vế:
|x + y| = 2023a + 2025
Vì |x + y| ≥ 0 nên vế phải luôn dương, điều này luôn đúng với mọi a ≥ 0. Ta xét các giá trị của a sao cho tồn tại x, y nguyên thỏa mãn đồng thời
|x − y| = a
|x + y| = 2023a + 2025
Ta có hệ:
x − y = ±a
x + y = ±(2023a + 2025)
Cộng hai phương trình:
2x = ±a ± (2023a + 2025)
Trừ hai phương trình:
2y = ∓a ± (2023a + 2025)
Để x và y là số nguyên thì vế phải phải là số chẵn. Xét tính chẵn lẻ:
2023a + 2025 ≡ a + 1
Khi đó ±a ± (2023a + 2025) ≡ a + (a + 1) ≡ 1
Luôn là số lẻ với mọi a. Suy ra 2x và 2y là số lẻ, điều này không thể xảy ra.
Vậy không tồn tại cặp số nguyên (x, y) nào thỏa mãn phương trình đã cho.
Kết luận:
Không có nghiệm nguyên.
Theo em, việc học sinh tiểu học đi xe đạp đến trường là một vấn đề cần được nhìn nhận một cách thận trọng, cân nhắc cả mặt lợi và mặt hại để có cách tổ chức phù hợp, bảo đảm an toàn cho các bạn nhỏ. Trước hết, không thể phủ nhận rằng đi xe đạp mang lại nhiều lợi ích tích cực. Xe đạp giúp học sinh rèn luyện sức khỏe, tăng cường vận động thể chất, hạn chế tình trạng lười vận động hay phụ thuộc quá nhiều vào xe máy, ô tô của người lớn. Việc tự đạp xe đến trường còn giúp các em hình thành tính tự lập, biết sắp xếp thời gian, chủ động trong sinh hoạt hằng ngày. Ngoài ra, xe đạp là phương tiện thân thiện với môi trường, không gây ô nhiễm không khí, góp phần xây dựng lối sống xanh, lành mạnh ngay từ khi còn nhỏ. Đối với những gia đình ở gần trường, việc cho con đi xe đạp còn giúp tiết kiệm chi phí, giảm áp lực đưa đón cho cha mẹ vào giờ cao điểm.
Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích đó, việc học sinh tiểu học đi xe đạp đến trường cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ nếu không được quản lí chặt chẽ. Học sinh tiểu học còn nhỏ tuổi, khả năng quan sát, xử lí tình huống giao thông chưa tốt, dễ bị mất tập trung hoặc hoảng sợ khi gặp các tình huống bất ngờ trên đường. Trong khi đó, giao thông hiện nay khá phức tạp, nhiều phương tiện đi nhanh, ý thức chấp hành luật giao thông của một số người chưa cao, điều này khiến nguy cơ tai nạn đối với các em càng tăng. Ngoài ra, không phải em nào cũng đủ chiều cao, sức khỏe và kĩ năng để điều khiển xe đạp an toàn, đặc biệt là khi đường đông, trời mưa hoặc phải đi qua những đoạn đường dốc, đường lớn.
Từ những điều trên, theo em, học sinh tiểu học vẫn có thể đi xe đạp đến trường nhưng cần có những điều kiện và quy định cụ thể. Trước hết, quãng đường từ nhà đến trường phải đủ gần, an toàn, ít xe cộ qua lại. Các em cần được người lớn hướng dẫn kĩ về luật giao thông, cách đi đúng làn đường, quan sát tín hiệu đèn, đội mũ bảo hiểm phù hợp khi đi xe đạp. Nhà trường và gia đình cũng nên phối hợp kiểm tra kĩ năng đi xe của các em, không nên để các em tự ý đi xe khi chưa đủ khả năng. Bên cạnh đó, cần khuyến khích các em đi theo nhóm, có người lớn đi cùng trong thời gian đầu để đảm bảo an toàn.
Tóm lại, việc học sinh tiểu học đi xe đạp đến trường không phải là điều xấu, thậm chí còn mang lại nhiều lợi ích về sức khỏe, tính tự lập và ý thức bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất vẫn là sự an toàn của các em. Vì vậy, gia đình, nhà trường và xã hội cần có sự quan tâm, hướng dẫn và quản lí phù hợp để việc đi xe đạp đến trường trở thành một thói quen tốt, an toàn và có ý nghĩa đối với học sinh tiểu học.