Lê Quang Đạt
Giới thiệu về bản thân
Gọi đáy lớn là B (cm), đáy nhỏ là b (cm), chiều cao h = 30 cm.
Theo đề bài:
b = 1/3 B
a) Tính hai đáy
Khi kéo dài hai đáy để thành hình chữ nhật cùng chiều cao, chiều dài hình chữ nhật chính là đáy lớn B.
Diện tích hình chữ nhật:
S cn = B x 30
Diện tích hình thang ban đầu:
S hình thang = (B + b) x 30 / 2
Hiệu diện tích là 600 cm2 nên:
B x 30 − (B + b) x 30 / 2 = 600
Thay b = 1/3 B vào:
30B − 30(B + B/3)/2 = 600
30B − 30 x (4B/3) / 2 = 600
30B − 20B = 600
10B = 600
B = 60 cm
Suy ra:
b = 1/3 x 60 = 20 cm
vậy...
đầu tư hpve là ngon luôn
đang 36 chớp mắt phát 72
chớp mắt phát nữa thì nổ hũ💥💲💲💲
🙄
xin thưa rằng lẩu thái
ăn vào thì nó làm sao
ko sao
ăn vào thì cay chứ sao 🤣🤣🤣
hôm đấy ổng còn chỉnh nhầm điểm thành thái lan 3-2 việt nam cơ vừa đi đái xg quay lại hết hồn 😂
Câu 1
Truyện Hoa đào nở trên vai được kể theo ngôi kể thứ ba.
Tác dụng: giúp người kể bao quát toàn bộ câu chuyện, miêu tả được hành động, tâm trạng của nhiều nhân vật, làm cho câu chuyện khách quan, tự nhiên và giàu cảm xúc.
Câu 2
Ông Vại đã nhặt được Lụm trong hoàn cảnh thằng bé bị bỏ rơi, lang thang, cô độc, không nơi nương tựa và đang trong tình trạng yếu ớt, thiếu thốn tình thương.
Câu 3
Biện pháp tu từ: ẩn dụ.
Hình ảnh “những cánh hoa anh đào chầm chậm nở trên vai” là ẩn dụ cho sự hồi sinh, sự ấm áp và hạnh phúc đang dần lan tỏa trong tâm hồn Lụm.
Tác dụng: làm nổi bật tình yêu thương của ông Vại đã sưởi ấm, chữa lành những tổn thương trong Lụm, khiến cảm xúc câu văn trở nên nhẹ nhàng, giàu chất thơ.
Câu 4
Chi tiết cho thấy Lụm từng bị ám ảnh bởi nỗi sợ hãi và thiếu thốn tình mẹ. Việc những cơn ác mộng ít dần chứng tỏ Lụm đang dần cảm thấy an toàn, được yêu thương và tâm hồn bắt đầu được xoa dịu nhờ tình cảm của ông Vại.
Câu 5
Một thông điệp khiến em tâm đắc nhất là tình yêu thương có thể chữa lành mọi vết thương. Lụm từ một đứa trẻ tổn thương đã dần tìm lại sự bình yên. Ông Vại không cần lời nói lớn lao mà chỉ bằng hành động âm thầm. Tình thương ấy đã giúp Lụm thay đổi từ bên trong. Điều đó nhắc em biết trân trọng và lan tỏa yêu thương đến những người xung quanh.
Câu 6
Tình yêu thương của ông Vại dành cho Lụm được thể hiện một cách lặng lẽ nhưng sâu sắc. Ông cưu mang Lụm khi thằng bé bị bỏ rơi, cho em một mái nhà và sự chở che. Ông chăm sóc Lụm từ những điều nhỏ nhất như tắm rửa, quan tâm đến giấc ngủ, những cơn ác mộng của em. Ông không chỉ lo cho Lụm về thể xác mà còn chữa lành những tổn thương tinh thần mà em phải chịu đựng. Sự kiên nhẫn và dịu dàng của ông khiến Lụm dần cảm nhận được hơi ấm của tình thân. Qua đó, ông Vại hiện lên như một người cha giàu lòng nhân ái, yêu thương Lụm bằng tất cả sự chân thành.
Câu 7
Gia đình là nơi sự sống bắt đầu và tình yêu thương không bao giờ kết thúc là một ý kiến sâu sắc và giàu ý nghĩa. Gia đình là nơi mỗi con người được sinh ra, lớn lên và học những bài học đầu tiên về yêu thương. Trong gia đình, con người được che chở, được thấu hiểu và được là chính mình. Dù cuộc sống có nhiều biến đổi, gia đình vẫn là chốn bình yên để ta quay về. Tình yêu thương trong gia đình không bị giới hạn bởi thời gian hay hoàn cảnh. Nó có thể âm thầm nhưng luôn tồn tại bền bỉ. Chính tình yêu ấy giúp con người có thêm sức mạnh để vượt qua khó khăn trong cuộc sống. Vì vậy, mỗi người cần biết trân trọng, giữ gìn và vun đắp hạnh phúc gia đình, bởi đó là giá trị thiêng liêng nhất của đời người.
hello
Câu 1:
– Mở ra những con đường giao lưu mới giữa châu Âu với châu Á, châu Phi và châu Mĩ, làm cho thế giới được mở rộng và gắn kết hơn.
– Thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển, hàng hóa, vàng bạc, nguyên liệu được trao đổi với quy mô lớn.
– Tạo điều kiện cho chủ nghĩa tư bản châu Âu ra đời và phát triển nhanh chóng.
– Dẫn tới việc xâm chiếm thuộc địa, bóc lột tài nguyên và áp bức các dân tộc ở châu Á, châu Phi, châu Mĩ, gây nhiều hậu quả tiêu cực cho các khu vực này.
Câu 2:
– Về kinh tế: nông nghiệp phát triển mạnh, đặc biệt là trồng lúa nước nhờ hệ thống thủy lợi quy mô lớn.
– Về chính trị: nhà nước phong kiến trung ương tập quyền được củng cố, lãnh thổ mở rộng.
– Về văn hóa: văn hóa Ăng-co đạt đỉnh cao với nhiều công trình kiến trúc đồ sộ, tiêu biểu là quần thể Ăng-co Vát, Ăng-co Thom.
– Về xã hội: đời sống tương đối ổn định, đất nước hùng mạnh trong khu vực.
Câu 3:
– Chính trị ổn định, nhà nước phong kiến được xây dựng vững mạnh.
– Kinh tế phát triển, nông nghiệp là chủ yếu, thủ công nghiệp và buôn bán được mở rộng.
– Văn hóa phát triển với chữ viết riêng, Phật giáo giữ vai trò quan trọng.
– Quan hệ hòa hiếu với các nước láng giềng, đất nước tương đối yên ổn và phồn thịnh.
bài j khó đã có tôi lo
bạn elo bn
- Điệp ngữ
– “Tổ quốc của tôi, Tổ quốc của tôi”, “Chín mươi triệu”, “Sóng”
Tác dụng: Nhấn mạnh hình ảnh Tổ quốc thiêng liêng, khắc sâu ý thức cộng đồng dân tộc; tạo nhịp điệu dồn dập, cảm xúc mạnh, thể hiện sự đồng lòng của cả dân tộc trước vận mệnh đất nước. - Nhân hóa
– “Tổ quốc gọi tên mình”, “Sóng quặn đỏ máu”, “Sóng chẳng bình yên dẫn lối”
Tác dụng: Làm cho Tổ quốc và thiên nhiên trở nên có hồn, gần gũi như con người; qua đó khơi dậy tình cảm sâu nặng, thiêng liêng của con người với đất nước. - Ẩn dụ
– “Ngọn đuốc Hòa bình”, “máu nhuộm mặn sóng biển Đông”
Tác dụng: “Ngọn đuốc Hòa bình” tượng trưng cho khát vọng hòa bình, chính nghĩa; “máu nhuộm mặn sóng biển Đông” gợi sự hi sinh, mất mát lớn lao của bao thế hệ để bảo vệ chủ quyền Tổ quốc. - Hoán dụ
– “Chín mươi triệu môi người thao thức tiếng ‘Việt Nam’ ”
Tác dụng: Lấy bộ phận “môi người” để chỉ con người Việt Nam, nhấn mạnh sự đồng lòng, cùng chung tiếng nói, chung tình yêu và trách nhiệm với đất nước. - Phóng đại
– “Một tấc biển cắt rời, vạn tấc đất đớn đau”
Tác dụng: Làm nổi bật nỗi đau lớn lao khi chủ quyền Tổ quốc bị xâm phạm, khẳng định mỗi phần lãnh thổ đều vô giá.
b) Nghị luận: Cảm nghĩ khi nghe hai tiếng “Việt Nam”
Hai tiếng “Việt Nam” vang lên trong đoạn thơ của Nguyễn Phan Quế Mai không chỉ là tên gọi của một quốc gia, mà còn là tiếng gọi thiêng liêng của lịch sử, của máu xương và khát vọng hòa bình. Khi đọc đến câu thơ “Chín mươi triệu môi người thao thức tiếng ‘Việt Nam’ ”, tôi cảm nhận rõ ràng một sự rung động sâu xa trong lòng, như thể cả dân tộc đang cùng thở chung một nhịp.
“Việt Nam” trước hết là kết tinh của bốn nghìn năm lịch sử không ngơi nghỉ. Đó là chiều dài của những cuộc đấu tranh bền bỉ để giữ đất, giữ biển, giữ lấy bản sắc và quyền được sống trong tự do. Hai tiếng ấy gợi nhắc đến biết bao thế hệ đã ngã xuống, để hôm nay đất nước được đứng vững giữa trời xanh. Khi nghe “Việt Nam”, ta không thể không nghĩ đến sự hi sinh thầm lặng của cha ông, những con người đã lấy thân mình chở che Tổ quốc, đổi máu xương lấy hòa bình.
“Việt Nam” còn là biểu tượng của sự đoàn kết. Chín mươi triệu con người, dù ở miền núi hay đồng bằng, dù nơi hải đảo xa xôi hay thành phố nhộn nhịp, đều chung một tiếng gọi. Trong những thời khắc khó khăn, hai tiếng “Việt Nam” có sức mạnh gắn kết kỳ lạ, khiến con người xích lại gần nhau hơn, sẵn sàng đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng. Đó chính là cội nguồn sức mạnh giúp dân tộc Việt Nam đứng vững trước mọi thử thách.
Không chỉ mang ý nghĩa của quá khứ, “Việt Nam” còn là lời nhắc nhở về trách nhiệm của hiện tại và tương lai. Nghe Tổ quốc gọi tên mình, mỗi người trẻ hiểu rằng yêu nước không chỉ là cảm xúc, mà còn là hành động cụ thể. Đó là học tập nghiêm túc, sống tử tế, tôn trọng pháp luật, biết bảo vệ chủ quyền và danh dự dân tộc bằng trí tuệ, bằng bản lĩnh, bằng những đóng góp nhỏ bé nhưng bền bỉ mỗi ngày.
Trong đoạn thơ, hình ảnh “ngọn đuốc Hòa bình” cho thấy khát vọng lớn lao của dân tộc Việt Nam: kiên quyết bảo vệ Tổ quốc nhưng luôn hướng tới hòa bình. Hai tiếng “Việt Nam” vì thế không gắn với hận thù, mà gắn với chính nghĩa, với mong muốn được sống yên bình trên chính mảnh đất của mình.
Đối với tôi, khi nghe hai tiếng “Việt Nam”, đó là niềm tự hào xen lẫn trách nhiệm. Tự hào vì được sinh ra trong một dân tộc kiên cường; trách nhiệm vì phải sống sao cho xứng đáng với những hi sinh đã có. “Việt Nam” không chỉ là tên gọi, mà là lời nhắc nhở mỗi người: Tổ quốc luôn ở trong tim, và Tổ quốc cần được gìn giữ bằng cả trái tim và hành động của chúng ta hôm nay.
chuẩn form này 10 đ bạn né