Nguyễn Ngọc Trường Sơn

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Ngọc Trường Sơn
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1:

Luân trong đoạn trích "Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm" hiện lên như một hình ảnh tiêu biểu của thế hệ thanh niên miền Nam trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ. Trước hết, Luân là một học sinh trong lớp bổ túc y tá, vừa học tập vừa tham gia hoạt động cách mạng, cho thấy ý thức tự rèn luyện và tinh thần trách nhiệm với đất nước. Từ khi mới mười tuổi, Luân đã sớm giác ngộ cách mạng, thấu hiểu sâu sắc nỗi đau của nhân dân dưới ách cai trị của chính quyền Mỹ, đêm đêm băng rào ấp chiến lược để đưa tin cho cán bộ. Đến mười lăm tuổi, em trực tiếp cầm súng tham gia du kích, nhiều lần chiến đấu với kẻ thù, nhiều lần đỡ trên tay những đồng chí hi sinh trên chính mảnh đất quê hương. Chiến tranh khốc liệt và nỗi thống khổ của nhân dân đã hun đúc ở Luân lòng yêu nước nồng nàn, sự gan dạ và tinh thần cống hiến quên mình. Vì thế, Luân hiện lên như một con người già trước tuổi, chín chắn, kiên cường, là tấm gương sáng về lý tưởng sống cao đẹp của tuổi trẻ Việt Nam trong thời chiến.

Câu 2:

Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, lòng yêu nước luôn là giá trị tinh thần thiêng liêng, là sợi dây gắn kết con người Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thử thách. Bước vào thời đại mới – thời đại của hội nhập và toàn cầu hóa – lòng yêu nước của người trẻ hiện nay không chỉ mang ý nghĩa kế thừa truyền thống mà còn cần được thể hiện bằng những cách thức phù hợp với bối cảnh xã hội hiện đại.

Lòng yêu nước trước hết có thể hiểu là tình yêu, niềm tự hào và ý thức trách nhiệm đối với Tổ quốc; là tinh thần sẵn sàng hành động, cống hiến vì lợi ích chung của cộng đồng và dân tộc. Đối với người trẻ hôm nay, yêu nước không còn chỉ gắn với những hi sinh nơi chiến trường, mà được thể hiện rõ nét trong đời sống thường ngày. Đó là việc tích cực học tập, rèn luyện để nâng cao tri thức, làm chủ khoa học – công nghệ, từ đó góp phần xây dựng và phát triển đất nước. Đó còn là sự tham gia các hoạt động thiện nguyện, sống nhân ái, biết sẻ chia với cộng đồng, quan tâm đến những vấn đề xã hội. Bên cạnh đó, việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, tôn trọng lịch sử, có ý thức bảo vệ chủ quyền quốc gia, cả trên thực địa lẫn không gian mạng, cũng là những biểu hiện rõ ràng của lòng yêu nước.

Thực tế cho thấy, nhiều bạn trẻ hiện nay đang thể hiện lòng yêu nước một cách tích cực và sáng tạo. Không ít người trẻ mang trong mình lý tưởng sống đẹp, sẵn sàng cống hiến trí tuệ, sức trẻ trong các lĩnh vực giáo dục, kinh tế, văn hóa, khoa học, khởi nghiệp… góp phần đưa hình ảnh Việt Nam vươn ra thế giới. Tuy nhiên, bên cạnh những tín hiệu đáng mừng ấy, vẫn tồn tại không ít biểu hiện tiêu cực đáng lo ngại. Một bộ phận người trẻ còn thờ ơ với lịch sử, văn hóa dân tộc, thiếu ý thức trong việc bảo vệ chủ quyền quốc gia. Thậm chí, có những trường hợp bất chấp việc thưởng thức, lan truyền các sản phẩm giải trí chứa hình ảnh bản đồ tuyên truyền “đường lưỡi bò” sai trái thay vì tẩy chay và phản đối, vô tình tiếp tay cho những quan điểm xâm phạm chủ quyền dân tộc.

Những biểu hiện tiêu cực ấy bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân. Trước hết là ảnh hưởng tiêu cực của mạng xã hội trong thời đại bùng nổ thông tin, nơi các tin giả, thông tin sai lệch dễ dàng lan truyền và tác động đến nhận thức của người trẻ. Bên cạnh đó, việc giáo dục lịch sử, văn hóa truyền thống ở một số nơi còn khô khan, thiếu hấp dẫn, chưa tạo được sự hứng thú và chiều sâu nhận thức cho người học. Ngoài ra, tâm lý đám đông, lối sống thực dụng, chạy theo hình thức, hưởng thụ cũng khiến lòng yêu nước của một số người trở nên hời hợt, chỉ dừng lại ở lời nói hoặc những hành động mang tính phong trào, giả tạo. Hệ quả là sự suy giảm ý thức trách nhiệm công dân và nguy cơ bị các thế lực xấu lợi dụng, gây chia rẽ khối đoàn kết dân tộc.

Cần khẳng định rằng, yêu nước không nhất thiết phải được thể hiện bằng những hành động to lớn hay chỉ dành cho những người có điều kiện đặc biệt. Đó là một quan niệm sai lầm. Lòng yêu nước hiện diện ngay trong những việc làm nhỏ bé, giản dị: ứng xử văn minh trên không gian mạng, lên tiếng bảo vệ chủ quyền quốc gia, giới thiệu văn hóa, ẩm thực quê hương đến bạn bè quốc tế, hay đơn giản là sống tốt, sống có trách nhiệm với cộng đồng.

Để bồi đắp và phát huy lòng yêu nước một cách đúng đắn, mỗi người trẻ cần không ngừng tự rèn luyện đạo đức, trau dồi tri thức, phát triển kỹ năng nhằm đóng góp những giá trị tích cực cho xã hội. Đồng thời, cần chủ động tìm hiểu lịch sử, văn hóa dân tộc, gìn giữ bản sắc truyền thống trong quá trình hội nhập. Khi người trẻ ý thức được vai trò và trách nhiệm của mình, lòng yêu nước sẽ không chỉ là cảm xúc nhất thời mà trở thành động lực bền vững cho sự phát triển của đất nước.

Tóm lại, lòng yêu nước của người trẻ hiện nay vừa mang trong mình truyền thống dân tộc, vừa đòi hỏi sự đổi mới trong cách thể hiện. Khi được nuôi dưỡng đúng đắn, lòng yêu nước sẽ trở thành nền tảng tinh thần vững chắc để thế hệ trẻ góp phần xây dựng một Việt Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh và bền vững.

Câu 1:

Thể loại của văn bản là nhật ký.

Câu 2:

Trong văn bản, người kể đã dùng ngôi kể thứ nhất, xưng "mình".

Câu 3:

− Đặc điểm của ngôn ngữ thân mật trong văn bản là: Ngôn ngữ trong văn bản gần gũi, tự nhiên, thoải mái, được dùng trong hoàn cảnh giao tiếp không theo nghi thức (xuất hiện ở dạng viết − nhật ký); thể hiện thái độ, tình cảm thân mật,... Loại ngôn ngữ này có đặc điểm:

+ Sử dụng khẩu ngữ (“mười tuổi đầu”, “mười lăm tuổi đầu”, hở,...), tình thái từ (“hở”).

+ Sử dụng câu rút gọn (“Hãy nuôi mãi niềm tin hy vọng của tuổi trẻ.”), câu có cấu trúc đơn giản (“Còn Luân, em nghĩ gì hở em?”, “Một đêm dài nói chuyện với Luân – một học sinh trong lớp bổ túc y tá.”,...).

Câu 4:

− Một số chi tiết thể hiện tính xác thực của văn bản:

+ Địa danh: Phổ Vinh.

+ Thời gian: 11.7.68.

+ Con người: Luân, bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm.

+ Sự kiện: Bác sĩ Trâm trò chuyện với Luân, suy ngẫm về những sự kiện trong cuộc đời của người du kích trẻ tuổi (tham gia du kích, đưa tin cho cán bộ, chiến đấu với quân thù,...).

− Tác dụng: Tăng độ tin cậy cho những sự việc, con người được nhắc đến trong nhật ký.

Câu 5:

Từ văn bản trên, tôi rút ra bài học về việc sống có lý tưởng và trách nhiệm với Tổ quốc. Cuộc đời và sự hi sinh của Luân cho thấy tuổi trẻ dù trong hoàn cảnh gian khổ vẫn có thể sống cao đẹp vì đất nước. Đồng thời, tôi hiểu rằng hòa bình hôm nay là thành quả của biết bao xương máu, nên cần biết trân trọng và biết ơn thế hệ đi trước. Văn bản cũng nhắc nhở người trẻ phải giữ vững niềm tin, hy vọng, không để đau khổ làm mất đi sự trong sáng của tâm hồn. Chính những giá trị ấy giúp con người sống có ý nghĩa hơn trong hiện tại.


Câu 1:

Trong "Truyện người liệt nữ ở An Ấp", nhân vật phu nhân hiện lên như hình tượng tiêu biểu cho người phụ nữ Việt Nam xưa với nhiều phẩm chất đáng trân trọng. Bà xuất thân là con nhà quan, có nền nếp giáo dục vững vàng, vì thế khi về nhà chồng luôn giữ nghi dung thanh nhã, cử chỉ đoan trang, đúng mực. Không chỉ khéo léo trong thêu thùa khâu vá, phu nhân còn là người giỏi văn thơ, đủ tài và đủ trí để trở thành tri kỉ tinh thần của phu quân. Trong đời sống gia đình, bà biết giữ lễ độ, khuôn phép, vừa kính trọng vừa yêu thương chồng, góp phần xây dựng một gia đình hoà thuận. Đặc biệt, phu nhân còn là người vợ hiền sâu sắc khi biết khuyên nhủ chồng chăm lo việc quan, từ đó giúp Đinh Hoàn trở thành vị quan cần mẫn, được triều đình tin cậy. Khi chồng mất nơi đất khách, tình cảm thuỷ chung của bà bộc lộ đến tận cùng: nỗi đau khiến bà không còn thiết tha với cõi đời và chọn cái chết để giữ trọn đạo phu thê. Hành động ấy, trong quan niệm thời trung đại, thể hiện lòng chung tình son sắt và khát vọng đoàn tụ vĩnh viễn với chồng. Qua nhân vật phu nhân, tác giả bày tỏ sự ngợi ca phẩm giá cao đẹp, giàu đức hi sinh của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội xưa.

Câu 2:

Từ hình tượng nhân vật Đinh Hoàn trong "Truyện người liệt nữ ở An Ấp" – một kẻ sĩ hết lòng vì việc nước, có thể gợi ra nhiều suy nghĩ sâu sắc về trách nhiệm của người trí thức đối với đất nước trong mọi thời đại.

Trước hết, cần hiểu người trí thức là những người có trình độ học vấn cao, được đào tạo chuyên môn bài bản, nắm giữ và sáng tạo tri thức trong các lĩnh vực như khoa học, kỹ thuật, giáo dục, y tế, văn hoá, nghệ thuật… Tri thức không chỉ là vốn hiểu biết cá nhân mà còn là nguồn lực quan trọng quyết định sự phát triển của một quốc gia. Vì thế, trí thức luôn gắn với trách nhiệm xã hội và trách nhiệm công dân.

Trách nhiệm đầu tiên và quan trọng nhất của người trí thức là cống hiến trí tuệ, năng lực của mình cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Đinh Hoàn là hình ảnh tiêu biểu cho tinh thần ấy: dù sức yếu, đường đi sứ gian nan, ông vẫn dốc toàn tâm toàn lực lo việc bang giao, không phụ sự tín nhiệm của triều đình; đến lúc lâm chung vẫn canh cánh nỗi lo “việc nước chưa trọn”. Ngày nay, trách nhiệm đó thể hiện ở việc người trí thức nghiêm túc lao động, nghiên cứu, sáng tạo, tạo ra những giá trị thiết thực giúp đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bắt kịp sự phát triển của thế giới.

Bên cạnh đó, người trí thức còn có trách nhiệm định hướng các hệ giá trị trong xã hội. Với hiểu biết và tầm nhìn của mình, họ cần góp tiếng nói để phân biệt đúng – sai, tiến bộ – lạc hậu; đấu tranh với cái xấu, cái ác, sự bất công, đồng thời lan toả những giá trị nhân văn, tốt đẹp. Trong bối cảnh hội nhập, trí thức càng phải ý thức rõ vai trò gìn giữ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, giúp xã hội phát triển văn minh mà không đánh mất căn cốt truyền thống.

Thực tế cho thấy, nhiều trí thức Việt Nam đang âm thầm cống hiến cho Tổ quốc: các bác sĩ ngày đêm cứu chữa sinh mạng con người; các nhà khoa học miệt mài nghiên cứu để cải thiện đời sống; các thầy cô giáo không ngừng đổi mới phương pháp giảng dạy vì tương lai thế hệ trẻ. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận trí thức thụ động, sống vị kỉ, chưa sẵn sàng dấn thân trước những vấn đề lớn của đất nước. Nguyên nhân có thể đến từ lối sống thực dụng, tâm lí ngại khó, ngại rủi ro; từ việc có bằng cấp nhưng thiếu năng lực thực chất; hoặc từ chế độ đãi ngộ chưa tương xứng khiến họ chưa yên tâm cống hiến.

Từ đó, cần thẳng thắn phê phán những trí thức dùng tri thức để trục lợi, lách luật, tiếp tay cho cái xấu; những người thờ ơ trước vận mệnh dân tộc; hay hiện tượng “chảy máu chất xám” khi một số người được đào tạo bằng nguồn lực quốc gia nhưng không quay về đóng góp. Để khắc phục, Nhà nước cần có chính sách trọng dụng, đãi ngộ hợp lí, đồng thời thanh lọc đội ngũ bằng cách bài trừ bằng cấp giả, chạy chức chạy quyền. Về phía người trí thức, mỗi cá nhân cần tự ý thức trách nhiệm công dân, không ngừng học hỏi, rèn luyện bản thân, dám dấn thân và đặt lợi ích chung của đất nước lên trên lợi ích cá nhân.

Tóm lại, từ tấm gương Đinh Hoàn, có thể khẳng định rằng trí thức chỉ thực sự xứng đáng với vị trí xã hội của mình khi gắn tri thức với trách nhiệm, đem tài năng và tâm huyết phụng sự Tổ quốc. Đó không chỉ là nghĩa vụ, mà còn là giá trị cao đẹp làm nên phẩm chất của người trí thức chân chính.

Câu 1:

Văn bản trên thuộc thể loại truyện truyền kì.

Câu 2:

Đề tài của văn bản là về người phụ nữ.

Câu 3:

− Yếu tố kì ảo:

+ Hồn Đinh Hoàn hiện về gặp gỡ, trò chuyện với phu nhân ở trong mộng.

+ Người dân cầu đảo tại đền thờ phu nhân đều thấy có linh ứng.

− Tác dụng:

+ Làm tăng sức hấp dẫn, li kì cho câu chuyện.

+ Thể hiện sự tôn vinh, lý tưởng hoá nhân vật phu nhân: Bà đã trở thành một tấm gương mẫu mực về đức hạnh, được người đời tôn vinh, trọng vọng. Chính vì thế, sự linh ứng cho thấy niềm tin tưởng và sự lý tưởng hoá mà nhân dân dành cho bà.

Câu 4:

-Tác dụng của việc sử dụng điển tích, điển cố trong văn bản: Gia tăng tính hàm súc, uyên bác, trang nhã cho văn bản; đồng thời gợi cho người đọc những liên tưởng phong phú, giàu cảm xúc.

-Tôi ấn tượng nhất với điển tích "chặt vai" vì câu chuyện xưa ấy đã cho thấy hành động quyết đoán của nàng Lý khi nàng dám chặt tay để bảo vệ trinh tiết của mình. Song, đối với phu nhân của Định Hoàn, dù "chặt vai" hay "khoét mắt" thì thân xác, sự sống vẫn còn, chứ không thể đi theo người phu quân mà mình yêu thương sâu sắc. Do đó, điển tích này càng giúp tôi nhận thấy rõ nét hơn tình yêu chân thành, mãnh liệt mà phu nhân dành cho Đinh Hoàn.

Câu 5:

− Không gian trong văn bản có sự kết hợp giữa các cõi: Cõi trần và cõi tiên/ cõi mộng. Cụ thể:

+ Không gian cõi trần: Đường đi sứ đầy gian nan của Đinh Hoàn; không gian mùa thu có gió vàng, tiếng ve; trời đất chỉ có sương mù, trăng mờ.

+ Không gian cõi tiên/ cõi mộng: Thiên Đình, nơi thiên tào nhiều công việc; không gian Đinh Hoàn hiện về gặp phu nhân.

− Tác dụng của việc xây dựng không gian: Sự kết hợp giữa các cõi có tác dụng:

+ Góp phần làm tăng thêm sự kì ảo, huyền bí cho không gian nghệ thuật, làm tăng sức hấp dẫn cho câu chuyện.

+ Khắc hoạ sâu sắc đề tài, chủ đề của truyện: Qua cuộc gặp gỡ giữa Đinh Hoàn và phu nhân trong cõi mộng/ cõi tiên, không gian ấy tô đậm hơn tình nghĩa phu thê giữa hai nhân vật; từ đó, thúc đẩy cốt truyện, hợp thức hoá cho hành động quyên sinh của phu nhân sau này − rằng đây không phải là một hành động cực đoan, vô nghĩa mà là hành động chủ động, cố gắng để được tái hợp với phu quân, khẳng định sự thuỷ chung, trinh liệt của người phụ nữ.




Câu 1:

Cùng viết trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, đoạn trích trong "Mãi mãi tuổi hai mươi" của Nguyễn Văn Thạc và "Nhật kí Đặng Thuỳ Trâm" đều thể hiện rõ tâm thế của những người trẻ sống và chiến đấu vì Tổ quốc. Điểm gặp gỡ nổi bật ở hai văn bản là tình yêu nước tha thiết, lòng căm thù giặc sâu sắc và ý thức sẵn sàng hi sinh tuổi trẻ, hạnh phúc riêng cho độc lập, tự do của dân tộc. Tuy nhiên, mỗi đoạn trích lại mang sắc thái nội dung riêng. Trong "Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm", cảm xúc chủ đạo là sự chiêm nghiệm, lắng sâu của một nữ bác sĩ trẻ khi nhìn lại tuổi xuân đã trôi qua giữa bom đạn. Ở đó có nỗi tiếc nuối rất người trước tuổi trẻ và tình yêu bị chiến tranh cướp mất, nhưng trên tất cả vẫn là sự lựa chọn dứt khoát: gác ước mơ riêng để hòa vào ước mơ chung của thời đại. Ngược lại, đoạn trích trong "Mãi mãi tuổi hai mươi" lại dồn dập, mãnh liệt, khắc họa nỗi đau xót trước cảnh nhân dân, đồng đội bị tàn sát và cảm giác day dứt, “xấu hổ” khi bản thân chưa được trực tiếp ra chiến trường. Qua đó, âm hưởng tác phẩm này trở nên sôi sục, cháy bỏng khát vọng được chiến đấu. Hai đoạn trích, hai giọng điệu khác nhau, nhưng cùng tỏa sáng vẻ đẹp cao cả của thế hệ thanh niên Việt Nam trong chiến tranh.

Câu 2:

Trong nhịp sống hiện đại, con người ngày càng đứng trước nhiều lựa chọn về cách sống: an nhàn, ổn định hay chấp nhận thay đổi để phát triển bản thân. “Hội chứng Ếch luộc” là một hình ảnh ẩn dụ sâu sắc, cảnh báo con người về nguy cơ bị cuốn vào sự an toàn giả tạo, từ đó đánh mất ý chí vươn lên. Là một người trẻ, trước lựa chọn ấy, tôi cho rằng con người cần luôn sẵn sàng thay đổi môi trường sống để không ngừng hoàn thiện và phát triển chính mình.

“Hội chứng Ếch luộc” bắt nguồn từ một thí nghiệm giả định: nếu thả con ếch vào nồi nước sôi, nó sẽ lập tức nhảy ra để bảo toàn sự sống. Nhưng nếu đặt nó vào nồi nước lạnh rồi đun nóng từ từ, con ếch vì không nhận ra sự thay đổi nguy hiểm nên dần mất khả năng phản kháng và chết đi. Hình ảnh này phản chiếu rõ nét đời sống con người. Khi sống quá lâu trong sự ổn định, an toàn và dễ chịu, con người dễ buông lỏng cảnh giác, đánh mất sự nhạy bén trước những biến động âm thầm nhưng khốc liệt của xã hội.

Nguyên nhân sâu xa của hiện tượng này xuất phát từ tâm lý ngại thay đổi, sợ rủi ro và thích hưởng thụ sự an nhàn. Một môi trường sống quá quen thuộc khiến con người rơi vào vòng lặp: làm việc theo thói quen, tư duy theo lối mòn, không còn khát vọng học hỏi hay bứt phá. Sự thoải mái kéo dài dần giết chết khả năng tự học, sáng tạo và thích ứng – những năng lực sống còn trong thời đại biến động không ngừng.

Hệ quả của “hội chứng Ếch luộc” là vô cùng nghiêm trọng. Con người trở nên bị động, mất dần khả năng tự chủ và tự giải quyết vấn đề. Khi xã hội thay đổi nhanh chóng về công nghệ, kinh tế và tư duy, những cá nhân không kịp thích nghi sẽ dễ dàng bị bỏ lại phía sau, thậm chí bị xã hội đào thải. Nhiều người chỉ nhận ra sự tụt hậu của bản thân khi cơ hội đã vuột mất, khi “nồi nước” đã trở nên quá nóng để có thể thoát ra.

Trước thực trạng ấy, người trẻ cần chủ động tìm cách thoát khỏi vùng an toàn. Trước hết, mỗi cá nhân phải tích cực thay đổi tư duy, không ngừng học hỏi và rèn luyện bản thân. Việc học không chỉ gói gọn trong sách vở mà còn đến từ trải nghiệm thực tế, từ những thất bại và va chạm. Bên cạnh đó, người trẻ không nên ngại thay đổi môi trường sống, mạnh dạn tham gia các hoạt động tập thể, làm việc trong những môi trường mới để mở rộng tầm nhìn và trau dồi kỹ năng. Chính những thử thách ấy sẽ giúp con người trưởng thành, linh hoạt và bản lĩnh hơn.

Tóm lại, “hội chứng Ếch luộc” là một lời cảnh tỉnh sâu sắc đối với mỗi cá nhân, đặc biệt là người trẻ. Sự an nhàn, ổn định nếu kéo dài có thể trở thành chiếc bẫy nguy hiểm, âm thầm bào mòn ý chí và năng lực sống. Chỉ khi dám thay đổi, dám bước ra khỏi vùng an toàn, con người mới có thể phát triển bản thân và làm chủ tương lai của mình.

Câu 1:

Thể loại của văn bản là nhật kí.

Câu 2:

Đặc trưng của nhật kí là tính phi hư cấu - được thể hiện qua những dấu hiệu cụ thể sau:

- Thời gian cụ thể, rõ ràng: 15.11.1971, 29.2.1968.

- Tên người cụ thể: Anh Phúc, Phạm Tiến Duật, Triệu Bôn.

- Tên địa danh, vùng miền cụ thể: Trường Sơn, miền Nam, Huế, Sài Gòn.

Câu 3:

- Các biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn là:

+ Lặp từ: không.

+ Lặp cấu trúc: ta không quên.

-Dùng cái phủ định để:

+ Khẳng định lời thề của nhân vật rằng sẽ không bao giờ quên đi cảnh tượng đầy ám ảnh đó.

+ Nhấn mạnh lòng căm thù giặc - những kẻ cướp nước, gây nên cảnh tang tóc cho nhân dân Việt Nam của người viết.

Câu 4:

-Phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản là tự sự, miêu tả và biểu cảm. Cụ thể:

+ Tự sự: Đoạn kể lại cảnh làng xóm bị dội bom, cả làng chìm trong cảnh tang thương.

+ Miêu tả: Xuất hiện trong các chi tiết nhỏ, đan xen trong văn bản. Chẳng hạn như: Hố bom con toác ra ở trên đồi.; cảnh làng xóm tiêu điều, bị tàn phá ngày 19.2.1968; ngọn đuốc nứa thổi phừng phừng;...

+ Biểu cảm: Được thể hiện đan xen, xuất hiện nhiều nhất trong văn bản: Thằng Mỹ, nó là cái gì mà mơ hồ như thế?; Đi bộ đội, mình cảm thấy hơi mông lung trong việc nhìn nhận kẻ thù; Đêm ấy, thật đau lòng;...

-Việc sử dụng kết hợp các phương thức biểu đạt này có tác dụng:

+ Giúp cho sự việc hiện lên cụ thể, sinh động.

+ Thể hiện sâu sắc thái độ, suy nghĩ, tình cảm, đánh giá của người viết.

Câu 5:

Sau khi đọc đoạn trích, chi tiết gây ấn tượng mạnh nhất với tôi là hình ảnh "em bé miền Nam đập tay lên vũng máu" vì nó cho thấy sự tàn khốc của chiến tranh và nỗi đau mà người vô tội phải gánh chịu. Qua đó, tôi hiểu rõ hơn lòng căm thù giặc và tinh thần yêu nước mãnh liệt của tác giả, thêm trân trọng sự hi sinh của thế hệ trẻ trong kháng chiến chống Mỹ.




Câu 1:

Đoạn trích trong "Văn tế thập loại chúng sinh" của Nguyễn Du thể hiện sâu sắc giá trị nhân đạo và tài năng nghệ thuật của đại thi hào. Về nội dung, tác giả hướng ngòi bút đến những kiếp người nhỏ bé, bị xã hội lãng quên: người đàn ông mắc vào vòng binh lửa, bỏ nhà cửa mà chết oan vì “đạn lạc tên rơi”; người phụ nữ “buôn nguyệt bán hoa” lỡ làng cả tuổi xuân, khi về già không nơi nương tựa; hay những kẻ hành khất “nằm cầu gối đất”, sống nhờ lòng thương hại của thiên hạ. Họ khác nhau về số phận nhưng đều chung một nỗi khổ đau, bất hạnh. Qua đó, Nguyễn Du bày tỏ niềm xót xa sâu sắc trước nỗi đau của con người, khẳng định truyền thống nhân đạo của dân tộc: thương người trong mọi cảnh ngộ, kể cả khi họ đã chết. Về nghệ thuật, đoạn trích sử dụng thể song thất lục bát dân tộc, ngôn ngữ mộc mạc, hình ảnh gần gũi, giàu sức gợi cảm. Nhịp điệu chậm, buồn càng làm nổi bật không khí ai oán, thê lương. Chính sự kết hợp hài hòa giữa nội dung nhân đạo sâu sắc và nghệ thuật biểu đạt giàu tính dân gian đã làm nên sức lay động bền bỉ của đoạn trích.

Câu 2:

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội và môi trường làm việc hiện đại, thế hệ gen Z ngày càng trở thành tâm điểm của nhiều cuộc tranh luận. Không ít người trẻ bị gắn mác, quy chụp bằng những định kiến tiêu cực như “thiếu kiên trì”, “sống thực dụng”, “ngại khó”, “chỉ thích hưởng thụ”. Trước thực trạng đó, từ góc nhìn của một người trẻ, tôi cho rằng việc đánh giá cả một thế hệ bằng những khuôn mẫu phiến diện là thiếu công bằng và cần được nhìn nhận lại một cách khách quan.

Trước hết, cần làm rõ một số khái niệm. Gen Z là thế hệ sinh ra và lớn lên trong kỷ nguyên số, tiếp xúc sớm với internet, công nghệ và mạng xã hội. Gắn mác là việc dán cho một cá nhân hay tập thể một nhãn hiệu cố định, thường mang ý nghĩa tiêu cực. Quy chụp là cách đánh giá vội vàng, đánh đồng hành vi của một số cá nhân cho cả một nhóm người. Khi những khái niệm này kết hợp với nhau, gen Z dễ trở thành đối tượng bị nhìn nhận sai lệch về lối sống và cách làm việc.

Thực tế cho thấy, hiện nay nhiều bạn trẻ gen Z thường xuyên phải đối mặt với những nhận xét khắt khe trong học tập và công việc. Một số khảo sát trên các nền tảng tuyển dụng cho thấy gen Z bị cho là “nhảy việc nhiều”, “khó gắn bó lâu dài”, “đặt cái tôi quá cao”. Trên mạng xã hội, không hiếm những bài viết, bình luận mang tính chỉ trích, thậm chí chế giễu lối sống của người trẻ. Tuy nhiên, bên cạnh một bộ phận có biểu hiện chưa tích cực, vẫn có rất nhiều bạn gen Z năng động, sáng tạo, sẵn sàng học hỏi và cống hiến, đạt được những thành tựu đáng ghi nhận trong học tập, nghiên cứu khoa học, khởi nghiệp hay hoạt động xã hội.

Nguyên nhân của hiện tượng này trước hết xuất phát từ chính một số cá nhân trẻ tuổi có lối sống buông thả, thái độ làm việc thiếu trách nhiệm, vô tình tạo nên hình ảnh không đẹp trong mắt cộng đồng. Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa hơn lại nằm ở cái nhìn phiến diện và thói quen đánh đồng của xã hội. Mỗi thế hệ đều có điểm mạnh và hạn chế riêng, được hình thành từ bối cảnh lịch sử, kinh tế và văn hóa khác nhau. Việc áp đặt chuẩn mực của thế hệ trước lên thế hệ sau dễ dẫn đến hiểu lầm và xung đột.

Những định kiến tiêu cực ấy để lại nhiều hệ quả đáng lo ngại. Không ít bạn trẻ bị ảnh hưởng nặng nề về mặt tâm lý, trở nên tự ti, áp lực hoặc thu mình lại. Việc bị gắn mác cũng khiến họ khó hòa nhập với tập thể, bị nghi ngờ về năng lực ngay từ đầu và mất đi những cơ hội phát triển, thăng tiến trong công việc. Lâu dần, điều này không chỉ kìm hãm sự trưởng thành của cá nhân mà còn làm lãng phí nguồn lực trẻ của xã hội.

Để khắc phục tình trạng trên, trước hết bản thân người trẻ cần chủ động thay đổi, hoàn thiện mình bằng thái độ sống tích cực, tinh thần trách nhiệm và sự kiên trì trong học tập, lao động. Đồng thời, gen Z cũng cần thẳng thắn góp ý, nhắc nhở những bạn có biểu hiện chưa tốt để cùng nhau tiến bộ. Về phía xã hội, mỗi người cần học cách nhìn nhận đa chiều, công bằng, tránh quy chụp và sẵn sàng lắng nghe tiếng nói của thế hệ trẻ.

Tóm lại, việc gen Z bị gắn mác bởi nhiều định kiến tiêu cực là một hiện tượng có thật nhưng không phản ánh đầy đủ bản chất của cả một thế hệ. Khi người trẻ biết nỗ lực khẳng định giá trị của mình và xã hội mở lòng thấu hiểu, những “chiếc nhãn” vô hình ấy sẽ dần được gỡ bỏ, nhường chỗ cho sự tôn trọng và đồng hành giữa các thế hệ.

Câu 1:

Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích trên là: Biểu cảm, tự sự, miêu tả.

Câu 2:

Những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích là:

- Những người đàn ông bị bắt đi lính, chẳng may gặp cảnh buổi chiến trận mạng người như rác, mà bỏ mạng nơi sa trường.

- Những người đàn bà vì dòng đời lận đận mà phiêu bạt tới chốn lầu xanh.

- Những người hành khất, lang thang, phải sống cảnh màn trời chiếu đất, sống nhờ vào sự bố thí của người đời.

Câu 3:

-Những từ láy được sử dụng trong hai câu thơ gồm lập lòe (từ láy tượng hình), văng vẳng (từ láy tượng thanh).

-Chúng có tác dụng:

+ Khắc họa trạng thái của sự vật: lập lòe gợi ánh sáng khi mờ khi tỏ (ý chỉ linh hồn của những người lính chết trận); văng vẳng gợi âm thanh vọng lại từ xa, không rõ ràng (ý chỉ tiếng ai oán của những vong linh ấy).

+ Nhấn mạnh lòng thương xót của Nguyễn Du dành cho những người lính chết oan uổng nơi sa trường lạnh lẽo.

Câu 4:

- Chủ đề: Sự đáng thương của những kiếp người nhỏ bé.

- Cảm hứng chủ đạo: Xuyên suốt đoạn trích là tấm lòng thương cảm, xót xa của Nguyễn Du đối với những kiếp người nhỏ bé, đáng thương, khổ sở.

Câu 5:

Từ cảm hứng chủ đạo của "Văn tế thập loại chúng sinh", có thể thấy truyền thống nhân đạo là giá trị tinh thần quý báu, lâu đời của dân tộc Việt Nam. Đó là tình yêu thương, sự cảm thông sâu sắc dành cho những kiếp người bất hạnh, thể hiện qua lời ăn tiếng nói, ca dao tục ngữ như “Thương người như thể thương thân”, “Lá lành đùm lá rách”. Trong tác phẩm, Nguyễn Du đã xót xa cho mọi số phận khổ đau, không phân biệt sang hèn, qua đó làm sáng rõ tinh thần nhân ái của dân tộc. Truyền thống ấy ngày nay vẫn được tiếp nối qua các hoạt động thiện nguyện, cứu trợ đồng bào gặp thiên tai, dịch bệnh. Chính lòng nhân đạo giúp con người gắn bó, thấu hiểu nhau hơn và làm cho cuộc sống thêm ý nghĩa, tốt đẹp

.


Câu 1:

Văn bản "Cái đẹp trong truyện ngắn "Muối của rừng"" của Chu Thị Hảo có tính thuyết phục cao nhờ hệ thống lập luận rõ ràng, chặt chẽ và giàu sức gợi. Trước hết, luận đề được xác định nhất quán: làm nổi bật cái đẹp trong tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp, đặc biệt là sự thức tỉnh lương tri, xu hướng hướng thiện và mối quan hệ hài hòa giữa con người với thiên nhiên. Từ đó, tác giả triển khai các luận điểm mạch lạc theo trình tự hợp lí: từ vẻ đẹp thiên nhiên, đến sự chuyển biến nội tâm nhân vật, rồi kết tinh ở ý nghĩa biểu tượng của kết truyện. Các lí lẽ luôn gắn chặt với bằng chứng cụ thể, tiêu biểu, được trích dẫn trực tiếp từ văn bản gốc, giúp nhận định không mang tính áp đặt mà dựa trên cơ sở xác thực. Đặc biệt, cách đối lập giữa tiếng súng săn và tiếng kêu thảm thiết của loài khỉ được phân tích tinh tế, làm nổi bật sức lay động của cái đẹp và khả năng cảm hóa con người. Lối lập luận phân tích kết hợp bình luận giàu cảm xúc cho thấy tác giả không chỉ hiểu sâu tác phẩm mà còn truyền được rung cảm thẩm mĩ đến người đọc. Nhờ đó, bài viết vừa giàu tính khoa học, vừa giàu tính nhân văn, tạo nên sức thuyết phục bền vững.

Câu 2:

Trong những năm gần đây, trên các nền tảng mạng xã hội xuất hiện ngày càng nhiều clip ghi lại cảnh các bạn trẻ tự nguyện thu gom rác thải ở ao hồ, chân cầu, bãi biển hay những khu vực công cộng bị ô nhiễm. Từ góc nhìn của người trẻ, tôi cho rằng đây là một hiện tượng tích cực, đáng trân trọng và cần được nhìn nhận một cách công bằng, sâu sắc.

Trước hết, có thể hiểu hành động bảo vệ môi trường của giới trẻ là những việc làm cụ thể, tự giác nhằm giảm thiểu ô nhiễm, giữ gìn cảnh quan và bảo vệ hệ sinh thái sống xung quanh. Việc nhặt rác, phân loại rác, làm sạch các không gian công cộng không chỉ là hành động mang tính thời điểm mà còn thể hiện ý thức trách nhiệm của người trẻ trước những vấn đề chung của xã hội.

Thực tế cho thấy, ngày càng nhiều bạn trẻ quan tâm đến môi trường hơn trước. Không khó để bắt gặp những nhóm tình nguyện, câu lạc bộ xanh hay cá nhân tự quay clip dọn rác rồi đăng tải lên mạng xã hội. Theo các báo chí và tổ chức môi trường, nhiều chiến dịch như “Chủ nhật xanh”, “Hãy làm sạch biển” hay các hoạt động do đoàn thanh niên phát động đã thu hút hàng nghìn lượt tham gia của học sinh, sinh viên trên khắp cả nước. Điều đó cho thấy bảo vệ môi trường không còn là khẩu hiệu xa vời mà đã dần trở thành hành động cụ thể trong đời sống của giới trẻ.

Những việc làm ấy mang nhiều ý nghĩa sâu sắc. Trước hết, chúng góp phần lan tỏa tinh thần sống xanh, sống có trách nhiệm trong cộng đồng, đặc biệt là thông qua mạng xã hội – nơi có sức ảnh hưởng lớn đến nhận thức và hành vi của con người. Bên cạnh đó, việc thu gom rác thải giúp cải thiện cảnh quan, giảm ô nhiễm, bảo vệ nguồn nước, đất đai và sinh vật sống. Quan trọng hơn, chính quá trình tham gia những hoạt động này giúp người trẻ nhận ra giá trị của lao động, của sự cống hiến, từ đó thêm yêu cuộc sống, yêu quê hương, đất nước và có ý thức hơn với cộng đồng.

Tuy nhiên, bên cạnh những ý kiến ủng hộ, vẫn tồn tại những quan điểm trái chiều. Có người cho rằng các clip dọn rác chỉ là dàn dựng để “câu like, câu view”, nhằm xây dựng hình ảnh cá nhân. Lại có ý kiến cho rằng dù có dọn sạch thì chỉ sau một thời gian ngắn, rác thải sẽ lại xuất hiện vì ý thức của một bộ phận người dân còn thấp. Những ý kiến này không phải hoàn toàn vô lý, nhưng nếu chỉ vì thế mà phủ nhận toàn bộ nỗ lực của người trẻ thì là thiếu công bằng. Dù động cơ ban đầu là gì, kết quả cuối cùng vẫn là môi trường được cải thiện và thông điệp tích cực được lan tỏa. Hơn nữa, thay đổi ý thức xã hội là một quá trình lâu dài, không thể đòi hỏi hiệu quả ngay tức thì.

Để những hành động đẹp ấy phát huy hiệu quả bền vững, cần có những giải pháp đồng bộ. Trước hết, cần tích cực tuyên truyền, kêu gọi sự tham gia của nhiều bạn trẻ hơn, biến những hành động đơn lẻ thành phong trào có tổ chức. Đồng thời, nhà trường, gia đình và xã hội cần đẩy mạnh giáo dục ý thức bảo vệ môi trường, giúp mỗi người hiểu rằng giữ gìn môi trường không phải trách nhiệm của riêng ai mà là nghĩa vụ chung của toàn xã hội.

Tóm lại, những clip người trẻ thu gom rác thải không chỉ là hình ảnh đẹp trên mạng xã hội mà còn phản ánh sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của thế hệ trẻ hôm nay. Nếu được ủng hộ và định hướng đúng đắn, chính người trẻ sẽ là lực lượng nòng cốt góp phần bảo vệ môi trường và xây dựng một tương lai xanh, bền vững hơn cho đất nước.



Câu 1:

Luận đề: Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp.

Câu 2:

"Nhận ra thiên nhiên giản dị và đẹp cũng là lúc ông ý thức được hành động vừa làm điều ác của chính mình."

Câu 3:

– Nhan đề của văn bản: Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp.

– Các luận điểm trong văn bản:

+ Luận điểm 1: Sự thức tỉnh của nhân vật trước vẻ đẹp bình dị của thiên nhiên.

+ Luận điểm 2: Vẻ đẹp của sự hướng thiện.

+ Luận điểm 3: Cái đẹp hài hòa giữa thiên nhiên và con người.

– Nhận xét: Nhan đề có mối quan hệ chặt chẽ với nội dung văn bản:

+ Nhan đề là sự khái quát hóa của những luận điểm, nội dung được triển khai trong văn bản.

+ Các luận điểm đều hướng đến việc làm rõ chủ đề của văn bản – Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng.

Câu 4:

-Câu văn sử dụng biện pháp liệt kê cấc sự vật trong thiên nhiên: chim xanh, gà rừng, khỉ, sự hùng vĩ của núi non, hang động, sự tĩnh lặng của rừng xanh, sự quấn quít của ba con khỉ; tiếng súng săn dữ dội, tiếng kêu buồn thảm của khỉ đực, tiếng rú kinh hoàng của khỉ con.

-Việc liệt kê hàng loạt các dẫn chứng về sự đa dạng của các loài muông thú có tác dụng khẳng định vẻ đẹp thiên nhiên trong sự đối lập với sự can thiệp, tác động của con người đến thiên nhiên. Qua đó, tác giả nhấn mạnh sự thức tỉnh của con người trước vẻ đẹp bình dị của thiên nhiên.

Câu 5:

-Thông qua hệ thống luận đề, luận điểm, lí lẽ, bằng chứng cụ thể, rõ ràng; cách lập luận chặt chẽ, giàu sức thuyết phục, có thể thấy mục đích của tác giả Chu Thị Hảo qua bài viết này là nhằm phân tích, đánh giá về “cái đẹp” trong truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp.

-Dựa trên mục đích của bài viết, chúng ta có thể nhận thấy tác giả Chu Thị Hảo là người yêu, trân trọng thiên nhiên. Bên cạnh đó, thông qua nội dung bài phân tích, tác giả cũng nhằm khẳng định tư tưởng, thông điệp của truyện ngắn Muối của rừng, rằng con người cần có một cái nhìn bình đẳng và biết sống chan hòa với thiên nhiên.