nô nem
Giới thiệu về bản thân
Khởi nghĩa Lam Sơn (1418–1427) là cuộc khởi nghĩa do Lê Lợi lãnh đạo nhằm đánh đuổi quân nhà Minh xâm lược, giành lại độc lập cho đất nước. Đây là một trong những cuộc khởi nghĩa lớn và thành công nhất trong lịch sử Việt Nam.
1. Hoàn cảnh ra đời
Năm 1407, quân Minh xâm lược nước ta, đánh bại nhà Hồ và đặt ách đô hộ. Chúng thi hành nhiều chính sách tàn bạo như bóc lột nhân dân, cướp của cải, bắt người sang Trung Quốc làm lao dịch, phá hủy nhiều sách vở, di tích và tìm cách đồng hóa dân tộc Việt Nam. Cuộc sống của nhân dân vô cùng khổ cực nên lòng căm thù giặc ngày càng dâng cao.
Trước tình hình đó, Lê Lợi – một hào trưởng giàu lòng yêu nước ở vùng Lam Sơn – đã bí mật tập hợp nghĩa sĩ, chuẩn bị lực lượng để khởi nghĩa. Ông được nhiều người tài giúp sức, nổi bật là Nguyễn Trãi, người đã đề ra nhiều kế sách và viết các văn thư kêu gọi lòng dân.
2. Khởi nghĩa bùng nổ
Ngày mồng 2 Tết năm Mậu Tuất (đầu năm 1418), Lê Lợi chính thức dựng cờ khởi nghĩa tại vùng Lam Sơn và tự xưng là Bình Định Vương.
Những ngày đầu, nghĩa quân gặp rất nhiều khó khăn. Lực lượng ít, lương thực thiếu, vũ khí thô sơ nên nhiều lần bị quân Minh bao vây. Có lúc nghĩa quân phải rút lên vùng núi Chí Linh để bảo toàn lực lượng.
Trong thời điểm nguy cấp ấy, Lê Lai đã cải trang thành Lê Lợi, dẫn một đội quân xông ra đánh lạc hướng quân Minh. Ông chiến đấu đến cùng và hi sinh, giúp Lê Lợi cùng nghĩa quân thoát khỏi vòng vây. Sự hi sinh của Lê Lai trở thành biểu tượng về lòng trung thành và tinh thần vì nước.
3. Phát triển lực lượng
Sau nhiều năm chiến đấu gian khổ, nghĩa quân dần lớn mạnh. Họ vừa luyện quân, tích trữ lương thực, vừa tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân. Nhờ đối xử tốt với dân và có kỷ luật nghiêm minh, nghĩa quân ngày càng được nhiều người tham gia.
Năm 1424, theo kế sách của Nguyễn Chích, nghĩa quân chuyển hướng tiến vào vùng Nghệ An. Đây là bước ngoặt quan trọng vì vùng này có địa hình thuận lợi và được nhân dân tích cực giúp đỡ. Sau đó, nghĩa quân nhanh chóng giải phóng nhiều vùng ở Nghệ An, Tân Bình và Thuận Hóa.
Đến năm 1426, lực lượng Lam Sơn đã rất hùng mạnh và tiến quân ra Bắc để giải phóng đất nước.
4. Những chiến thắng lớn
Cuối năm 1426, nghĩa quân giành thắng lợi trong Trận Tốt Động – Chúc Động, tiêu diệt nhiều quân Minh và làm thay đổi cục diện chiến tranh.
Không chịu thất bại, nhà Minh đưa thêm quân sang cứu viện. Tuy nhiên, nghĩa quân Lam Sơn đã bố trí mai phục và giành thắng lợi vang dội trong Trận Chi Lăng – Xương Giang. Nhiều tướng Minh bị tiêu diệt hoặc bắt sống, quân cứu viện tan rã.
Sau thất bại liên tiếp, quân Minh buộc phải xin giảng hòa và rút toàn bộ quân về nước.
5. Kết quả và ý nghĩa
Đầu năm 1428, đất nước hoàn toàn sạch bóng quân xâm lược. Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, lập nên nhà Lê sơ, mở ra thời kỳ độc lập và phát triển của dân tộc.
Thay mặt vua, Nguyễn Trãi viết Bình Ngô đại cáo để tuyên bố chiến thắng, khẳng định chủ quyền và nền độc lập của Đại Việt. Tác phẩm này được xem là bản tuyên ngôn độc lập nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam.
Ý nghĩa lịch sử
- Chấm dứt 20 năm đô hộ của nhà Minh.
- Giành lại độc lập, thống nhất đất nước.
- Khẳng định sức mạnh đoàn kết và ý chí chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam.
- Đưa tên tuổi của Lê Lợi và Nguyễn Trãi trở thành những anh hùng dân tộc tiêu biểu.
- Để lại nhiều bài học quý về nghệ thuật quân sự, chiến lược và sức mạnh của lòng dân
a)
- \(B M\) là trung tuyến \(\Rightarrow M\) là trung điểm của \(A C\).
- \(D\) đối xứng với \(B\) qua \(M\) \(\Rightarrow M\) là trung điểm của \(B D\).
- Hai đường chéo \(A C , B D\) cắt nhau tại trung điểm \(\Rightarrow \boxed{A B C D \&\text{nbsp};\text{l} \overset{ˋ}{\text{a}} \&\text{nbsp};\text{h} \overset{ˋ}{\imath} \text{nh}\&\text{nbsp};\text{b} \overset{ˋ}{\imath} \text{nh}\&\text{nbsp};\text{h} \overset{ˋ}{\text{a}} \text{nh} .}\)
- \(C N\) là trung tuyến \(\Rightarrow N\) là trung điểm của \(A B\).
- \(E\) đối xứng với \(C\) qua \(N\) \(\Rightarrow N\) là trung điểm của \(C E\).
- Hai đường chéo \(A B , C E\) cắt nhau tại trung điểm \(\Rightarrow \boxed{A C B E \&\text{nbsp};\text{l} \overset{ˋ}{\text{a}} \&\text{nbsp};\text{h} \overset{ˋ}{\imath} \text{nh}\&\text{nbsp};\text{b} \overset{ˋ}{\imath} \text{nh}\&\text{nbsp};\text{h} \overset{ˋ}{\text{a}} \text{nh} .}\)
b)
- \(A B C D\) là hình chữ nhật \(\Leftrightarrow A C = B D\).
Mà \(B D = 2 B M , \&\text{nbsp}; B M = \frac{A C}{2}\)
\(\Rightarrow A C^{2} = A B^{2} + B C^{2}\)
\(\Rightarrow \boxed{\triangle A B C \&\text{nbsp}; \text{vu} \hat{\text{o}} \text{ng}\&\text{nbsp};\text{t}ạ\text{i}\&\text{nbsp}; B .}\) - \(A B C D\) là hình thoi \(\Leftrightarrow A B = B C\)
\(\Rightarrow \boxed{\triangle A B C \&\text{nbsp}; \text{c} \hat{\text{a}} \text{n}\&\text{nbsp};\text{t}ạ\text{i}\&\text{nbsp}; B .}\) - \(A B C D\) là hình vuông
\(\Leftrightarrow\) hình chữ nhật và hình thoi
\(\Rightarrow \boxed{\triangle A B C \&\text{nbsp}; \text{vu} \hat{\text{o}} \text{ng}\&\text{nbsp};\text{c} \hat{\text{a}} \text{n}\&\text{nbsp};\text{t}ạ\text{i}\&\text{nbsp}; B .}\)
c)
Trong hình bình hành \(A B C D\):
\(\overset{\rightarrow}{A D} = \overset{\rightarrow}{B C} .\)
Trong hình bình hành \(A C B E\):
\(\overset{\rightarrow}{A E} = \overset{\rightarrow}{C B} = - \overset{\rightarrow}{B C} .\)
Suy ra
\(\overset{\rightarrow}{A D} = - \overset{\rightarrow}{A E} .\)
\(\Rightarrow D , A , E\) thẳng hàng và \(A D = A E\).
Vậy \(\boxed{A \&\text{nbsp};\text{l} \overset{ˋ}{\text{a}} \&\text{nbsp};\text{trung}\&\text{nbsp};đ\text{i}ể\text{m}\&\text{nbsp};\text{c}ủ\text{a}\&\text{nbsp}; D E .}\) ∎
ok
Gọi phân số cần tìm là \(\frac{a}{b}\).
Vì rút gọn được \(\frac{13}{17}\) nên:
\(a = 13 k , b = 17 k \left(\right. k \in \mathbb{N} \left.\right)\)Lại có:
\(b - a = 28\) \(17 k - 13 k = 28\) \(4 k = 28\) \(k = 7\)Suy ra:
\(a = 13 \times 7 = 91 , b = 17 \times 7 = 119.\)Đáp số: \(\boxed{\frac{91}{119}}\).
bn nhắn riêng ạ bn k đăng linh tinh nhé
có đứa bị mất acc chỉ vì vào lp lạ .....
bn cứ học đi🥀
cảm ơn bạn đã đánh giá công nhận video trên này rất dễ hiểu
tham khảo
Công chúa Huyền Trân là một nhân vật nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam, được nhiều thế hệ nhắc đến như biểu tượng của lòng yêu nước và sự hy sinh vì lợi ích dân tộc. Bà là con gái của vua Trần Nhân Tông, em gái của vua Trần Anh Tông, sống vào thời nhà Trần.
Năm 1306, để thắt chặt mối quan hệ hòa hiếu giữa Đại Việt và vương quốc Chăm Pa, Công chúa Huyền Trân được gả cho vua Chế Mân. Đổi lại, Chế Mân đã dâng hai châu Ô và Lý cho Đại Việt. Hai vùng đất này sau đó được đổi tên thành Thuận Châu và Hóa Châu, là nền tảng cho quá trình mở rộng lãnh thổ về phía Nam của đất nước.
Một năm sau, vua Chế Mân qua đời. Theo phong tục của Chăm Pa lúc bấy giờ, hoàng hậu phải lên giàn hỏa để tuẫn táng cùng nhà vua. Biết tin, vua Trần Anh Tông đã cử Trần Khắc Chung sang Chăm Pa đưa Công chúa Huyền Trân trở về Đại Việt. Sau hành trình dài và đầy gian nan, bà đã trở về an toàn.
Cuộc đời của Công chúa Huyền Trân gắn liền với sự hy sinh vì vận mệnh quốc gia. Dù phải rời quê hương và chấp nhận cuộc hôn nhân mang tính chính trị, bà đã góp phần quan trọng vào việc mở rộng bờ cõi nước ta mà không cần đến chiến tranh. Hình ảnh của bà trở thành biểu tượng của đức hy sinh, lòng yêu nước và tinh thần đặt lợi ích dân tộc lên trên hạnh phúc cá nhân.
Ngày nay, tên tuổi Công chúa Huyền Trân vẫn được người dân Việt Nam ghi nhớ và tôn kính. Câu chuyện về bà là một bài học quý giá về lòng yêu nước, sự cống hiến và trách nhiệm đối với quê hương, đất nước.
o l m chưa có chức năng đó nhé bạn