Lý Bảo Phong

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Lý Bảo Phong
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

bài làm

Vào thế kỷ XIII, đất nước Đại Việt đang đối mặt với một trong những cuộc xâm lược lớn nhất lịch sử: quân Nguyên Mông hùng mạnh dưới sự chỉ huy của Thoát Hoan, con trai Hốt Tất Liệt. Đây là lần thứ ba quân Nguyên kéo quân sang xâm lược, với lực lượng lên đến hàng chục vạn quân, voi chiến và chiến thuyền hùng hậu. Giữa bối cảnh ấy, một vị anh hùng dân tộc đã nổi lên như ngọn cờ đầu kháng chiến: Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, hay còn gọi là Trần Hưng Đạo.

Trần Hưng Đạo sinh năm 1228 trong dòng dõi hoàng tộc nhà Trần, là con trai của Trần Liễu và cháu ruột vua Trần Thái Tông. Từ thuở thiếu niên, ông đã nổi tiếng tài năng võ nghệ và mưu lược. Năm 1258, khi quân Nguyên lần đầu xâm lược, ông đã tham gia chỉ huy đánh bại chúng tại Đông Bộ Đầu. Đến lần thứ hai năm 1285, ông lãnh đạo quân dân Đại Việt đại phá quân Thoát Hoan tại trận Vạn Kiếp, buộc chúng phải rút lui nhục nhã. Nhưng kẻ thù không cam lòng, năm 1288, chúng lại quay lại với lực lượng mạnh hơn, quyết tâm thôn tính Đại Việt.

Cuộc chiến đạt đỉnh điểm tại sông Bạch Đẳng – một con sông rộng lớn ở vùng cửa biển Quảng Yên (nay thuộc Quảng Ninh). Trần Hưng Đạo, lúc này đã được phong tước Hưng Đạo Đại Vương, nhận thấy quân Nguyên mạnh về thủy binh nên chúng sẽ dùng thuyền chiến để tiến sâu vào nội địa. Ông bí mật chỉ đạo tướng Trần Khánh Dư và các thợ thủ công đóng hàng trăm cọc gỗ nhọn, đầu bịt sắt, cắm xuống lòng sông Bạch Đẳng theo thế trận "cọc ngầm". Những cọc này được tính toán chính xác theo thủy triều: khi nước lớn, cọc chìm dưới mặt nước, không lộ; khi nước ròng, cọc nhô lên như những lưỡi dao tử thần.

Ngày 9 tháng 4 năm 1288 (âm lịch), hạm đội Nguyên Mông do Ô Mã Nhi chỉ huy, với hơn 600 chiến thuyền lớn nhỏ, hăm hở tiến vào sông Bạch Đẳng. Quân Đại Việt giả vờ thua chạy, dụ địch đuổi theo. Trần Hưng Đạo đứng trên đồi cao quan sát, bình tĩnh ra lệnh: "Đánh!". Khi thủy triều rút, hàng trăm cọc nhọn bất ngờ hiện ra, đâm thủng đáy thuyền địch. Chiến thuyền Nguyên lật úp, binh lính chìm nghỉm hoặc bị mũi tên từ hai bên bờ bắn như mưa. Ô Mã Nhi cố gắng chạy thoát nhưng bị bắt sống. Thoát Hoan trên bờ nghe tin đại bại, hoảng loạn bỏ chạy về nước, để lại xác quân Nguyên la liệt trên sông.

Chiến thắng Bạch Đẳng không chỉ tiêu diệt gần như toàn bộ thủy quân Nguyên, bắt sống hàng vạn tù binh, mà còn khẳng định tài thao lược thiên tài của Trần Hưng Đạo. Ông đã áp dụng nguyên tắc "lấy yếu thắng mạnh, lấy ít địch nhiều" một cách xuất sắc, kết hợp địa lợi, thời cơ và sự đoàn kết toàn dân. Sau chiến thắng, ông soạn "Hịch tướng sĩ" để khích lệ tinh thần quân sĩ, và "Binh thư yếu lược" để truyền lại kinh nghiệm quân sự.

Sự kiện này đã đi vào lịch sử như một trong những trận thủy chiến vĩ đại nhất thế giới, góp phần bảo vệ độc lập dân tộc Đại Việt. Trần Hưng Đạo mất năm 1300, để lại di sản bất diệt: một vị anh hùng dân tộc với lòng yêu nước cháy bỏng và tài năng quân sự kiệt xuất. Ngày nay, sông Bạch Đẳng vẫn là minh chứng sống động cho tinh thần quật khởi của dân tộc Việt Nam.

Câu 1

- ngôi kể được sử dụng trong văn bản: Ngôi thứ nhất.

Câu 2:

Hai chi tiết miêu tả ngoại hình của nhân vật Ga-ro-nê là:

– Cậu ấy lớn nhất lớp, đầu to vai rộng.

– Lưng khom khom và đầu rụt ngang vai.

Câu 3:

– HS nêu được 3 trong số các chi tiết thể hiện tình cảm của nhân vật “tôi” với Ga-ro-nê sau:

Càng hiểu cậu, tôi càng yêu cậu.

+Tôi tin chắc rằng cậu sẽ không ngại liều mình để cứu một người, cậu sẽ đem hết sức mình để che chở cho bạn: cứ nhìn vào đôi mắt của Ga-ro-nê thì thấy rõ điều đó!

+Trong ngần ấy người bạn, theo ý tôi, thì Ga-ro-nê là người tốt hơn cả.

Câu 4:

– Mặc dù cả lớp đều yêu quý cậu nhưng vẫn có một số người không có thiện cảm với Ga-ro-nê vì Ga-ro-nê chống lại những hành động độc ác của những đứa độc ác: mỗi khi có một đứa lớn định trêu ghẹo hay hà hiếp một đứa bé, mà đứa bé gọi Ga-ro-nê đến thì đứa lớn kia buộc phải đứng yên ngay.

– Qua đó, ta thấy nhân vật Ga-ro-nê là người biết bênh vực lẽ phải, luôn giúp đỡ mọi người xung quanh, đặc biệt là người yếu thế.

Câu 5:

Qua văn bản, em rút ra được bài học cho bản thân về cách ứng xử với bạn bè :

+ Luôn quan tâm giúp đỡ bạn bè.

+ Đối xử tốt với tất cả mọi người, kể cả người yếu thế.

+ Thân thiện, hoà nhã, yêu thương mọi người.

Bài làm

Vào thế kỷ XIII, đất nước Đại Việt đang đối mặt với một trong những cuộc xâm lược lớn nhất lịch sử: quân Nguyên Mông hùng mạnh dưới sự chỉ huy của Thoát Hoan, con trai Hốt Tất Liệt. Đây là lần thứ ba quân Nguyên kéo quân sang xâm lược, với lực lượng lên đến hàng chục vạn quân, voi chiến và chiến thuyền hùng hậu. Giữa bối cảnh ấy, một vị anh hùng dân tộc đã nổi lên như ngọn cờ đầu kháng chiến

Trần Hưng Đạo sinh năm 1228 trong dòng dõi hoàng tộc nhà Trần, là con trai của Trần Liễu và cháu ruột vua Trần Thái Tông. Từ thuở thiếu niên, ông đã nổi tiếng tài năng võ nghệ và mưu lược. Năm 1258, khi quân Nguyên lần đầu xâm lược, ông đã tham gia chỉ huy đánh bại chúng tại Đông Bộ Đầu. Đến lần thứ hai năm 1285, ông lãnh đạo quân dân Đại Việt đại phá quân Thoát Hoan tại trận Vạn Kiếp, buộc chúng phải rút lui nhục nhã. Nhưng kẻ thù không cam lòng, năm 1288, chúng lại quay lại với lực lượng mạnh hơn, quyết tâm thôn tính Đại Việt.

Cuộc chiến đạt đỉnh điểm tại sông Bạch Đẳng – một con sông rộng lớn ở vùng cửa biển Quảng Yên (nay thuộc Quảng Ninh). Trần Hưng Đạo, lúc này đã được phong tước Hưng Đạo Đại Vương, nhận thấy quân Nguyên mạnh về thủy binh nên chúng sẽ dùng thuyền chiến để tiến sâu vào nội địa. Ông bí mật chỉ đạo tướng Trần Khánh Dư và các thợ thủ công đóng hàng trăm cọc gỗ nhọn, đầu bịt sắt, cắm xuống lòng sông Bạch Đẳng theo thế trận "cọc ngầm". Những cọc này được tính toán chính xác theo thủy triều: khi nước lớn, cọc chìm dưới mặt nước, không lộ; khi nước ròng, cọc nhô lên như những lưỡi dao tử thần.

Ngày 9 tháng 4 năm 1288 (âm lịch), hạm đội Nguyên Mông do Ô Mã Nhi chỉ huy, với hơn 600 chiến thuyền lớn nhỏ, hăm hở tiến vào sông Bạch Đẳng. Quân Đại Việt giả vờ thua chạy, dụ địch đuổi theo. Trần Hưng Đạo đứng trên đồi cao quan sát, bình tĩnh ra lệnh: "Đánh!". Khi thủy triều rút, hàng trăm cọc nhọn bất ngờ hiện ra, đâm thủng đáy thuyền địch. Chiến thuyền Nguyên lật úp, binh lính chìm nghỉm hoặc bị mũi tên từ hai bên bờ bắn như mưa. Ô Mã Nhi cố gắng chạy thoát nhưng bị bắt sống. Thoát Hoan trên bờ nghe tin đại bại, hoảng loạn bỏ chạy về nước, để lại xác quân Nguyên la liệt trên sông.

Chiến thắng Bạch Đẳng không chỉ tiêu diệt gần như toàn bộ thủy quân Nguyên, bắt sống hàng vạn tù binh, mà còn khẳng định tài thao lược thiên tài của Trần Hưng Đạo. Ông đã áp dụng nguyên tắc "lấy yếu thắng mạnh, lấy ít địch nhiều" một cách xuất sắc, kết hợp địa lợi, thời cơ và sự đoàn kết toàn dân. Sau chiến thắng, ông soạn "Hịch tướng sĩ" để khích lệ tinh thần quân sĩ, và "Binh thư yếu lược" để truyền lại kinh nghiệm quân sự.

Sự kiện này đã đi vào lịch sử như một trong những trận thủy chiến vĩ đại nhất thế giới, góp phần bảo vệ độc lập dân tộc Đại Việt. Trần Hưng Đạo mất năm 1300, để lại di sản bất diệt: một vị anh hùng dân tộc với lòng yêu nước cháy bỏng và tài năng quân sự kiệt xuất. Ngày nay, sông Bạch Đẳng vẫn là minh chứng sống động cho tinh thần quật khởi của dân tộc Việt Nam.

– HS rút ra được bài học cho bản thân:

+ Thấu hiểu, đồng cảm, thương xót cho những người bị khuyết tật.

+ Cần biết chủ động giúp đỡ, không kì thị, xa lánh những người bị khuyết tật. 

– Biện pháp tu từ ẩn dụ: hót nắng vàng ánh ỏi.

– Tác dụng: “Ánh ỏi” vốn là từ gợi lên âm thanh tiếng chim, nhưng trong bài thơ này nó còn gợi cả sắc nắng vàng lấp lánh. Tác giả sử dụng biện pháp ẩn dụ chuyển đổi cảm giác ở đây (cảm nhận tiếng hót bằng thị giác thay vì bằng thính giác) có tác dụng đem đến sự giao hòa giữa âm thanh và ánh sáng; gợi lên trong thế giới của trẻ khiếm thính một vùng trời sống động, sinh sắc và vui tươi một cách đầy diệu kì.