Mai Hiển Thăng

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Mai Hiển Thăng
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

đề 1

câu 1 : thể loại cuae văn bản trên là thể thư lục bát

câu 2Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?”: điển cố

"Đau đớn thay, phận đàn bà!
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.": điển cố

“Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi: điển tích

câu 3 biện pháp tu từ ; so sánh

tác dụng ; làm tăng sức gợi hình gọi cẩm làm cho cau thơ chơe nên sinh động hấp dẫn

cau 4 những từ láy đc sử dụng trong văn bản trên là ;Đau đớn, Sè sè,Dàu dàu,Xôn xao, mong manh,   Sắm sanh

tác dụng;

).Tác dụng chính của từ láy là miêu tả và nhấn mạnh, giúp câu văn sinh động hơn bằng cách gợi hình ảnh, âm thanh và diễn tả cảm xúc, tâm trạng.

câu 5

thuý kiều có tâm trạng buồn bã, đau xót

đề 2:

câu 1: nhân vật chữ tình trong đoạn trích trên là : tú bà\

câu 2:

phép đối đc sử dunngj trong hai đoạn thơ là:Dập dìu lá gió cành chim,

câu 3


1 they asked me what they shoul bring to the wood carving demonstration

2 the hader it is to find jobs the more people leave the coutry

3 he came beacause he had a headache so he couldn't focus on his homework

bai 2

1 unless you pay the parking fee, you can not park here

2even though we do not talk much, i still get along with my neughbors

câu 1; Hữu Chi, một nhân vật chính trong văn bản, là hiện thân của sự nghèo khó và khốn cùng. Anh được miêu tả là một cậu bé gầy gò, ốm yếu dù đã hơn hai mươi tuổi, không khác gì một đứa trẻ. Sự yếu ớt của anh không chỉ thể hiện qua vẻ ngoài mà còn qua hành động bám níu người tình nguyện viên mong cô ở lại nói chuyện, cho thấy sự cô đơn và khao khát được kết nối của anh. Qua đó, nhân vật Hữu Chi khắc họa rõ nét bức tranh về cuộc sống thiếu thốn, một thực tế khắc nghiệt hơn nhiều so với những mộng mơ viển vông. Anh đại diện cho những người phải sống trong hoàn cảnh khó khăn, nơi những nhu cầu thiết yếu hàng ngày được đặt lên trên hết, không có chỗ cho sự mơ mộng hay giải trí. 

câu 2:Lòng tham vô độ là một thói xấu nguy hiểm, gây ra hậu quả nghiêm trọng cho cá nhân và xã hội, như làm mất đi phẩm giá, dẫn đến tội lỗi và hủy hoại hạnh phúc. Để khắc phục, mỗi người cần trau dồi đạo đức, nhận thức rõ ràng giá trị của bản thân và có thái độ sống tích cực, lành mạnh.  Tác hại của lòng tham
  • Làm mất phẩm giá và danh dự:  Lý Hữu Chi trong "Chuyện Lý tướng quân" vì lòng tham mà phải nhận sự trừng phạt đau đớn, đánh mất danh dự, nhân phẩm của bản thân. Tham lam vật chất khiến con người vơ vét, tranh đoạt bất chấp thủ đoạn, sẵn sàng làm hại người khác để thỏa mãn dục vọng bản thân. Tham vọng quyền lực cũng có thể dẫn đến hành động gian xảo, phản bội, làm băng hoại đạo đức xã hội.
  • Gây ra những hậu quả tiêu cực:  Lòng tham không chỉ ảnh hưởng đến bản thân mà còn tác động tiêu cực đến xã hội. Tình trạng tham ô, tham nhũng trong bộ máy nhà nước, các hành vi gian lận trong học tập hay kinh doanh đều là biểu hiện của lòng tham, làm suy yếu niềm tin trong xã hội, tạo ra bất công và bất ổn.
  • Hủy hoại hạnh phúc cá nhân:  Một khi lòng tham đã ăn sâu vào tâm trí, con người sẽ không bao giờ thấy đủ. Họ luôn chạy theo những giá trị vật chất phù phiếm, bỏ quên những giá trị tinh thần quý báu như tình cảm gia đình, bạn bè, công bằng và lòng nhân ái. Điều này dẫn đến một cuộc sống cô đơn, lạc lõng và cuối cùng là mất tất cả hạnh phúc. 
Biện pháp khắc phục lòng tham
  • Nâng cao ý thức đạo đức và giá trị bản thân:  Mỗi người cần nhận thức được rằng giá trị của con người không chỉ nằm ở vật chất mà còn ở phẩm chất đạo đức, tài năng và những đóng góp cho cộng đồng.
  • Xây dựng một lối sống lành mạnh:  Tích cực tham gia các hoạt động xã hội, làm việc thiện, sống tử tế và có trách nhiệm là cách hiệu quả để loại bỏ lòng tham.
  • Nuôi dưỡng lòng nhân ái và sự biết ơn:  Nên trân trọng những gì mình đang có, biết ơn những người xung quanh và sống một cách vị tha.
  • Học tập và làm việc nghiêm túc:  Thay vì gian lận, hãy nỗ lực học tập và làm việc chăm chỉ. Sự cống hiến và thành quả từ chính nỗ lực của bản thân sẽ mang lại cảm giác tự hào và hạnh phúc thực sự. 

câu 1 ; Nhân vật người chinh phụ trong bài thơ "Chinh phụ ngâm" được khắc họa qua nỗi cô đơn, nhớ nhung da diết và tâm trạng buồn thương. Nỗi sầu này được thể hiện qua việc nàng "chẳng biết", chỉ có mình nàng biết, nhưng lại cảm thấy cô đơn, không có ai chia sẻ, chỉ còn lại một mình nàng. Hình ảnh "mùa đông" lạnh lẽo và "lá hầu chất đống" phản ánh tâm trạng u uất, héo hon của nàng. Cuối cùng, sự cô đơn và số phận nhỏ bé, bất hạnh của nàng được làm nổi bật qua lời than thở, bi thương khi người chinh phụ phải sống trong cô quạnh và đau khổ. 

câu 2;Chinh phụ ngâm nguyên văn bằng chữ Hán, do Đặng Trần Côn sáng tác. Bản Nôm hiện hành, nhiều ý kiến thống nhất, là của dịch giả Đoàn Thị Điểm. Trước cảnh chiến tranh liên miên đầu thế kỉ XVIII, cảm động trước thời thế, Đặng Trần Côn đã viết Chinh phụ ngâm. Qua nỗi niềm và tâm trạng cô đơn, tủi hờn của người chinh phụ, tác phẩm đã nói lên sự oán ghét chiến tranh phong kiến phi nghĩa, đặc biệt là thể hiện tâm trạng khao khát tình yêu, hạnh phúc lứa đôi. Bản dịch đã thể hiện tài năng của tác giả và dịch giả trong việc thể hiện những trạng thái tâm lí vô cùng tinh tế và phức tạp của người vợ nhớ chồng.

Người chinh phụ vốn dòng dõi trâm anh quyền quý, nàng tiễn chồng ra trận với mong muốn người chồng sẽ lập công danh nơi yên ngựa và trở về trong cảnh vinh hoa. Thấm nỗi cô đơn lẻ loi, nàng nhận ra tuổi xuân của mình đang đi qua và hạnh phúc lứa đôi ngày càng xa vời. Người chinh phụ rơi vào tâm trạng cô đơn cùng cực. Khúc ngâm thể hiện tâm trạng cô đơn ấy của người chinh phụ. Đoạn trích miêu tả tâm trạng lẻ loi của người chinh phụ trong cảnh chờ chồng.

Đầu đời Cảnh Hưng, chiến tranh xảy ra liên miên, hết Lê - Mạc đánh nhau đến Trịnh - Nguyễn kéo dài cuộc phân tranh, đất nước chia làm hai nửa dưới cái ngai vàng mục ruỗng, rồi khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi. Nhân dân sống trong cảnh nồi da nấu thịt, loạn li chinh chiến, cha mẹ xa con, vợ xa chồng. Văn học thời kì này tập trung phản ánh bản chất thối nát, bộ mặt tàn bạo của chế độ phong kiến và nỗi đau khổ của con người - những nạn nhân của chế độ xã hội ấy. Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn ra đời đã nhận được sự đồng cảm của rất nhiều nho sĩ. Nhiều bản dịch Chinh phụ ngâm ra đời, trong đó bản dịch được cho là của Đoàn Thị Điểm là bản dịch thành công hơn cả vì dịch giả đã gặp được ở đó sự đồng cảm sâu sắc.

Hình tượng nổi bật của Chinh phụ ngâm là hình tượng người chinh phụ héo mòn trong trông ngóng chờ đợi. Người chinh phụ hiện lên trong khúc ngâm với ước vọng công hầu và khát khao hạnh phúc lứa đôi. Được nuôi dưỡng trong nền giáo dục Nho gia, người phụ nữ quý tộc phong kiến cũng từng mong ước, tự hào về hình ảnh một người chồng dũng mãnh :

Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt

Xếp bút nghiên theo việc đao cung

Thành liền mong tiễn bệ rồng

Thước gươm đã quyết chẳng dong giặc trời

Chí làm trai dặm nghìn da ngựa

Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao

Thế nhưng sau những ngày mỏi mòn chờ chồng trong tuyệt vọng, nàng rơi vào tâm trạng cô đơn, tuyệt vọng và cất lời oán trách. Qua tâm trạng của người thiếu phụ, khúc ngâm là tiếng nói oán trách chiến tranh phong kiến đã giày xéo lên hạnh phúc lứa đôi.

Chinh phụ ngâm là một tác phẩm trữ tình, từ đầu đến cuối tác phẩm vẫn chỉ là tâm trạng của nhân vật trữ tình  người chinh phụ. Khúc ngâm được phát triển theo mạch tâm trạng và nỗi nhớ nhung của người chinh phụ. Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ đã bao quát được những trạng thái tâm trạng của người chinh phụ. Nội tâm đầy biến động được diễn tả qua những từ ngữ chỉ ngoại hình, tả hành động, tả việc làm của người chinh phụ. Người thiếu phụ trong Khuê oán của Vương Xương Linh vẫn vô tư trang điểm má hồng để lên lầu biếc ngắm cảnh xuân, chỉ khi ngắm màu dương liễu mới bừng tỉnh và nhận ra cảnh ngộ cô đơn của mình ; còn người chinh phụ này luôn chìm đắm trong nỗi cô đơn. Sự trông đợi mỏi mòn và vô vọng đã khiến nàng trễ nải cả việc điểm phấn tô son, công việc quan trọng nhất của người phụ nữ nơi gác tía lầu son như nàng:

câu 1 bài thơ của đoạn trích trên là thể thơ song thất lục bát

câu 2 dòng thơ thể hiện sự mong mỏi ngóng trông tin chồng của người chinh phụ có thể là: thư tưd xa vời ai biết đâu, hỏi bóng trăng kia ngoài nghìn dặm,

câu 3: những hành động của người chinh phụ khi nghĩ về chồng là: thắp hương cầu nguyện, gieo quẻ bói, đứng ngồi không yên

khi nghĩ về người trồng nơi xa trường người chinh phụ đã có những hành động thể hiện sự quan tâm lo lắng và nỗi nhớ sau sắc

câu 4:biện pháp tu từ mà em ắn tượng trong bài là điệp ngữ nhấn mạnh tâm trạng cảm súc các câu thơ lặp lại ý chồng chưa về để khắc hoạ sự chờ đợi dai dẳng

câu 5; tâm trạng của người chinh phụ người chinh phụ thể hiện chủ yếu là nỗi nhớ thương da diết sự cô đơn buồn tủi lo lắng cho người chồng nơi chiến trận và mong mỏi mãnh liệt được đoàn tụ nỗi nhớ này còn xen lẫn sự bất mãn với chiến tranh đã cắt đôi lứa

suy nghĩ về giá trị cuộc sống hoà bình qua nỗi khổ của người ching phụ ta thấy được giá trị vô cùng to lớn của cuộc sống hoà bình mang lại sự đoàn viên hạnh phúc cho gia đình là điều kiện để con người sống trọn vẹn không còn cảnh chia ly lo âu vì chiến tranh

chiến thắng chỉ mang lại khổ đau mất mát chia cắt nó tước đoạt đi hạnh phúc cá nhân và sự phát triển của xã hộ

vì vậy việc giữ gìn và bảo vệ nền hoà bình là vô cùng quan trọng cần thiết cho sự tồn tại và phát triển cùa mmoiox con người mỗi dân tộc và toàn nhân loại chúng ta cần trân trọng những gì đang có và ý thức bảo vệ nền hoà bình mà ông cha ta đã đấu tranh giành lại