Nhữ Khánh Duy
Giới thiệu về bản thân
Câu 1:
Trong cuộc sống hiện đại đầy biến động, lối sống chủ động giữ vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi con người, đặc biệt là người trẻ. Chủ động là khi ta biết tự định hướng mục tiêu, tích cực hành động và không ngại đối mặt với khó khăn, thử thách. Người sống chủ động sẽ không chờ đợi cơ hội mà tự tạo ra cơ hội cho chính mình, từ đó dễ dàng nắm bắt thành công hơn. Ngược lại, lối sống thụ động khiến con người dễ rơi vào trạng thái phụ thuộc, mất phương hướng và bỏ lỡ nhiều cơ hội quý giá. Trong học tập, sự chủ động giúp ta tiếp thu kiến thức hiệu quả hơn; trong công việc, nó giúp nâng cao năng suất và khả năng thích nghi. Không chỉ vậy, sống chủ động còn rèn luyện bản lĩnh, sự tự tin và tinh thần trách nhiệm. Tuy nhiên, chủ động không có nghĩa là hấp tấp mà cần đi kèm với suy nghĩ chín chắn và kế hoạch rõ ràng. Vì vậy, mỗi người cần rèn luyện cho mình thói quen sống chủ động để làm chủ cuộc đời và hướng tới một tương lai tốt đẹp hơn.
Câu 2:
Bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm là một tác phẩm tiêu biểu thể hiện quan niệm sống và vẻ đẹp nhân cách của tác giả. Ông là một người học rộng tài cao, từng đỗ Trạng nguyên và ra làm quan dưới triều Mạc. Tuy nhiên, trước sự rối ren của triều chính và cuộc sống bon chen nơi quan trường, ông đã chọn cách rời bỏ danh lợi để trở về quê nhà sống cuộc đời thanh nhàn. Bài thơ “Nhàn” trích trong tập Bạch Vân quốc ngữ thi đã thể hiện rõ quan niệm sống thanh cao, hòa hợp với thiên nhiên và coi nhẹ phú quý của ông. Mở đầu bài thơ, hai câu đề đã khắc họa hình ảnh một cuộc sống giản dị, bình yên của nhà thơ nơi thôn dã: “Một mai, một cuốc, một cần câu, Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.” Những công cụ lao động quen thuộc như “mai”, “cuốc”, “cần câu” gợi lên cuộc sống của một người nông dân giản dị. Điệp từ “một” cùng cách liệt kê cho thấy cuộc sống đơn sơ nhưng đầy chủ động và ung dung. Hình ảnh nhà thơ hiện lên với tâm thế thanh thản, không bận tâm đến những thú vui khác của người đời. Qua đó, tác giả thể hiện sự lựa chọn của mình: sống hòa mình với thiên nhiên, tận hưởng cuộc sống bìinh dị nhưng tự do. Đến hai câu thực, tác giả bộc lộ rõ hơn quan niệm sống của mình: “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ, Người khôn, người đến chốn lao xao.” Ở đây xuất hiện nghệ thuật đối lập giữa “ta” và “người”, “dại” và “khôn”, “nơi vắng vẻ” và “chốn lao xao”. Cách nói tưởng chừng nghịch lí nhưng lại chứa đựng ý nghĩa sâu sắc. Theo quan niệm của tác giả, cái “dại” thực chất lại là cái “khôn”, bởi đó là sự lựa chọn rời xa nơi bon chen danh lợi để giữ gìn nhân cách và tâm hồn thanh thản. Ngược lại, cái “khôn” của người đời khi chạy theo quyền lực và tiền bạc đôi khi lại trở thành “dại”, vì đánh mấtt sự bình yên trong tâm hồn. Qua đó, ta thấy được thái đọo dứt khoát của nhà thơ trước cuộc sống danh lợi nơi quan trường. Hai câu luận tiếp theo đã vẽ nên bức tranh cuộc sống nhàn tản, hòa hợp với thiên nhiên qua bốn mùa: “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá, Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.” Những hình ảnh măng trúc, giá đỗ, hồ sen, ao làng đều rất quen thuộc với cuộc sống thôn quê. Tác giả sử dụng phép liệt kê để miêu tả cuộc sống giản dị, thuận theo tự nhiên, mùa nào thức nấy. Tuy đạm bạc nhưng cuộc sống ấy lại đem đến sự thanh cao và thư thái. Qua đó, ta cảm nhận được niềnm vui của nhà thơ khi được hòa mình với thiên nhiên, sống một cuộc đời bình dị nhưng đầy ý nghĩa. Hai câu kết đã khẳng định rõ thái độ của tác giả đối với công danh phú quý: “Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống, Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.” Hình ảnh nhà thơ uống rượu dưới gốc cây gợi lên một phong thái ung dung, tự tại. Câu thơ cuối khẳng định quan niệm sống của tác giả: phú quý, danh lợi chỉ như giấc mộng thoáng qua, không đáng để con người phải chạy theo. Điều đáng quý hơn chính là sự thanh thản trong tâm hồn và một nhân cách cao đẹp. Như vậy, bài thơ “Nhàn” không chỉ vẽ nên bức tranh cuộc sống thanh đạm nơi thôn quê mà còn thể hiện quan niệm sống sâu sắc của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Qua đó, ta thấy được một con người có nhân cách thanh cao, biết coi nhẹ danh lợi và luôn hướng tới cuộc sống hòa hợp với thiên nhiên. Bài thơ vì thế vẫn giữ nguyên giá trị và ý nghĩa cho đến ngày nay.
Câu 1:
-Thể thở của văn bản : Thất ngôn bát cú đường luật
Câu 2:
-Những hình ảnh chỉ ra nét sinh họat hàng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả:
-"Một mai"
-"Một cuốc"
-"Một cần câu"
-"Xuân tắm hồ sen"
-"Đông ăn giá"
-"Thu ăn măng trúc"
-"Hạ tắm áo"
Câu 3:
-Phép tu từ trong hai câu thơ trên :"Một mai","Một cuốc","Một cần câu"
-Tác dụng:
-Tăng sự sinh động và hấp dẫn cho câu thơ
-Tăng sức diễn đạt, nhịp điệu trong câu thơ
- Thể hiện sự yên bình trong cuộc sống ,thanh thản trong tâm hồn
Câu 4:
Quan niệm của tác giả về "dại-khôn" là một quan niệm cao cả, đáng trân trọng, ông mạng một quan niệm trương tự tác gia Nguyễn Trãi. Ông nêu cao cuộc sống bình yên, hưởng thụ cãi tĩnh khi sử dụng từ "dại" để miêu tả.Còn từ "khôn",ông dùng để chỉ những người ngu dốt chọn cuộc sống sô bồ, tấp nập. Ta có thể thấy sự đối lập trong cách sử dụng từ ngữ, từ" Dại" ông lại dùng để miểu tả kẻ khôn, ngược lại kể ngu lại được ông miêu tả bằng từ " Khôn"
Câu 5:
Qua bài thơ Nhàn, ta cảm nhận rõ vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm là một con người thanh cao, giản dị và giàu trí tuệ. Ông lựa chọn lối sống “nhàn”, hòa mình với thiên nhiên, tránh xa danh lợi tầm thường. Đó không phải là sự trốn tránh cuộc đời mà là thái độ sống chủ động, biết giữ gìn nhân cách và phẩm giá. Ở ông còn toát lên sự ung dung, tự tại và hài lòng với những điều bình dị. Qua đó, ta càng thêm trân trọng một nhân cách lớn, sống thanh sạch và đầy bản lĩnh giữa cuộc đời.